1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN GIÁO DỤC HỌC
(Dùng cho đối tượng ôn thi đầu vào sau đại học)
2
A. NỘI DUNG
I. Lý luận chung
1. Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
- Hiện tượng xã hội: Là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội
loài người, nó phản ánh những mối quan hệ, những dạng hoạt động khác nhau
của con người.
- Cùng với sự xuất hiện xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện hiện tượng
GD: Người lớn dạy cho trẻ em những gì họ đã tích lũy, ngược lại, trẻ em học ở
người lớn những điều đó. Lúc đầu công việc này được thực hiện tự phát, sau đó
được tổ chức một cách tự giác, ta gọi đó là hiện tượng GD.
- Dấu hiện bản chất của hiện tượng này: Được thể hiện ở “Sự truyền đạt và
lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử”. Chủ thể của sự truyền đạt là thế hệ đi
trước; chủ thể của sự lĩnh hội là thế hệ đi sau; nội dung của truyền đạt là kinh
nghiệm xã hội-lịch sử.
- Kinh nghiệm xã hội: Là một hệ thống những tri thức, hệ thống phương thức,
cách thức tiến hành hành động, hệ thống thái độ trong việc đánh giá cảm xúc,
giá trị đối với nền văn hóa do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử.
+ Đối với cá nhân: Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch
sử mà mỗi cá nhân có thể tái tạo ra năng lực người cho bản thân, nhờ đó có sự
phát triển tâm lý, ý thức và phát triển nhân cách.
+ Đối với XH: Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội này mà thế hệ đi sau có thể
bảo tồn và phát triển nền văn hóa. Như vậy, một XH muốn tồn tại và phát triển
thì XH ấy phải thực hiện chức năng GD. Đây chính là một tính quy luật của sự
phát triển, tiến bộ XH.
giai cấp, các nhóm, các giai tầng trong XH, góp phần làm thay đổi tính chất, cơ
cấu của chúng, làm cho quan hệ sản xuất ngày càng trở nên cần thiết, thể hiện
như sau:
- Thông qua việc nâng cao trình độ học vấn cho cá nhân, GD đã tạo điều kiện
cho mỗi người có thể chuyển đổi giai cấp. Chính điều đó đã tác động đến cơ cấu
giai cấp và nhóm xã hội sẽ thay đổi.
4
- Bằng việc nâng cao dân trí, GD tác động đến từng thành viên của giai cấp, của
các nhóm XH và thông qua những thành viên này làm cho giai cấp tiếp cận được
với văn minh chung của nhân loại.
- Cũng thông qua việc nâng cao dân trí, GD nâng cao nhận thức của công dân,
tạo điều kiện để họ có hành vi đúng trong quan hệ ứng xử, nhờ đó mà quan hệ
giữa con người với con người ngày càng trở nên thuần khiết hơn.
2.3. Chức năng văn hóa- xã hội
GD có tác dụng to lớn trong việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn
dân, xây dựng một lối sống phổ biến trong toàn XH. Trình độ văn hóa của XH
thông qua phổ cập GD ngày càng được nâng cao dần, qua đó mà tạo ra nguồn
nhân lực đông đảo với chất lượng cao, đồng thời có điều kiện phát hiện và bồi
dưỡng nhân tài.
“Một dân tộc không được GD- dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một
cá nhân không được GD- cá nhân đó sẽ bị xã hội loại bỏ”- A.Toffer
Kết luận chung:
- Cả 3 chức năng trên đều có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng, đan xen, hỗ trợ
cho nhau. Cả 3 chức năng đều quan trọng nhưng trong bối cảnh hiện nay thì
chức năng KT-XH là quan trọng nhất.
- GD thông qua các chức năng của mình đã tác động sâu sắc và toàn diện tới các
lĩnh vực khác nhau của đời sống XH. Điều này khẳng định GD là nhân tố, là
động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển XH.
- Nhận thức rõ vai trò của GD với sự phát triển XH nên Đảng và Nhà nước ta đã
có quan điểm PT GD rất đúng đắn là: “Coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu”;
những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học
phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
4. Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có
những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy
năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung
cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
6
- Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp
Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện
cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học
tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ
năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính
sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.
Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ
có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.
- Mục tiêu của giáo dục đại học
1. Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính
trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành
nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ
năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên
ngành được đào tạo.
3. Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn
và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và
mối quan hệ của bản thân với gia đình, xã hội, công việc và ngay cả với tự
nhiên. Đó là một mặt của nhân cách, biểu hiện và được đánh giá qua hành vi.
4. Các con đường GD ở nhà trường Phổ thông
Con đường giáo dục được hiểu là cách thức hoạt động giáo dục có mục
đích, thông qua đó góp phần phát triển nhân cách người được giáo dục.
Các con đường giáo dục gồm có:
- Giáo dục thông qua dạy học;
- Giáo dục thông qua tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng
- Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể;
8
- Tự tu dưỡng
4.1. Giáo dục thông qua dạy học
- Một trong những con đường quan trọng nhất để giáo dục thế hệ trẻ là
đưa học sinh vào học tập trong nhà trường.
+ Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, có nội dung chương
trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm
đã được đào tạo thực hiện
+ Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có một tập thể học sinh
cùng nhau học tập, rèn luyện và tu dưỡng.
- Trong nhà trường, học sinh được trang bị một khối lượng lớn tri thức
khoa học, được tiếp thụ những khái niệm đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, những quy
tắc, những chuẩn mực xã hội qua các môn học. Nhờ học tập và thực hành theo
các chương trình nội, ngoại khóa mà kỹ năng lao động trí óc và chân tay được
hình thành, trí tuệ được mở mang, nhân cách được hoàn thiện.
4.2. Giáo dục thông qua tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng
Các dạng hoạt động của con người bao gồm:
- Vui chơi;
- Lao động sản xuất;
- Hoạt động xã hội…
* Vui chơi: Là hình thức hoạt động giải trí nhưng có ý nghĩa giáo dục to
xã hội được hình thành. Thu hút học sinh vào các hoạt động xã hội phong phú và
đa dạng đó chính là con đường tổ chức giáo dục có hiệu quả.
4.3. Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể
- Tổ chức cho học sinh sinh hoạt tập thể là một hoạt động giáo dục quan
trọng của nhà trường.
+ Chế độ sinh hoạt tập thể hợp lý, với kỷ luật nghiêm, hoạt động có kế
hoạch, có tổ chức và nề nếp tạo nên thói quen sống có văn hóa, hình thành ý chí
và nghị lực.
+ Dư luận tập thể lành mạnh luôn trợ giúp con người nhận thức những
điều tốt đẹp, điều chỉnh hành vi cuộc sống có văn hóa.
10
- Trong cuộc sống tập thể, các cá nhân cùng nhau hoạt động, tinh thần
đoàn kết, tình thân ái, tính hợp tác, cộng đồng được hình thành, đó là những
phẩm chất quan trọng của nhân cách.
- Trong sinh hoạt tập thể, một mặt các cá nhân tác động lẫn nhau, mặt
khác là sự tác động của nhà sư phạm qua tập thể, tạo thành tác động đổng hợp
có tác dụng giáo dục rất lớn. Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo
dục con người, tổ chức tốt các hoạt động tập thể là con đường giáo dục đúng
đắn.
4.4. Tự tu dưỡng (tự giáo dục)
- Tự tu dưỡng biểu hiện ý thức và tính tích cực cao nhất của cá nhân đối
với cuộc sống.
- Tự tu dưỡng được thực hiện khi cá nhân đã đạt tới một trình độ phát
triển nhất định, khi đã tích lũy được những kinh nghiệm cuộc sống, những tri
thức phong phú.
- Tự tu dưỡng là kết quả của quá trình giáo dục, là sản phẩm của nhận
thức và sự tạo lập các thói quen hành vi, là bước tiếp theo và quyết định của quá
trình giáo dục.
- Tự giáo dục bắt đầu từ việc xây dựng các mục tiêu lý tưởng cho tương
lai, tiếp đó là tìm các biện pháp và quyết tâm thực hiện mục tiêu đã xác định.
những biến đổi của các điều kiện tồn tại của mình, tạo khả năng cho con người
hoạt động có hiệu quả trong một số lĩnh vực nhất định.
