ĐỀ CƯƠNG MÔN GIÁO DỤC HỌC
Câu 1: Tại sao nói giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt ( phân tích nguồn gốc,
tính chất và các chức năng của giáo dục)
1. Nguồn gốc của giáo dục
Từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển con người phải nhận thức thế
giới khách quan và dần dần tích luỹ được những kinh nghiệm lao động và chinh phục tự
nhiên. Từ đó nảy sinh nhu cầu truyền thụ những kinh nghiệm đã tích luỹ được cho nhau.
Đây chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục.
Trong buổi đầu, giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, diễn ra đơn giản
theo lối quan sát – bắt chước, về sau giáo dục trở thành một hoạt động có ý thức. Con
người dần dần biết xác định mục đích, hoàn thiện nội dung và tìm ra các phương thức để
tổ chức quá trình giáo dục một cách có hiệu quả.
2. Các tính chất của giáo dục.
2.1. Giáo dục là một hiện tượng chỉ có ở loài người.
Giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người trên trái đất. Bản chất của
giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội giữa các thế hệ với nhau.
Giáo dục là một phương thức để duy trì và phát triển xã hội loài người.
2.2. Giáo dục có tính phổ biến và vĩnh hằng
Giáo dục là một phạm trù phổ biến vì có con người là có giáo dục. Giáo dục tồn
tại ở tất cả các chế độ xã hội, thể chế chính trị, trong mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử.
Giáo dục gắn liền với nhu cầu tái sản xuất sức lao động cho xã hội.
- Giáo dục là một phạm trù vĩnh hằng vì nó tồn tại mãi mãi với loài người, chỉ khi
nào không tồn tại loài người thì mới mất đi hiện tượng giáo dục .
2.3. Giáo dục có tính lịch sử, tính giai cấp
Giáo dục ra đời theo nhu cầu của lịch sử- xã hội. Giáo dục một mặt phản ánh trình
độ phát triển của lịch sử, bị quy định bởi trình độ phát triển của lịch sử. Mặt khác, nó lại
tác động tích cực vào sự phát triển của lịch sử. Ở mỗi giai đoạn phát triển lịch sử lại đặt
ra những yêu cầu nhất định đối với giáo dục.
Trong xã hội có giai cấp, giáo dục được sử dụng như một công cụ để duy trì và
bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị đã thực hiện quyền thống trị
của mình đối với giáo dục thông qua mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục.
hàng đầu, là động lực thúc đẩy sự phát triển KT – XH, coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư
cho sự phát triển của đất nước.
Câu 2: Quá trình giáo dục là gì? phân tích đặc trưng cấu trúc của quá trình giáo dục.
QTGD là một quá trình XH hình thành nhân cách con người, được tổ chức một
cách có mục đích và có kế hoạch, được thực hiện thông qua các hoạt động GD, được tiến
hành trong các mối quan hệ giữa nhà GD và người được GD nhằm chiếm lĩnh những
kinh nghiệm xã hội.
Quá trình giáo dục với tư cách là đối tượng của giáo dục học còn được gọi là quá
trình sư phạm tổng thể hay quá trình giáo dục theo nghĩa rộng. Quá trình này bao gồm hai
bộ phận: đó là quá trình dạy học và quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp). Hai quá trình này
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đều thực hiện chức năng chung của QTGD: hình
thành nhân cách. Tuy nhiên, mỗi quá trình bộ phận lại có chức năng trội của mình. Quá
trình giáo dục là một hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết
với nhau:
* Mục đích, nhiệm vụ giáo dục: là thành tố cơ bản, quan trọng hàng đầu, có tác
dụng định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ quá trình giáo dục. Toàn bộ
quá trình giáo dục phải hướng vào việc thực hiện có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ giáo
dục đã được xác định.
* Nội dung giáo dục: là thành tố cơ bản, làm nên nội dung hoạt động của nhà giáo
dục và người được giáo dục. Nội dung giáo dục được qui định bởi hệ thống kinh nghiệm
xã hội cần truyền đạt cho thế hệ trẻ.
2
* Phương pháp giáo dục: Là cách thức hoạt động phối hợp giữa nhà GD và người
được GD nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ GD đã đề ra.
* Nhà giáo dục: Là chủ thể của hoạt động GD. Theo quan điểm GD hiện đại, nhà
GD giữ vai trò chủ đạo, là người định hướng, thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục
cho người được giáo dục.
