mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin trên toàn thế giới nói
chung và các quốc gia nói riêng đã trực tiếp hỗ trợ không Ýt cho các ngành
khoa học khác phát triển. Có thể khẳng định, trong nền kinh tế tri thức hiện
nay công nghệ thông tin chính là chiếc chỡa khoỏ để mở rộng không gian học
tập, là cầu nối giữa các nền văn hoá, tri thức, xã hội, khoa học kỹ thuật Xét
về mặt kinh tế - xã hội công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc
điều tiết và phát triển. Trong quản lý kinh tế, công nghệ thông tin giúp cho
các nhà quản lý nắm bắt thông tin để điều chỉnh kịp thời mục tiêu kế hoạch
nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu
dùng giúp cho nhà quản lý kinh tế điều hành dễ dàng và hiệu quả góp phần
giảm bớt chi phí hành chính làm tăng lợi nhuận cho đơn vị. Trong công tác
xã hội công nghệ thông tin như chiếc cầu nối làm mọi người gắn bó với nhau
và hiểu nhau hơn, giỳp cỏc nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính
sách có lợi cho việc bình ổn xã hội, ngoài ra nú cũn giỳp cho việc phổ biến
những chính sách đó đến từng vùng, từng người dân tạo hiệu quả cho việc
tuyên truyền, ngược lại việc tiếp thu những chính sách đó thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng sẽ tránh được những sai lầm không cần thiết
khi thông qua nhiều khâu trung gian. Trong công tác đối ngoại công nghệ
thông tin nhanh chóng giỳp cỏc quốc gia hiểu nhau, xích lại gần nhau hơn,
chuyển những xung đột từ đối đầu thành đối thoại tạo cho thế giới và khu vực
có một nền hoà bình mới. Đối với công tác quản lý đào tạo nói riêng, công
nghệ thông tin giúp quản lý được khoa học và hiệu quả hơn, cụ thể là nhờ
máy móc thiết bị và các phần mềm chuyên dụng nó sẽ giúp việc quản lý đào
tạo được khoa học, chính xác, tiết kiệm thời gian, con người và kinh phí vv
Cũng chính từ lẽ đó mà hiện nay đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới
cũng mong muốn tạo cho mình những điều kiện tốt nhất về khoa học kỹ thuật
trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin, mà ở đây chính là phát triển cơ sở
1
hạ tầng để nâng công nghệ thông tin lên tầm cao mới, trong đó nhiệm vụ đặt
thuộc Tổng cục hàng không dân dụng, được thành lập theo Quyết định số 225
/ CT ngày 29 / 08 / 1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở tài sản
của Cục hàng không hiện nay, ngoài ra cũn cú nhiệm vụ là đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đặc
biệt là sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của Tổng công ty HKVN
trong giai đoạn hiện nay và lâu dài.
Qua các thời kỳ xây dựng và trưởng thành, Tổng công ty HKVN càng
hiểu rõ việc đầu tư vào con người là loại đầu tư vốn rất tốn kém nhưng hiệu
quả của nó thì khó có loại đầu tư nào sánh kịp. Trong quá trình hoạt động,
Tổng công ty HKVN đã xây dựng hệ thống đào tạo của Tổng công ty
HKVN có chức năng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân
lực có chất lượng cao. Ngoài ra, hệ thống đào tạo của Tổng công ty HKVN
có nhiệm vụ xây dựng chiến lược, chính sách đào tạo, huấn luyện và quản
lý, chỉ đạo việc thực hiện các kế hoạch, chương trình đào tạo huấn luyện đã
được phê duyệt trong toàn Tổng công ty HKVN; đồng thời là đại diện của
Tổng công ty HKVN trong mối liên hệ ngành dọc với các cơ quan quản lý
đào tạo cấp trên và các cơ quan quản lý đào tạo, các tổ chức đào tạo trong
và ngoài nước vỡ vậy việc quản lý hoạt động đào tạo là tương đối khó
khăn, nhất là hiện nay công tác quản lý kết quả đào tạo cho toàn bộ hệ thống
đào tạo Tổng công ty HKVN vẫn chủ yếu sử dụng nhờ vào sức người và
chưa thực sự được hỗ trợ bởi hệ thống mạng CNTT, thiết bị khoa học công
nghệ hiện đại.