- Tuy nhiên, những nhân tố bẩm sinh di truyền mặc dù có vai trò quan trọng
trong sự PT nhân cách, nhưng những tính chất được di truyền chỉ đặc trưng cho
những lĩnh vực hoạt động hết sức rộng rãi, bao quát, chúng không định hướng
vào một lĩnh vực hoạt động hay sáng tạo cụ thể nào. Việc định hướng này là do
những điều kiện lịch sử- XH cụ thể và do trình độ phát triển của loại hình hoạt
động lao động, nghệ thuật, khoa học nhất định quyết định, đặc biệt là do tính
tích cực hoạt động của cá nhân.
c) KLSP:
- Các nhà GD nên quan tâm đúng mức đến sức sống vốn có trong bản chất tự
nhiên của con người, cần sớm xác định tính chất và phương hướng của những
12
sức sống đó dưới dạng những tư chất để chăm sóc, khai thác, phát huy kịp thời
nhằm phát triển tài năng của trẻ.
- Nhận thức đúng đắn vai trò của yếu tố di truyền bẩm sinh đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách để có thái độ đúng đắn trước những học thuyết sai lầm
như thuyết định mệnh do di truyền, thuyết sinh học hóa GD hoặc những chính
sách GD không đúng đắn.
5.2.2. Yếu tố môi trường
a) Khái niệm: Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự
nhiên và XH xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con
người.
Có các loại môi trường:
- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các ĐK tự nhiên- hệ sinh thái phục vụ cho hoạt
động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất và vui chơi giải trí của con
người.
- Môi trường XH: Bao gồm môi trường chính trị, môi trường sản xuất- kinh tế,
môi trường sinh hoạt XH và môi trường văn hóa.
b) Vai trò:
hiệu quả các mục đích đã đề ra.
- GD có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh- di
truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được.
- GD có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật, nó có thể bù
đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người.
- GD còn có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển
theo chiều hướng mong muốn của XH. Đó chính là hiệu quả của công tác GD lại
đối với trẻ em hư và những người phạm pháp.
- Không giống với những nhân tố khác, GD không chỉ thích ứng mà còn có thể
đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển. Điều đó có giá trị định hướng cho
việc xây dựng mô hình nhân cách của con người Việt Nam với tư cách là mục
tiêu và động lực của sự PT KT- XH.
14
Thực tế GD cũng chứng minh rằng: Sự phát triển tâm lý cảu trẻ em chỉ có
thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những ĐK của GD và DH. Điều đó càng
chứng tỏ được tầm quan trọng của GD. GD, DH sẽ tạo nên sự phát triển nhân
cách khi trong quá trình ấy, những sức mạnh của bản thân trẻ được thúc đẩy, khi
nhu cầu, động cơ, hứng thú của trẻ được chú ý, khi GD và DH phù hợp với
những quy luật bên trong của sự PT cá nhân.
c) KLSP:
- Những yêu cầu của nhà trường, nhà GD, của môi trường GD xung quanh đề ra
cho trẻ phải không ngừng tăng dần mức độ phức tạp và khó khăn. Như vậy mới
kích thích được sự PT trí tuệ của trẻ.
- GD và DH một mặt phải dựa trên sự phát triển đã đạt được của học sinh, mặt
khác phải đi trước sự phát triển trí tuệ, kéo sự phát triển ấy tiến lên.
- Chú ý kích thích hoạt động học tập của học sinh, thường xuyên tổ chức các
hoạt động phong phú cho học sinh tham gia. Chính thông qua hoạt động và giao
tiếp ấy mà trẻ ngày càng phát triển về tâm lý, càng nhận thức thế giới một cách
sâu sắc hơn.
- Đánh giá đúng mức vai trò của GD trong mối quan hệ với các yếu tố khác.
- Đảm bảo tính mềm dẻo, tính liên tục, liên thông nhằm đáp ứng nhu cầu học tập
suốt đời của công dân.
6.3. Hệ thống GDQD Việt Nam
Tại điều 4 Luật GD 2009 sửa đổi bổ sung quy định như sau:
1. Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường
xuyên.
2. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao
gồm:
a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
16
d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học)
đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
7. Đặc điểm của lao động sư phạm
7.1. Đặc điểm lao động sư phạm (LĐSP) của GV
a) Mục đích của LĐSP:
Là mục đích của QTGD tổng thể: GD thế hệ trẻ một cách toàn diện và hài hòa,
chuẩn bị cho họ những phẩm chất và năng lực cần thiết để bước vào đời theo
yêu cầu của XH.
b) Đối tượng của LĐSP
Từ mục đích trên, LĐSP có đối tượng quan hệ là con người, là thế hệ trẻ đang
trưởng thành.