*Người được giáo dục: Vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của hoạt động GD. Theo
quan điểm GD hiện đại, người được GD là nhân vật trung tâm của nhà trường.
*Kết quả giáo dục: phản ánh một cách tập trung nhất ở trình độ phát triển về mặt
Quan điểm này đã khẳng định những gì cần thiết cho sự phát triển của đứa trẻ đã
tiềm ẩn trong bản thân đứa trẻ. Giáo dục chỉ làm cho những khả năng tiềm ẩn đó trở
thành hiện thực.
3
Tuy nhiên, di truyền không thể quyết định những giới hạn tiến bộ xã hội của con
người. Các phẩm chất XH trong con người khi mới sinh ra chưa có. Những phẩm chất đó
chỉ có thể có được trong quá trình hoạt động và giao lưu với người khác. Các thuộc tính
tâm lý phức tạp như ý thức, thế giới quan, tình cảm, các phẩm chất đạo đức không có
trong chương trình di truyền. Ở mỗi người quá trình hình thành nhân cách được diễn ra
trong điều kiện độc đáo, không lặp lại.
Kết luận sư phạm: Trong công tác GD nhà giáo dục phải quan tâm đúng mức đến
việc phát huy hết những tư chất, năng lực vốn có ở HS để phát triển, bồi dưỡng tài năng.
Đồng thời phải có biện pháp GD đúng đắn để bù đắp những thiệt thòi, khiếm khuyết ở trẻ
do bẩm sinh, di truyền mang lại. Cần đánh giá đúng dắn vai trò của yếu tố di truyền,
không xem nhẹ cũng không tuyệt đối hoá, để tránh những sai lầm trong nhận thức, cũng
như tổ chức các hoạt động giáo dục.
2. Yếu tố môi trường.
2.1. Khái niệm môi trường.
Môi trường được hiểu là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả các
điều kiện tự nhiên và xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, hoạt động của con
người.
Người ta phân biệt hai loại môi trường: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
- Môi trường tự nhiên là điều kiện địa lí - sinh thái. Môi trường tự nhiên có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất.
- Môi trường xã hội là điều kiện sống trong xã hội với các mối quan hệ giữa các cá
nhân với nhau và giữa các cá nhân với tập thể.
Khi nói đến ảnh hưởng của MT đến sự hình thành và phát triển nhân cách, GDH
chủ yếu nhấn mạnh đến môi trường XH vì chỉ trong môi trường XH thì con người mới có
thể phát triển những tư chất người như ngôn ngữ, tư duy, dáng đi thẳng.
2.2. Vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách.
đã tạo nên những nét tính cách riêng của từng người. Con người hoạt động như thế nào
thì nhân cách của họ được phát triển như thế ấy. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật
về sự tự thân vận động, về động lực bên trong của sự phát triển nói chung.
Từ mối quan hệ gắn bó giữa hoạt động và nhân cách, chúng ta thấy rằng: muốn
hình thành nhân cách trẻ em cần đưa các em tham gia vào các hoạt động nhất định. Nói
cách khác, để hình thành và PT nhân cách cho HS, giáo dục phải tổ chức đúng đắn các
loại hình hoạt động cho họ để họ chiếm lĩnh các kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hoá
của xã hội loài người.
Hoạt động có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của
học sinh, cho nên một trong những quy luật của giáo dục là phải thay đổi tính chất của
hoạt động, phong phú hoá nội dung, đa dạng hoá hình thức cách thức tổ chức hoạt động
và lôi cuốn trẻ em tham gia vào hoạt động một cách tự giác, tích cực.
Tuy nhiên, hoạt động của con người luôn luôn mang tính chất xã hội, tính tập thể.
Vì vậy, hoạt động luôn gắn liền với giao lưu. Trong giao lưu con người không chỉ nhận
thức từ người khác mà còn nhận thức chính bản thân mình.
Để hoạt động trở thành yếu tố quyết định, điều kiện cần:
- Cá nhân cần triệt để phát huy những yếu tố sinh học ưu việt của mình.
- Triệt để tận dụng những tác nhân tích cực của MT.
- Biết tuân thủ sự hướng dẫn tổ chức khoa học QTGD của nhà GD.
- Tích cực hoạt động cá nhân với các loại hình hoạt động chủ yếu, phù hợp với lứa
tuổi để biến cá nhân từ khách thể thành chủ thể tích cực của QT nhận thức và hình thành
nhân cách.
4. Yếu tố giáo dục
4.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành và phát triển nhân cách con
người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
4.2. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách.