Trong thực tế sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý, quản lý đào
tạo chưa nhiều và chủ yếu sử dụng máy vi tính như một công cụ đánh máy
văn bản. Đối với Tổng công ty HKVN nhiều công việc quản lý đào tạo rất
cần thông qua sử dụng công nghệ thông tin theo một hệ thống khoa học. Xuất
phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả mạnh dạn lùa chọn đề tài “Biện
pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động đào tạo của
3
Tổng công ty HKVN” với mong muốn góp phần vào việc nâng cao hiệu quả
CNTT vào quản lý hoạt động đào tạo của hệ thống đào tạo TCT HKVN.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp sau:
7.1. Nhóm ph ng pháp nghiên c u lý lu n:ươ ứ ậ
7.1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết và hình thành giả
thuyết: Thông qua việc đọc tài liệu, phân tích và tổng hợp những vấn đề lý
thuyết có liên quan, nhằm hiểu biết sâu sắc hơn bản chất, những dấu hiệu đặc
thù của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó sắp xếp chúng thành một hệ thống
trong mối quan hệ biện chứng để hình thành giả thuyết khoa học.
7.1.2. Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: Phương pháp
này nhằm sắp xếp các thông tin lý luận đã thu được thành những đơn vị kiến
thức cú cựng bản chất, để từ đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, cho phép
thấy được toàn cảnh hệ thống tri thức khoa học thuộc vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1. Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát ứng dụng CNTT vào
hoạt động đào tạo của Tổng công ty HKVN, nhằm thu thập những thông tin
thực tiễn chính xác.
7.2.2. Phương pháp điều tra: Dùng phiếu hỏi, phiếu xin ý kiến để thu
thập ý kiến của giáo viên, cán bộ quản lý trong hệ thống đào tạo của Tổng
công ty HKVN về thực trạng và các biện pháp ứng dụng CNTT vào quản lý
hoạt động đào tạo của Tổng công ty HKVN.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động và tổng kết kinh
nghiệm: Nghiờn cứu các sản phẩm hoạt động về việc ứng dông CNTT vào
quản lý hoạt động đào tạo. Qua đó, tổng kết các kinh nghiệm từ việc ứng
dụng CNTT vào quản lý hoạt động đào tạo của TCT HKVN.
5
7.2.4. Phng phỏp chuyờn gia: Thu thp, xin ý kin ca cỏc chuyờn
gia, cỏc cỏn b qun lý, giỏo viờn cú thụng tin v vn nghiờn cu nhm
tng tin cy ca kt qu iu tra.
7.3. Phng phỏp thng kờ toỏn hc: thc hin ti ny tỏc gi
một số mạng thông tin quốc tế”. Ngày 17/10/2000, chỉ thị số 58 - CT/TW của
Bộ chính trị nêu rõ về việc: “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại húa” Thực hiện các
chủ trương của Đảng và Nhà nước, thời gian qua đã có nhiều bài viết, các
cuộc hội thảo và đề tài khoa học nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong lĩnh
vực giáo dục ở nước ta, cụ thể như:
- Bài viết “Ứng dông CNTT trong giáo dục - 8 bài học kinh nghiệm
quốc tế” của Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam;
- Dự án “Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục SREM”;
- “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để đổi mới giáo dục
và đào tạo ở Việt Nam” của GS. TSKH Đỗ Trung Tá;
- “Đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông
tin” của Lưu Anh Kỳ;
- “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông Việt
Nam” - Đề tài NCKH cấp Bộ, mã số: B2003 - 49-42TĐ/ Đào Thái Lai;
- “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy từ xa phù hợp với thực
tế của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I” - Đề tài NCKH cấp
7
Bộ, mã số: (2006);
- Hội thảo khoa học toàn quốc “Các giải pháp công nghệ và quản lý
trong ứng dụng CNTT & TT vào đổi mới phương pháp dạy - học”;
- Hội thảo khoa học nâng cao chất lượng đào tạo tại ĐHQG Hà Nội năm 2000;
- Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT 2/ 2003;
- Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông ICT 9/2004;
- Hội thảo khoa học “nghiên cứu và phát triển E-learning” do Viện Công
nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách
khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng
dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam;
cầu của từng giai đoạn phát triển giáo dục hoặc theo yêu cầu của từng cơ sở
đào tạo. Các nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu trờn đó tập trung