Để đạt được hiệu quả GD cao, người GV phải nghiên cứu và nắm chắc đối
tượng GD của mình, phải biết thiết kế và thực hiện những tác động sư phạm hợp
quy luật và hợp lý, phải tôn trọng và phát huy vai trò chủ thể của GV và HS trên
cơ sở nắm vững vai trò chủ đạo của mình.
c) Công cụ của LĐSP
Bao gồm tri thức, những dạng hoạt động mà GV thu hút HS tham gia một cách
tích cực, đặc biệt công cụ đó còn là chính nhân cách người GV.
nhiệm vụ dạy học.
– GV với hoạt động dạy và HS với hoạt động học: Trong quá trình dạy học,
giáo viênvới hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt
động học tập của người học, đảm bảo cho người học thực hiện đầy đủ và có chất
lượng những yêu cầu đã được quy định bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học.
Trong quá trình dạy học, người học vừa là khách thể (của quá trình dạy), vừa là
chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của hoạt động học. Thầy và trò cũng như hoạt
động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta sẽ
nghiên cứu kỹ mối quan hệ này ở các phần tiếp theo.
– Các môi trường có ảnh hưởng đến QTDH: Quá trình dạy học với tư cách là
một hệthống tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế - xã hội, môi trường
18
khoa học – công nghệ và những xu thế của thời đại Nếu các thành tố: mục đích
– nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, giáo viên – học sinh, kết
quả… là các thành tố bên trong quá trình dạy học thì tah2nh tố môi trường được
xem là thành tố bên ngoài của QTDH. Các môi trường này không chỉ tác động
đến hoạt động dạy học nói chúng mà còn ảnh hưởng đến tất cả các thành tố cấu
trúc bên trong QTDH. Ngược lại, QTDH phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sự vận
động đi lên của các môi trường bên ngoài.
Có thể mô hình hòa các thành tố của QTDH và mối quan hệ giữa chúng
như mô hình sau đây:
Mối quan hệ giữa QTDH với các môi trường bên ngoài là mối quan hệ
biện chứng. Mối quan hệ này phản ánh vai trò của đời sống xã hội, ảnh hưởng
trực tiếp và sâu sắc của nền kinh tế thị trường tới từng nhân tố của quá trình giáo
dục, tới chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo. Và ngược lại, sản phẩm giáo
dục – những người có tri thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, có
phẩm chất đạo đức và thái độ đúng đắn… sẽ phát huy ảnh hưởng tích cực trở lại
đối với nền kinh tế - xã hội… Với ý nghĩa đó, giáo dục có vai trò là động lực, là
điều kiện cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã xác
định :
Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi tiếng của
V.I.Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng
đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức
hiện thực khách quan”. (Bút ký Triết học – NXB Sự thật, Hà Nội 1963. Tr 189).
Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của học sinh đều
thể hiệm theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điểm xuất
phát trong quá trình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu
tượng đến cụ thể, từ đơn nhất đến khái quát và từ khái quát đến đơn nhất.
Trong thực tiễn dạy học, do không hiểu đúng công thức đó đã dẫn tới cách xây
dựng nội dung và sử dụng phương pháp dạy học không đúng, dẫn đến việc quá
đề cao vai trò của tính trực quan sinh động mà xem nhẹ vai trò của tư duy logic,
tư duy khái quát, trừu tượng…, hoặc là quá chú trọng đến nhận thức xã hội, thay
thế và xem xét nhận thức cá nhân bằng nhận thức xã hội.
20
Vậy tính độc đáo trong quá trình nhận thức của học sinh thể hiện như thế nào?
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo, tổ
chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện sư phạm nhất định nên nó có
tính độc đáo, thể hiện như sau:
+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử
và sai như quá trình nhận thức chung của loài người mà diễn ra theo con đường
đã được khám phá, được những nhà xây dựng nội dung dạy học và người giáo
viên gia công vào.
+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho
nhân loại mà là tái tạo lại tri thức của nhân loại đã tạo ra, nên cái mà họ nhận
thức được chỉ là mới đối với họ mà thôi.