5
Đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Vai
trò này thể hiện ở những điểm sau đây:
cách, định hướng cho sự PT nhân cách, là trung tâm để phát huy các yếu tố bẩm sinh,
môi trường và cá nhân trong sự hình thành và PT nhân cách. Một nền giáo dục tốt có thể
làm cho con người phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Câu 4: Quá trình dạy học là gì? phân tích các nhiệm vụ dạy học và mối quan hệ của
chúng
1. Khái niệm về quá trình dạy học
Quá trình dạy học là toàn bộ hoạt động của giáo viên và học sinh, do giáo viên
hướng dẫn nhằm giúp cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát
triển năng lực nhận thức, hình thành những cơ sở của thế giới quan khoa học.
6
2. Các nhiệm vụ dạy học
2. 1. Những cơ sở xác định các nhiệm vụ dạy học
Để xác định các nhiệm vụ dạy học, chúng ta cần dựa vào một số cơ sở sau đây:
a. Căn cứ vào mục đích giáo dục và mục tiêu của nhà trường các cấp.
b. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.
c. Căn cứ vào sự tiến bộ của khoa học và công nghệ.
d. Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn
hiện nay.
2.2. Các nhiệm vụ dạy học chủ yếu
a. Giáo dưỡng
Nội dung cơ bản của nhiệm vụ này là trang bị cho HS hệ thống tri thức về tự
nhiên, xã hội, tư duy và các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, cách thức vận dụng chúng để giải
quyết các vấn đề nhận thức và thực tiễn.
b. Phát triển
Nội dung cơ bản của nhiệm vụ này là hình thành, phát triển năng lực hoạt động trí
tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.
Trong quá trình dạy học cần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất của hoạt
động trí tuệ như: Tính định hướng, bề rộng, chiều sâu, tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính
độc lập, tính nhất quán, tính phê phán, tính khái quát
Tất cả các phẩm chất hoạt động trí tuệ nói trên có mối quan hệ với nhau, đảm bảo
- Học sinh chỉ phải nhận thức những cái mới đối với bản thân, những tri thức được
rút ra từ kinh nghiệm chung của loài người, và được gia công về mặt sư phạm dưới sự chỉ
đạo của giáo viên. Vì vậy quá trình nhận thức của học sinh diễn ra theo đường thẳng
không phải trải qua những bước quanh co khúc khuỷu, đầy khó khăn, gian khổ như các
nhà khoa học khi tìm ra cái mới cho nhân loại.
- Qúa trình nhận thức của HS không chỉ diễn ra theo con đường từ cụ thể đến trừu
tượng, mà còn theo con đường ngược lại: từ trừu tượng đến cụ thể.
- Quá trình nhận thức của học sinh có chứa đựng các khâu: Củng cố, kiểm tra và
đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành "tài sản riêng" của học sinh.
Đồng thời quá trình nhận thức của học sinh phải có tính giáo dục, nghĩa là thông qua dạy
chữ để dạy người. Trong khi đó, những nét đặc trưng này không thấy có trong quá trình
nhận thức của các nhà khoa học.
Trên cơ sở tính đến những nét tương tự và những nét độc đáo của quá trình nhận
thức của học sinh so với quá trình nhận thức của loài người trong quá trình dạy học, giáo
viên cần có những biện pháp hợp lý để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học
sinh đạt được kết quả tối ưu. Tuy nhiên, tuyệt đối không được cường điệu hoá những nét
tương tự và những nét khác biệt giữa hai quá trình nhận thức này.
- Kết luận sư phạm ( tự rút ra)
Câu 6: Quá trình dạy học là gì? Phân tích động lực của quá trình dạy học.
1. Khái niệm về quá trình dạy học
Quá trình dạy học là toàn bộ hoạt động của giáo viên và học sinh, do giáo viên
hướng dẫn nhằm giúp cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát
triển năng lực nhận thức, hình thành những cơ sở của thế giới quan khoa học.
2. Động lực của quá trình dạy học
2.1. Quan niệm về động lực của quá trình dạy học
Quá trình dạy học vận động và phát triển không ngừng. Cụ thể là:
* Nhân tố HS : Dưới tác động của nhân tố GV, trỡnh độ nhận thức của HS không
ngừng được nâng cao:
* Nhân tố GV: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cũng được nâng cao và
hoàn thiện.