vào các vấn đề sau:
- Tăng cường quản lý quá trình đào tạo
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu về biện pháp tăng cường
ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo của hệ thống đào tạo
Tổng công ty HKVN, với qui mô đào tạo ngày càng phát triển, để đảm bảo
chất lượng hiệu quả cao trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực, có kỹ năng
nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phục vụ ngành hàng không. Đó cũng là lý do giỳp
thờm cho tác giả quyết định chọn cho mình vấn đề nghiên cứu như đã trình
bày ở trên
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Khái niệm quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội, hoạt động quản lý được hình thành từ sự phân công hợp tác
9
lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng với nhu cầu hướng tới đạt
hiệu quả tốt hơn. Do vậy xuất hiện người quản lý và sự quản lý.
Hoạt động quản lý không thể không nhắc tới tư tưởng sâu sắc của Cỏc
Mỏc đó viết: ”Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì Ýt nhiều cũng cần đến một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận
động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình
điều khiển lấy mỡnh, cũn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Có thể
hiểu quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hướng dẫn, là phối hợp
quá trình hoạt động của con người trong các tổ chức xã hội.
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau người ta đưa ra các định nghĩa khác
- Theo PGS.TS Trần Quốc Thành về quan niệm truyền thống: “Quản lý
là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản
lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động
để bộ máy đạt tới mục tiêu đó xỏc định”[17, tr5]; ở góc độ chính trị xã hội
“Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Quản lý được xem là tổ
hợp các cách thức, phương thức tác động vào đối tượng để phát huy khả năng
của đối tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội” [25, tr5]. Theo góc độ
hành động: “Quản lý là quá trình điều khiển, Chủ thể quản lý điều khiển hoạt
động của người dưới quyền và các đối tượng khác để đạt tới đích đặt ra” [01,
tr.6]. Quan niệm hiện nay “Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm
định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiờu” [07; tr.6].
Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công
tác quản lý. Hiệu quả đó phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể quản lý, khách
thể quản lý và mục đích công tác quản lý nhờ công cụ và phương pháp quản
lý. Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý có thể do chủ thể quản
lý đề ra, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do sù cam kết, thỏa thuận
11
giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tác động
quản lý tương hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Từ những khái niệm “Quản lý “nêu trên có thể khái quát như sau:
Quản lý là sự tác động một cách liên tục có tổ chức, có định hướng
của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các
yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt
động của cỏc khõu, cỏc cấp sao cho phù hợp với quy luật để đạt đến mục tiêu
đã xác định.
Như vậy ta có thể thấy rõ các yếu tố của quản lý, đó là: Chủ thể quản
lý, đối tượng bị quản lý, mục tiêu quản lý, nội dung quản lý và công cụ,
phương pháp quản lý. Các yếu tố của quản lý này gắn bó chặt chẽ tạo nên
hoạt động của bộ máy và được thể hiện trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1. Các yếu tố quản lý
tin ngược để kiểm soát hoạt động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời các
sai sót, lệch lạc để bộ máy đạt được mục tiêu.
Các chức năng quản lý có mối quan hệ biện chứng với nhau và được
minh họa theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2. Mối quan hệ các chức năng quản lý
Bốn chức năng trờn giỳp cho nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ của
mình. Để thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình người quản lý phải luôn nắm
bắt thông tin, xử lý thông tin và tiến hành việc quản lý theo 4 chức năng trên
để dẫn dắt tổ chức, cơ sở đến mục tiêu cần đạt được trên cơ sở thông tin là
mạch máu của quản lý.
Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có sự tham gia
của hoạt động quản lý như: Quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý
13
LËp kÕ ho¹ch
ChØ ®¹o Tæ chøc
KiÓm tra
doanh nghiệp mỗi lĩnh vực quản lý có đặc thù riêng song nó đều có những
nét cơ bản, đặc trưng chung của cả hoạt động quản lý và chính hoạt động
quản lý luôn góp phần quyết định vào việc nâng cao chất lượng hiệu quả của
từng tổ chức, của từng con người trong một hệ thống nhất định.
Quản lý bao giê cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và có liên
quan đến nhiều yếu tố. Vì vậy Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là
một nghệ thuật và hoạt động quản lý vừa có tính khách quan vừa có tính chủ
quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rói chỳng là
những mặt đối lập trong một thể thống nhất.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Các nhà lý luận đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra những
khái niệm về quản lý giáo dục dưới những góc độ khác nhau:
Theo chuyên gia giáo dục Liờn Xụ M.I. Kụnđacốp: “Quản lý giáo
dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch
dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. [11,tr10].
Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/tớnh trồi của
hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm
sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động [17,tr10].
Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ
thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một
cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân vật, vật lực, tài lực) phục vụ
cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
[24,tr10].
Đối với cấp vi mô:
Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và
15
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [8,tr.12].
Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục (vi mô) thực chất là những tác
động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể
giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm
hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo
của nhà trường [13,tr.12].
Quản lý giáo dục gồm 3 lĩnh vực:
+ Quản lý chính sách gồm: Hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực
hiện chính sách và phân bổ nguồn lực.
+ Quản lý hành chính gồm: Sử dụng nguồn lực tài chính, con người và
vật chất.
+ Quản lý sư phạm gồm: Sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học,
quá trình giáo dục, thành tích và kết quả học tập.
dạy và hoạt động học diễn ra ở các cấp học, các trình độ đào tạo và tất cả các
cơ sở giáo dục.
Tóm lại: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã
hội. Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ
thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
1.2.3 Quản lý hoạt động đào tạo
* Hoạt động đào tạo:
Hoạt động đào tạo trong giáo dục là một hoạt động có tính chuyên biệt
cao, hoạt động này có mục đích và các mục tiêu xác định. Hoạt động đào tạo
cũng dự tính trước việc lùa chọn các nội dung, phương pháp, hình thức và
phương tiện để thực hiện mục đích, mục tiêu một cách có hiệu quả nhất.
Hoạt động đào tạo với tư cách là một hoạt động phát triển con người có
17
tác động qua lại tích cực đối với các yếu tố di truyền và môi trường.
Để mô hình hóa “cơ sở đào tạo” người ta thường quan tâm đến mười
yếu tố hạt nhân hình thành và phát triển hoạt động đào tạo bao gồm: Mục tiêu
đào tạo; Nội dung đào tạo (tri thức); Phương pháp đào tạo; Hình thức tổ chức
đào tạo; Lực lượng đào tạo (thầy); Đối tượng đào tạo (trò); Điều kiện đào tạo;
Môi trường đào tạo; Quy chế đào tạo; Bộ máy đào tạo. Mười nhân tố này liên
hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau tạo nên sự
thống nhất biện chứng giữa chỳng. Cỏc nhân tố đó đều hướng vào trung tâm
đó là sự phát triển của hoạt động đào tạo.
Do đó, công tác quản lý hoạt động đào tạo của cơ sở đào tạo là hoạt
động chỉ huy, điều khiển các yếu tố và mối liên hệ đó nhằm đưa các hoạt
động đào tạo của cơ sở đào tạo vận hành theo đúng quy luật.
Từ các quan niệm nêu trên có thể hiểu: Hoạt động đào tạo là một quá
trình làm cho người học trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn
- Các nhà điều khiển học hiểu thông tin là một phạm trù phản ánh nội
dung và hình thức vận động của các sự vật và hiện tượng.
- Các nhà triết học quan niệm thông tin là một phạm trù triết học phản
ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy;
hay thông tin là quá trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh
thành hiểu biết, thành tri thức.
