Quy chế pháp lý hành chính của viên chức nhà nước – Phần 1 - Pdf 19

Quy chế pháp lý hành chính của viên
chức nhà nước – Phần 1

I. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm "viên chức nhà nước"- "con người hành chính"
Vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề quan trọng, là một yếu tố cơ bản của
quản lý nhà nước. Cơ quan nhà nước không thể hình thành và hoạt động nếu
không có viên chức nhà nước. Thật vậy. tất cả những hoạt động quản lý để đảm
bảo trật tự xã hội sẽ mất đi nếu thiếu "con người hành chính" này. Vì vậy, cán bộ
là người quyết định mọi vấn đề trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Trong đường lối chính trị của nhà nước ta, Ðảng Cộng sản Việt Nam đã chú ý tới
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước. Bởi vì hiệu quả của quá trình
quản lý xã hội tùy thuộc vào việc đào tạo cán bộ và khả năng làm việc của cán bộ.
Ðể nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì việc đào tạo
cho người cán bộ về trình độ học thức và trang bị cho họ những phẩm chất đạo
đức cách mạng là điều rất quan trọng. Có được đào tạo tốt thì người cán bộ mới đủ
năng lực và phẩm chất để phục vụ nhân dân vì nhà nước ta là nhà nước của dân,
do dân và vì dân. Ðặc biệt sự cần thiết có một đội ngũ cán bộ công chức đúng tầm
vóc để quản lý tốt một nền kinh tế hiện nay là một thử thách và đòi hỏi bức bách
đặt ra cho nhà nước ta.
Như vậy, viên chức nhà nước là người đóng vai trò to lớn trong hoạt động quản lý
của nhà nước. Thông qua hoạt động của mình, họ đảm bảo sự lãnh đạo các quá
trình sản xuất, xác định hướng phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất, thực
hiện các biện pháp tổ chức Viên chức nhà nước là lực lượng nòng cốt quyết
định mọi vấn đề của đất nước.
Viên chức nhà nước là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước do
tuyển dụng, bầu hoặc bổ nhiệm. Viên chức được trao những quyền hạn tương ứng
với một chức vụ nhất định hoặc thực hiện công việc theo sự ủy nhiệm của nhà
nước để thực hiện trực tiếp nhiệm vụ và chức năng nhà nước, được trả lương và
các chế độ phụ cấp khác từ ngân sách nhà nước.
2. Ðặc điểm

nhất định nhằm thực hiện một chức vụ nào đó thuộc về nhà nước. Nhà nước, cụ
thể là các cơ quan có thẩm quyền có quyền thay đổi, điều động công tác hoặc
chấm dứt quan hệ pháp luật lao động với viên chức nhà nước nếu lợi ích nhà nước
đòi hỏi nhưng phải tuân theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
3. Phân loại viên chức nhà nước
Là sự phân chia viên chức nhà nước ra thành các loại, các hạng ngạch khác nhau
theo những tiêu chuẩn nhất định.
Có nhiều căn cứ để phân loại viên chức nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay người ta
phân loại dựa vào ba căn cứ sau:
- Căn cứ vào tính chất công việc.
- Căn cứ vào đặc điểm pháp lý của công việc.
- Căn cứ vào sự phân công lao động và đặc tính lao động của viên chức.
Trong đó căn cứ quan trọng nhất là căn cứ vào tính chất công việc, bởi vì căn cứ
này có liên quan đến việc xác định công chức và không công chức-yếu tố chỉ phát
sinh ở chế độ có bộ máy công quyền.
a. Căn cứ vào tính chất công việc
Dựa vào căn cứ này người ta phân loại viên chức nhà nước thành công chức nhà
nước và những viên chức nhà nước không phải là công chức nhà nước.
¨ Những người sau đây không phải là công chức nhà nước:
- Các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
- Những người giữ các chức vụ trong hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp được
Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ.
- Những người làm việc theo chế độ tạm tuyển, hợp đồng và những người đang
thời kỳ tập sự chưa được xếp vào ngạch.
- Những hạ sỹ quan, sỹ quan tại ngũ trong quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội
biên phòng.
- Những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng và đoàn thể nhân dân.
- Những người làm việc trong các tổ chức sản xuất, kinh doanh của nhà nước.
¨ Qua các qui định trên đây, ta rút ra ba yếu tố căn bản gắn liền với công chức
- Sự tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một cương vị thường xuyên trong một công sở

4. Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng.
5. Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong
bộ máy các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát các cấp.
Ví dụ: Thẩm phán, kiểm sát viên, hoặc thư ký toà án đã vào ngạch công chức.
6. Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong
bộ máy của văn phòng Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp.
Ví dụ: Thư ký văn phòng quốc hội đã vào ngạch.
b) Căn cứ vào đặc điểm pháp lý của công việc mà viên chức đảm nhiệm
Theo tiêu chuẩn thì ta phân loại viên chức nhà nước thành nhân viên giúp việc và
viên chức phụ trách.
* Nhân viên giúp việc:
Là những người phục vụ, thực hiện các hoạt động vật chất và kỹ thuật như: đánh
máy, thông tin liên lạc, lưu trữ hồ sơ, lái xe Ðặc điểm pháp lý của hoạt động giúp
việc là không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ các quan hệ pháp luật
cụ thể. Hoạt động của đội ngũ nhân viên giúp việc góp phần quan trọng vào việc
hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan.
* Viên chức phụ trách:
Là những người giữ chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước. Ðể thực hiện chức
vụ, nhân viên phụ trách có quyền sử dụng quyền lực nhà nước theo quy định của
pháp luật. Quyết định của viên chức phụ trách có thể trực tiếp làm phát sinh, thay
đổi, đình chỉ các quan hệ pháp luật cụ thể.
c) Căn cứ vào sự phân công lao động và đặc tính lao động của viên chức
Theo căn cứ này ta có ba loại viên chức là viên chức lãnh đạo, viên chức chuyên
môn và viên chức thừa hành nghiệp vụ-kỹ thuật.
* Viên chức lãnh đạo:
Bao gồm những người giữ những công việc mà nội dung hoạt động là quyết định
và tổ chức thi hành quyết định. Căn cứ vào đối tượng và phạm vi lãnh đạo thì viên
chức lãnh đạo bao gồm hai nhóm:
- Nhóm những chức vụ lãnh đạo các cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân.

+ Công vụ Nhà nước, nếu nhìn từ góc độ vị trí của nó trong tổ chức Nhà nước,
được bắt đầu từ lúc xác lập các chức vụ Nhà nước. Hoạt động công vụ Nhà nước
là một dạng lao động xã hội, nhằm quản lý các hoạt động công vụ liên quan đến
nhiều mặt hoạt động xã hội, và nó đòi hỏi nhiều lĩnh vực khoa học và nghề nghiệp,
nhưng nghề nghiệp cơ bản nhất của viên chức Nhà nước là thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước và chức năng lập pháp, xét xử, kiểm sát của Nhà nước.
2. Hoạt động công vụ Nhà nước trước hết là hoạt động quyền lực, tác động đến ý
chí của con người, dẫn đến những hành vi có ý thức hoặc đáp ứng những nhu cầu
chung của mọi người trong xã hội. Hoạt động công vụ do các viên chức nhà nước
mang quyền lực nhà nước đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ Nhà nước. Quyền
lực Nhà nước được những người có chức vụ Nhà nước thực hiện, vì rằng mỗi chức
vụ là một phần thẩm quyền của cơ quan đó.
3. Chức vụ là bộ phận cơ cấu cơ sở của công vụ cơ quan Nhà nước, bao gồm hàng
loạt vấn đề: xác định các chức vụ, các quy tắc, và phương thức tuyển dụng, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, bãi chức, tuyên chuyển
2. Các nguyên tắc của công vụ Nhà nước
Các nguyên tắc của công vụ Nhà nước được xác định bởi nội dung hoạt động công
vụ, nghĩa là được xác định bởi tính chất của Nhà nước. Nguyên tắc công vụ là
những quan điểm, những tư tưởng, những quy định chung nhất nhằm thực hiện
một cách có hiệu quả việc quản lý nhà nước.
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm và nội dung của công vụ
Nhà nước nên cũng có sự khác nhau về cách phân loại các nguyên tắc của công vụ
Nhà nước.
Từ quan niệm công vụ Nhà nước chỉ tập trung vào hoạt động của viên chức
Nhà nước thì các nguyên tắc của công vụ Nhà nước gồm :
1. Viên chức nhà nước phục vụ và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động
Ðiều 8-Hiến pháp 1992 quy định: Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà
nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, kiên quyết đấu tranh
chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng. .