Các mâu thuẫn bên ngoài là những mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của quá
trình dạy học với các nhân tố của môi trường chính trị - xã hội, khoa học - công nghệ, đó
là:
- Mâu thuẫn giữa tiến bộ của khoa học - công nghệ và nội dung, phương pháp dạy
học lạc hậu.
- Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ xã hội và nhiệm vụ dạy học chưa được nâng cao.
Kết quả giải quyết mâu thuẫn này sẽ tạo ra điều kiện cho sự vận động và phát triển
của quá trình dạy học.
2.2. Mâu thuẫn cơ bản và động lực chủ yếu của quá trình dạy học.
Trong hàng loạt mâu thuẫn của quá trình dạy học thì mâu thuẫn giữa nhiệm vụ học
tập do tiến trình dạy học đề ra và mức độ lĩnh hội tri thức, kĩ năng, trình độ phát triển trí tuệ
hiện có của học sinh là mâu thuẫn cơ bản. Bởi vì, mâu thuẫn này tồn tại suốt từ đầu đến
cuối quá trình dạy học. Việc giải quyết các mâu thuẫn khác, xét cho cùng, đều phục vụ cho
9
việc giải quyết nó và việc giải quyết nó có liên quan trực tiếp và sâu sắc đến sự vận động
và phát triển của nhân tố học sinh và hoạt động học.
Kết quả giải quyết mâu thuẫn cơ bản này sẽ tạo ra động lực chủ yếu của quá trình
dạy học.
Tuy nhiên, mâu thuẫn muốn trở thành động lực thì cần có những điều kiện nhất
định:
- Một là, học sinh phải ý thức được mâu thuẫn và có nhu cầu giải quyết nó.
- Hai là, mâu thuẫn phải vừa sức học sinh.
- Ba là, mâu thuẫn phải do tiến trình dạy học dẫn đến, nghĩa là mâu thuẫn nảy sinh
một cách tất yếu trên con đường vận động đi lên của quá trình dạy học nói chung, quá
trình nhận thức của học sinh nói riêng.
Câu 7: Lôgic của quá trình dạy học là gì? Phân tích các khâu trong quá trình dạy học.
1. Khái niệm về lôgic của quá trình dạy học
Lôgic của quá trình dạy học là trình tự vận động hợp quy luật của nó, đảm bảo
cho học sinh đi từ trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí
tuệ tương ứng với lúc bắt đầu nghiên cứu môn học (hay đề mục) nào đó đến trình độ tri
sinh.
- Khai thác những kinh nghiệm sống của học sinh.
+ Hình thành khái niệm khoa học cho học sinh.
Trên cơ sở những biểu tượng đã thu được, học sinh tiến hành các thao tác tư duy
như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá … kết quả là học sinh sẽ
hình thành được những khái niệm khoa học.
Để giúp học sinh hình thành được khái niệm một cách có hiệu quả, giáo viên có
thể áp dụng một số biện pháp sau đây:
- Huy động ở học sinh những tài liệu cảm tính, vốn kinh nghiệm để làm cơ sở cho
nhận thức lý tính.
- Kích thích các thao tác tư duy ở học sinh bằng các câu hỏi và bài tập có tính vấn
đề.
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hiện sự tương tác giữa tư duy cụ thể và tư
duy trừu tượng, giúp cho việc nắm tri thức được hoàn thiện.
- Hướng dẫn học sinh độc lập hệ thống hoá các khái niệm đã tiếp thu được.
2.3. Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố tri thức
Trong quá trình học tập, học sinh cần củng cố những tri thức đã học, làm cho
chúng được lưu trữ trong đầu một cách chính xác, đầy đủ và bền vững, đồng thời lại làm
cho chúng được mở rộng, đào sâu và khi cần có thể tái hiện được nhanh chóng.
Để giúp học sinh làm được điều đó, giáo viên cần:
- Hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ có chủ định, có ý nghĩa.
- Hướng dẫn các em cách thức ôn tập thường xuyên, tích cực.
- Tổ chức cho học sinh luyện tập, qua đó củng cố mở rộng những tri thức đã học.
2.4. Tổ chức, hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo
Trong quá trình học tập học sinh cần biến tri thức thành kỹ năng, kỹ xảo. Có như
vậy, các em mới có khả năng vận dụng những điều đã học vào các tình huống thực tế đa
dạng.
Vì vậy, giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh luyện tập một cách có hệ
thống, với nhiều hình thức khác nhau, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ những
tình huồng quen thuộc sang những tình huống mới.
a). Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, cách thức hoạt động.
