Đề thi môn những vấn đề chung về luật
hình sự và tội phạm – 2
1. Những tội phạm bị tòa tuyên phạt từ 3 năm tù trở xuống đều là tội phạm ít
nghiêm trọng. 1.5đ
Căn cứ để phân thành tội phạm ít nghiêm trong, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm
rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 3 điều 8 BLHS là
mức cao nhất của khung hình phạt quy định trong điều luật. Không căn cứ vào
hình phạt mà tòa tuyên cho người phạm tội. Một người phạm tội nằm trong cấu
thành tội phạm cơ bản có khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm là tội nghiêm trọng,
nhưng nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy tòa có thể tuyên hình phạt nhẹ hơn,
dưới mức khung hình phạt này, nghĩa là có thể tuyên dưới 3 năm tù chẳng hạn,
nhưng tội này là tội phạm nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt là 7
năm). Do đó câu nhận định này SAI.
2. Hành vi giúp sức trong đồng phạm có thể được thực hiện sau khi tội phạm
đã hoàn thành. 1.5đ
Hành vi giúp sức phải được thực hiện trước hoặc trong khi người thực hành thực
hiện tội phạm. Hành vi giúp sức nếu thực hiện sau khi tội phạm hoàn thành nếu
không có sự hứa hẹn, thống nhất trước thì không thể là hành vi giúp sức trong
đồng phạm. Trong trường hợp này hành vi giúp sức nếu thỏa mãn có thể cấu thành
một tội độc lập ví dụ như tội che dấu tội phạm chẳng hạn.
Tối 25/1, A cùng bạn ngồi uống nước mía tại một quán nước trước nhà A thì X đi
đến chổ A nói: "Hồi nhỏ mày đánh tao, bây giờ tao đánh mày!" rồi xông vào đánh
A. A chụp ghế nhựa ngay từ bàn đưa lên chống đỡ rồi bỏ chay vào nhà mình,
xuống bếp lấy một con dao và một cây kéo, chạy ra đâm chết anh X.
Vì A có tiền sử bệnh tâm thần nên cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định. Theo
kết luận giám định pháp y tâm thần, A "bị rối loạn phân liệt cảm xúc hưng cảm,
chậm phát triễn tâm thần mức độ trung bình, gây án trong tình trạng khả năng
nhận thức và điều khiễn hành vi".
Biết rằng hành vi của A thuộc trường hợp được qui định tại khoản 2 điều 93 BLHS
Anh chị hãy xác định
định của điều 133 BLHS
Anh chị hãy xác định:
1. Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của B? 1đ
Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của B là đối tượng vất chất, là tài sản của
A, cụ thể túi và đồng hồ.
2. Hành vi cướp tài sản của B thực hiện ở giai đoạn phạm tội nào? tại sao?
1.5đ
Hành vi cướp tài sản của B thực hiện ở giai đoạn phạm tội hoàn thành bởI vì
hành vi phạm tội của B đã thỏa mãn hết các dấu hiệu cấu thành tội phạm cướp tài
sản qui định tại điều 133 BLHS. Cấu thành tội phạm cơ bản quy định tại khoản 1
điều 133 BLHS là cấu thành hình thức với quy định "nhằm chiếm đoạt tài sản",
bất kể hậu quả thực tế có xảy ra hay chưa. Do đó khi hành vi phạm tội của A thỏa
mãn hết các dấu hiệu khách quan (pháp lý) quy định tại điều luật coi như tội phạm
hoàn thành.
3. Hành vi gây thương tích của A có được coi là trong giới hạn của phòng vệ
chính đáng không? tại sao? 1.5đ
Trước hết quyền phòng vệ của A đủ điều kiện khởi phát bởi các nguyên nhân sau:
- Hành vi phạm tội của B đe dọa, tấn công, cướp tài sản của A rất nguy hiểm và
trái pháp luật.
- Hành vi phạm tội của B xâm phạm quyền tài sản và nhân thân của A được nhà
nước bảo vệ
- Hành vi tấn công của B hiện hữu và đe dọa ngay tức khắc đối với A
Sau khi quyền phòng vệ của A được khởi phát, vấn đề chúng ta xem xét kế tiếp là
hành vi gây thương tích của A có vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng
không? Sau khi quyền phòng vệ của A được khởi phát thì sự phòng vệ này vẫn
phải trong giới hạn cần thiết, tương xứng với hành vi tấn công nguy hiểm của B
đối với A, nhằm mục đích ngăn chặn, đẩy lùi mối nguy hiểm hành vi phạm tội của
B.
Lợi dụng tên cướp (tên là B) sơ hở, A lấy cùi chỏ thúc mạnh vào ngực B, đồng thời
gạt mạnh hất con dao bắn ra xa. A quay lại đấm vào mặt B. B tránh được cú đấm