+ Trong một thời gian tương đối ngắn, học sinh có thể lĩnh hội một khối lượng
tri thức rất lớn một cách thuận lợi. Chính vì vậy, trong quá trình học tập của học
sinh phải củng cố, tập vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
nhằm biến chúng thành tài sản riêng của bản thân họ.
Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quá trình nhận
một bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra, và một bên là trình độ
tri thức, trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh.
Đây là mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình dạy học, và khi mâu
thuẫn xuất hiện, dưới sự chỉ đạo của người thầy giáo học sinh độc lập giải quyết
nó, và như vậy học sinh đã nâng trình độ lên đáp ứng các nhu cầu học tập đề ra.
Song quá trình dạy học là quá trình liên tục nên các nhiệm vụ học tập mới lại đề
ra ở mức cao hơn trình độ đã đat được. Thế là mâu thuẫn lại xuất hiện và lại
được giải quyết. Cứ như vậy mà quá trình dạy học không ngừng vận động và
phát triển.
Động lực cơ bản của quá trình dạy học chính là việc giải quyết những mâu thuẫn
cơ bản đó.
Chúng ta biết rằng muốn quá trình dạy học phát triển thì quá trình học của học
sinh phải tiến triển. Vì vậy, mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học phải chuyển
hoá thành mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội tri thức của người học sinh.
22
Theo I.M.Xêsênốp, sự lĩnh hội là hoà những sản phẩm kinh nghiệm của người
khác với những kinh nghiệm của bản thân, có nghĩa là phải làm cho những điều
được mang từ ngoài vào thành tài sản bên trong của bản thân. Vì vậy mâu thuẫn
cơ bản của quá trình lĩnh hội là mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết.
Điều đã biết ở đây chính là kinh nghiệm, sự hiểu biết của bản thân; và điều chưa
biết chính là kinh nghiệm của người khác, nghĩa là tri thức mới cần lĩnh hội.
Vậy để chuyển hoá mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học thành mâu thuẫn cơ
bản của quá trình lĩnh hội tri thức của người học cần phải có ba điều kiện:
+ Mâu thuẫn phải được người học ý thức đầy đủ và sâu sắc. Họ phải nhận thức
rõ những yêu cầu được nhiệm vụ học tập đề ra, thấy hết và đánh giá đúng mức
trình độ tri thức, trình độ kỹ năng, kỹ xảo, trình độ phát triển trí tuệ hiện có của
mình. Điều đó thể hiện ở sự cảm thấy khó khăn trong nhận thức và từ đó có nhu
cầu giải quyết khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập.
+ Mâu thuẫn phải vừa sức, đúng hơn là khó khăn vừa sức. Điều đó có nghĩa là
nhiệm vụ học tập đề ra có mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng phát
- “Vậy ở đây môi trường xã hội có vai trò gì?”
Học sinh: “Tạo điều kiện cho cá nhân sống, học tập, giao tiếp, góp phần tạo nên
mục đích, động cơ cho hoạt động của cá nhân…”
- “Có phải cá nhân chịu sự tác động thụ động của môi trường hay không?”
Học sinh: “ Không, cá nhân có tác động trở lại môi trường dể cải tạo nó, làm cho
nó trở nên ngày càng tốt đẹp hơn…”
Cứ như vậy, giáo viên dẫn dắt học sinh huy động những cái đã biết của
mình đẻ giải quyết vấn đề khó khăn trong học tập. Qua đây, chính họ đã tự mình
khám phá ra tri thức chứ không tiếp nhận một cách thụ động từ giáo viên.
+ Các bước (các khâu)
+ Nguyên tắc dạy học
+ Quy luật QTDH
+ Hình thức TCDH
+ Phương pháp DH
+ Nhiệm vụ dạy học
+ Kiểm tra đánh giá
24
III. Lý luận giáo dục: Quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp)
+ Đặc điểm quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp)
+ Các khâu của QTGD
+ Nguyên tắc
+ Phương pháp
25
B. GIÁO TRÌNH
1. Giáo dục học / Phạm Viết Vượng . - H.: Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 -
233tr; 20cm
2. Giáo dục học/ Phạm Viết Vượng . - H: Đại học Sư phạm, 2008. - 418tr;
19cm