Thành phần này của nội dung DH nhằm hình thành ở người học năng lực nhận thức thế
giới.
b). Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến hoạt động trí óc và lao động
chân tay
Đây là một thành phần quan trọng của nội dung dạy học.
c). Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
Thành phần này của nội dung dạy học nhằm chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm
tòi, giải quyết vấn đề mới, cải tạo hiện thực.
d). Hệ thống những kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới và con người
Đây là yếu tố rất quan trọng của nội dung dạy học vì nó hình thành cho HS các giá
trị, niềm tin, lý tưởng, các phẩm chất đạo đức.
Trên đây là bốn thành phần không thể thiếu được của nội dung dạy học. Các thành
phần này liên quan mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau. Thiếu tri thức thì không thể
hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Hoạt động sáng tạo được thực hiện trên cơ sở tri thức và kỹ
năng đã tiếp thu được. Nhưng kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của con người không phải
tỷ lệ thuận với khối lượng tri thức nghĩa là phụ thuộc vào khối lượng tri thức mà còn phụ
thuộc vào cách lĩnh hội và vận dụng tri thức đó. Tính giáo dục của nội dung dạy học đòii
hỏi phải nắm vững tri thức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Nhờ chúng mà tạo cho
12
học sinh có thái độ đánh giá và thái độ cảm xúc đúng đắn đối với tự nhiên, xã hội, con
người, quy định những kỹ năng, kỹ xảo ứng xử của họ.
Câu 9: Tại sao trong quá trình dạy học cần vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy
học khác nhau.
1. Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong
quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
2. Hệ thống các phương pháp dạy học
2.1. Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời
Nhóm phương pháp này gồm: Phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp.
Hạn chế: Nếu giáo viên quá lạm dụng phương tiện trực quan sẽ làm cho học sinh
phân tán chú ý, thiếu tập trung vào dấu hiệu cơ bản, chủ yếu, thậm chí hạn chế sự phát
triển năng lực tư duy của học sinh
2.3. Nhóm phương pháp dạy học thực hành
Nhóm phương pháp dạy học và thực hành bao gồm các phương pháp luyện tập,
phương pháp ôn tập, phương pháp làm thí nghiệm.
Ưu điểm và hạn chế của nhóm phương pháp dạy học thực hành
Thông qua phương pháp thí nghiệm sẽ giúp học sinh nắm vững tri thức và biến trii
thức đó thành niềm tin, giúp học sinh hình thành những kỹ năng, kỹ xảo học tập nghiên
cứu khoa học, kích thích hứng thú học tập bộ môn và bồi dưỡng những phẩm chất cần
thiết của người lao động trí óc. Song phương pháp này đỏi hỏi phải có trang thiết bị đầy
đủ để tiến hành công tác dạy học cũng như dảm bảo vệ sinh và an toàn lao động
Qua phân tích hệ thống các PPDH chúng ta thấy: Mỗi phương pháp dạy học đều
có những ưu điểm và nhược điểm nhất định (Ví du: về ưu, nhược điểm của các PPDH
dùng lời, trực quan, thực hành). Không có phương pháp nào là vạn năng. Vì vậy trong
quá trình dạy học giáo viên phải vận dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm
phát huy ưu điểm, khắc phục những nhược điểm của chúng.
Việc lựa chọn phương pháp dạy học cần căn cứ vào những cơ sở sau đây:
- Căn cứ vào mục đích dạy học nói chung và mục đích từng chương, bài cụ thể nói
riêng, bởi lẽ mục đích dạy học chi phối mạnh mẽ việc vận dụng PPDH của GV.
- Căn cứ vào nội dung bài học và đặc điểm môn học. Bởi lẽ một trong những tính
chất quan trọng của PPDH là tính nội dung. Nội dung DH qui định PPDH, không có PP
nào được coi là vạn năng có thể ứng với mọi nội dung.
- căn cứ vào điều kiện, phương tiện dạy học. các PPDH có mối quan hệ chặt chẽ
và chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các phương tiện dạy học.
- Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi học sinh, vào trình độ tri thức, kỹ năng, kỷ xảo của
các em.
- Căn cứ vào trình độ, năng lực sư phạm của giáo viên. Đây chính là mặt chủ
quan của PPDH. Vì vậy, PPDH được xem là kĩ thuật, đồng thời là nghệ thuật. Hiệu quả
dạy học phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực sư phạm của GV.
trong đó cần trân trọng khả năng sáng tạo của đội ngũ GV.
15