trí và sử dụng cán bộ, có tính tổ chức, tự chủ cao, có tính quyết đoán và lòng nhân
ái đối với con người.
3. Không có bất kỳ một hạn chế nào về mặt đảm nhiệm chức vụ ngoài những
hạn chế nhằm đảm bảo việc thực hiện tốt các chức vụ đó
Mọi công dân đều bình đẳng trong việc đảm nhiệm chức vụ nhà nước. Ðây là biểu
hiện cụ thể của quyền bình đẳng trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Mọi công dân đều có thể tham gia gánh vác công vụ nhà nước nếu đáp ứng yêu
cầu của công vụ ấy không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần nhân thân, giới
tính.
Những hạn chế trong việc đảm nhiệm chức vụ nhà nước đều xuất phát từ lợi ích
công vụ và đều được pháp luật quy định chặt chẽ. Nhà nước hạn chế không cho
một số đối tượng trở thành viên chức nhà nước đó là:
a) Người mất trí;
b) Người bị toà án tước một số quyền;
c) Người bị tòa án cấm không cho giữ một chức vụ hoặc đảm nhận, tiến hành một
hoạt động nhất định;
d) Người đang bị phạt tù;
e) Ngoài ra, trong cùng một cơ quan nhà nước không được sắp xếp những người
có quan hệ thân thích với nhau làm những công việc mà nhiệm vụ của người này
là kiểm soát công việc của người kia, nhất là những công việc liên quan đến tài sản
như kế toán, thủ quỹ, thủ kho
4. Không có đặc quyền đặc lợi nào dành riêng cho viên chức nhà nước
Viên chức nhà nước cũng làm việc và hưởng lương theo chức vụ và khả năng như
mọi người khác chứ không có một đặc quyền đặc lợi nào dành riêng cho họ. Trong
một số ngành do điều kiện làm việc đặc biệt nên có quy định về chế độ đãi ngộ
đặc biệt cho loại viên chức nhà nước này hoặc viên chức nhà nước khác như:
những người thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, những người phải làm
việc liên tục cả ngày nghỉ, ngày lễ Những quy định này xuất phát từ tính chất,
đặc điểm của công việc mà viên chức đảm nhận giống như tất cã những người
khác. Ðiều này nhằm đảm bảo những điều kiện cần thiết để viên chức nhà nước

không lạm dụng quyền lực để đi đến tham nhũng, hối lộ và thực hiện các hành vi
vi phạm pháp luật khác.
III. QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
1. Sư phát triển của quy chế viên chức nhà nước ta
Quy chế pháp lý hành chính của viên chức nhà nước là tổng thể những quy định
pháp luật về trình tự và điều kiện bổ sung đội ngũ viên chức nhà nước, địa vị pháp
lý của viên chức nhà nước, những điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động công
vụ, các hình thức khen thưởng và trách nhiệm của viên chức nhà nước.
Khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một trong những nhiệm vụ
quan trọng được đặt ra là phải xây dựng nền hành chính của chế độ mới, đào tạo,
xây dựng đội ngũ công nhân viên chức nhà nước, ban hành các quy định về quy
chế pháp lý hành chính của viên chức nhà nước. Quá trình này trải qua nhiều giai
đoạn phát triển khác nhau. Mỗi giai đoạn đánh dấu một bước phát triển mới với
những đặc thù riêng của nó.
Từ năm 1980 đến nay, nhà nước ta đã ban hành những quy định chung cho cả
công nhân và viên chức nhà nước về tuyển dụng, cho thôi việc, bảo hiểm xã hội,
tiền lương, kỷ luật lao động Sự thống nhất về cơ bản giữa quy chế công nhân và
quy chế công chức thể hiện rõ quan điểm của nhà nước ta cho rằng trong xã hội xã
hội chủ nghĩa, viên chức nhà nước cũng là người lao động, không phải là một
đẳng cấp tách biệt với công nhân, những quyền và nghĩa vụ cơ bản của viên chức
nhà nước cũng được quy định như đối với công nhân và do luật lao động điều
chỉnh.
2. Quyền hạn của viên chức nhà nước
a. Những quyền hạn chung
Là những quyền hạn mà mọi viên chức nhà nước đều được hưởng. Những quyền
hạn này không gắn với chức vụ cụ thể mà gắn với hoạt động công vụ nói chung,
đó là:
- Viên chức nhà nước có quyền được học tập để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cũng như trình độ lý luận chính trị.
- Viên chức nhà nước có quyền thi tuyển lên chức vụ cao hơn.

- Nghĩa vụ thi hành mọi mệnh lệnh hợp pháp của cấp trên
Nghĩa vụ này xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp với nguyên tắc thủ
trưởng. Ðây là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nếu mệnh
lệnh của cấp trên là không hợp pháp thì viên chức phải báo cáo ngay với người đã
ra quyết định; trong trường hợp này, một mặt vẫn phải chấp hành mệnh lệnh đó,
tuy nhiên không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành mệnh lệnh[1].
Ngược lại, nếu viên chức thi hành mệnh lệnh bất hợp pháp của cấp trên thì dù cố ý
hay vô ý họ đều phải chịu trách nhiệm.
Như vậy, sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên không phải là sự phục tùng
máy móc mà là sự phục tùng tự giác trên cơ sở pháp luật.
4. Khen thưởng viên chức nhà nước
Khen thưởng được nhà nước sử dụng như một phương pháp khuyến khích về vật
chất hay tinh thần đối với người lao động khi họ đạt năng suất, chất lượng, hiệu
quả cao trong công tác.
Nhà nước ta quy định mức khen thưởng cho viên chức nhà nước trong mọi lĩnh
vực, hình thức khen thưởng có thể là phong tặng danh hiệu, huy hiệu.
Ơớ những ngành, những lĩnh vực khác nhau có hình thức khen thưởng riêng. Các
hình thức khen thưởng trên có thể được kèm theo những quyền lợi về vật chất như
tiền thưởng, tăng lương trước kỳ hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status