- Các nhà xã hội hiểu thông tin là sự phản ánh nội dung và hình thức
vận động, liên hệ giữa các đối tượng, các yếu tố của hệ thống kinh tế - xã hội
và giữa hệ thống đó với môi trường.
- Các nhà chính khách định nghĩa thông tin là sự truyền tải văn minh
nhân loại và dân chủ xã hội.
- Theo tài liệu “Hệ thống thông tin quản lý giáo dục - Mét số vấn đề lí
luận và thực tiễn” của tác giả Vương Thanh Hương: Thông tin được hiểu là
những tri thức, tin tức được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có Ých
cho việc ra quyết định. Thông tin là những hiểu biết đã được chỉnh lý và gia
19
công [02, tr.11].
Nhìn chung phần lớn đều hiểu thông tin là tất cả những gì có thể cung
cấp cho con người những hiểu biết về đối tượng được quan tâm trong tự nhiên
và xã hội, về những sự kiện diễn ra trong không gian và thời gian, về những
vấn đề chủ quan và khách quan nhằm giúp con người trên cơ sở đó có thể đưa
ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời, có hiệu quả và có ý nghĩa. Thông
tin bao hàm những thu thập có tính ghi chép, thống kê, tổng kết, những nhận
định, dự báo, những dự kiến, kế hoạch, chương trỡnh, Thụng tin là thuộc tính
của sự vật, đặc trưng cho độ bất định của sự vật đó. Thông tin là tất cả những
gì có thể giúp cho con người hiểu đúng về đối tượng mà họ quan tâm.
Thông tin là kết quả được xử lí từ dữ liệu thông qua trí tuệ của con
người và các phương tiện, công cụ hỗ trợ. Quá trình xử lí dữ liệu thành thông
tin có thể biểu diễn như sau:
Sơ đồ 3. Hệ thống thông tin
trữ và trao đổi thông tin số phục vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội.
* Công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin và truyền thông trong một chõng mực nào đó có
thể coi là sự giao nhau của 3 ngành Điện tử; Tin học; Viễn thông. CNTT&TT
kết hợp với xu hướng toàn cầu hóa góp phần hình thành kinh tế tri thức hay
kinh tế “mạng”, đã dẫn đến mối quan hệ khăng khít không thể tách rời giữa
máy tính với mạng thông tin.
Con người có thể tự mình xử lí khi thông tin, dữ liệu còn Ýt, song ngày
nay, với sự phát triển của xã hội, các dữ liệu, thông tin ngày càng nhiều,
khiến con người khó khăn, lúng túng trong việc xử lí thông tin. Máy tính điện
tử đó giỳp con người xử lí thông tin một cách tự động và hợp lý, điều đó đó
giỳp con người tiết kiện thời gian, công sức và tiền của rất nhiều.
* Mạng máy tính
Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, máy tính điện tử đã phát triển
mạnh mẽ và thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Ngày nay
máy tính không chỉ đóng vai trò tính toán đơn thuần mà còn là một công cụ,
một thiết bị không thể thiếu trong việc giải quyết những công việc hàng ngày
của con người, đặc biệt là lĩnh vực tiếp nhận, xử lí và lưu trữ thông tin. Hơn
nữa nhu cầu trao đổi, chia sẻ và khai thác thông tin ngày càng trở nên cấp
thiết, vì vậy việt kết nối các máy tính đơn lẻ, các thiết bị tin học với nhau để
cùng chia sẻ và cùng khai thác đã được con người nghĩ tới. Từ đó kỹ thuật
kết nối mạng đã được hình thành và phát triển.
21
Mạng máy tính là thuật ngữ để chỉ các máy tính được kết nối với nhau
thông qua các thiết bị kết nối trên cơ sở các môi trường kết nối với mục đích
chia sẻ tài nguyên dùng chung như chia sẻ thiết bị, chia sẻ phần mềm dùng
chung, chia sẻ dữ liệu
Các mạng máy tính được phân loại dựa trờn cỏc tiêu chí về không gian
và mục đích sử dụng gồm có: Mạng LAN, mạng WAN, mạng Internet.
Mạng LAN (Local Area Network) là mạng máy tính trong đó các máy
các tổ chức, các cơ quan, các doanh nghiệp cho đến các trường học. Việc sử
dụng máy tính nh mét công cụ không thể thiếu cho công việc không còn xa lạ
đối với con người, hơn nữa đối với mỗi công việc khác nhau người ta sử
dụng các phần mềm vào việc quản lý nh:
- Phần mềm kế toán: MISA, FAST, BRAVO, Esoft Financials,
- Phần mềm quản lý nhân sự, tiền lương: SSP-HRM, QLCBKH
- Phần mềm quản lý đào tạo: EMIS, Edusoft
Ngoài ra, các cơ quan tổ chức còn xây dựng các phần mềm quản lý riêng
đặc thù cho mỗi lĩnh vực công tác riêng của từng hệ thống hay đơn vị.
Việc sử dụng các phần mềm quản lý và ứng dụng CNTT & TT trong việc
khai thác các thông tin trên Internet đều phục vụ cho công tác quản lý. Để tìm
kiếm các thông tin trên mạng có thể sử dụng các công cụ tìm kiếm như
Google, Yahoo, Seeck
Sớm nhận thức được những ưu điểm, những khả năng lớn của CNTT
trong công tác quản lý, chóng ta đó cú những nghiên cứu và ứng dụng vào
cỏc khõu trong quy trình quản lý như: Phần mềm quản lý tuyển sinh, phần
mềm quản lý đào tạo, phần mềm quản lý cán bộ khoa học
1.3 Ứng dông CNTT trong quản lý giáo dục - đào tạo
1.3.1 Quan điểm chỉ đạo chung của Đảng, Nhà nước, các cơ quan
ban ngành vÒ ứng dụng CNTT
- Để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của ngành CNTT ngày 29/06/2006
Quốc hội nước Cụng hũa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê duyệt và thông
23
qua luật Công nghệ thông tin sè 67/2006/QHXI nhằm tạo hành lang pháp lý
cho việc phát triển, ứng dụng và khai thác trong lĩnh vực CNTT.
Tại “Điều 5: Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin” nêu rõ:
“1. Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển công
giáo dục”
Như vậy các quan điểm của Đảng và nhà nước ta thể hiện trong các Luật,
Chỉ thị, Nghị quyết đã khẳng định vị trí vai trò to lớn của ứng dụng và phát
triển CNTT ở nước ta, góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh
thần của toàn dân téc, thúc đẩy sự nghiệp thực hiện CNH, HĐH.
Từ những quan điểm, những vấn đề đã nêu trên, việc ứng dụng CNTT
vào quản lý đặc biệt là quản lý GD&ĐT là hết sức bức thiết khi mà nền kinh
tế đang chuyển dịch theo hướng nền kinh tế tri thức, kinh tế thông tin có định
hướng xã hội chủ nghĩa.
* Kế thừa có chọn lọc những giải pháp đã được áp dụng. Căn cứ vào cơ
sở lý luận của đề tài và kế thừa những biện pháp ứng dụng CNTT mà TCT
HKVN đã áp dụng trong những năm qua để đề xuất các biện pháp ứng dụng
CNTT trong quản lý HĐ ĐT của TCT HKVN.
Sự kế thừa đòi hỏi không phải là sự sao chép, áp dụng y nguyên mà là
sự kế thừa có chọn lọc và cải tiến các yếu tố tích cực của các biện pháp đó cú
cho phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo của
TCT HKVN trong giai đoạn mới.
1.3.2. Vai trò của CNTT trong quản lý giáo dục
Thế kỷ 21 là thế kỷ nổi trội với xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế tri
thức, nền kinh tế điện tử và đặc biệt là nền công nghệ cao: Công nghệ sinh
học (công nghệ gen, tế bào, vi sinh ), công nghệ vật liệu (công nghệ vật liệu
composit, vật liệu siêu dẫn ), công nghệ năng lượng (năng lượng mặt trời,
25