Tính tối cao của hiến pháp
Mục đích bài viết làm sáng tỏ nhận định “Tính tối cao của Hiến pháp trong hệ
thống pháp luật và đời sống xã hội”. Với nội dung thứ nhất, bài viết nêu lên các
khái niệm, cách nhìn từ nhiều góc độ đối với Hiến pháp, tiêu biểu là Hiến pháp
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Từ đó, việc nhìn nhận vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời
sống xã hội là cần thiết có sự quản lý chặt chẽ và hệ thống nhằm đảm bảo tính tối
cao của Hiến pháp được thực thi. Ngoài ra bài viết còn có sự liên kết với các sự
kiện, đã và đang xảy ra trong đời sống xã hội Việt Nam để dẫn đến các câu hỏi
“Tính tối cao của Hiến pháp có thật sự được đảm bảo?”, “Làm gì để Hiến pháp thể
hiện được tính tối cao?”.
Từ sự kết nối hai nội dung trên, nội dung thứ ba đánh giá tổng quát tính tối cao
của Hiến pháp nhằm đúc kết những ưu, khuyết trong việc đưa Hiến pháp vào đời
sống xã hội và đồng thời nêu bật các kiến nghị để Hiến pháp đảm bảo được tính
tối cao và vai trò của người dân trong việc xây dựng và bảo vệ tính tối cao của
Hiến pháp.
Nhóm 1 - Luật 3B - VB2 - CQ
CÁC CHỦ ĐỀ MỚI HƠN CÙNG CHUYÊN MỤC:
thay đổi nội dung bởi: hieuto, 01-02-2011 lúc 12:44 PM
Trả Lời Với Trích Dẫn
01-02-2011 12:30 PM #2
luathoc
Chuẩn úy (Warrant-Officer) Tham gia ngày
Jan 2011
Bài viết
219
cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước then chốt;
thể hiện một cách tập trung nhất, mạnh mẽ nhất ý chí và lợi ích của lực lượng cầm
quyền trong xã hội”.
Từ các khái niệm trên, Hiến pháp có thể được hiểu như đạo luật cơ bản của Nhà
nước do cơ quan đại diện có thẩm quyền cao nhất của nhân dân thông qua hoặc
nhân dân trực tiếp thông qua thể hiện ý chí, lợi ích của nhà cầm quyền gồm những
nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và các
quyền cơ bản của công dân.
2.1.2. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định khái quát về chế
độ, quyền, nghĩa vụ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các lĩnh vực trong đời
sống xã hội, của công dân Việt Nam và thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng – Nhà
nước – Nhân dân. Hiến pháp điều chỉnh 4 nhóm quan hệ xã hội chính như (Trung
tâm TTTH, 2009):
2.1.3. Tính tối cao của Hiến pháp
2.1.3.1. Tại sao Hiến pháp mang tính tối cao?
Hiến pháp ra đời nhằm bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp thống trị đối với
các giai cấp khác, bảo vệ quan hệ sản xuất, các quyền và lợi ích của con người,
công dân. Bên cạnh đó, về bản chất, Hiến pháp là 1 văn bản để hạn chế quyền lực
nhà nước và bảo vệ quyền lợi của người dân. Với tầm quan trọng và bản chất đặc
biệt của Hiến pháp như “là văn bản của quyền lực gốc, điều chỉnh mối quan hệ,
xác định hình thức nhà nước, mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cơ
cấu tổ chức bộ máy nhà nước, địa vị pháp lý của công dân, mối quan hệ giữa công
dân và Nhà nước” (ĐBQH Vũ Hồng Anh, 2009), Hiến pháp nhất thiết phải có vị
trí tối cao trong hệ thống pháp luật và cần thiết phải đảm bảo tính hợp hiến trong
hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước để Hiến pháp thực sự áp
dụng vào cuộc sống một cách hiệu quả.
Tính tối cao của Hiến pháp thể hiện trước hết qua việc ghi nhận chủ quyền tối cao
của nhân dân. Vì vậy, Hiến pháp là văn bản chính trị - pháp lý chứa đựng những
giá trị cơ bản, cao quý nhất của xã hội (Tào Thị Quyên, 2009).
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân
phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phong ngừa và
chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật”. Ngoài ra, trong một nhà
nước pháp quyền, tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp đòi hỏi phải
được tuân thủ tuyệt đối (Trần Thị Hạnh Dung, 2009). Bên cạnh đó, vì Hiến pháp
còn được nhìn nhận như một loại khế ước của nhân dân, xác lập chế độ chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, khẳng định quyền lực nhà nước và chủ quyền thuộc về
nhân dân, ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của con người và với tính chất
quan trọng đó, cơ chế bảo hiến cần được xây dựng một cách hoàn chỉnh.
Nhiều quy định của Hiến pháp chưa thật sự đi vào đời sống hoặc chưa được cụ thể
hoá trong đời sống pháp luật dẫn đến việc thực thi pháp luật còn nhiều rào cản, bất
cập. Ngoài ra, các hình thức kiến nghị, giám sát quyền lực còn tỏ ra thiếu đồng bộ,
nhất quán, thiếu kinh nghiệm về pháp luật và thiếu cơ chế trách nhiệm rõ ràng dẫn
đến việc hiệu quả giám sát vẫn còn thấp. Hơn nữa, chưa có một văn bản pháp luật
nào quy định trách nhiệm phát sinh từ các văn bản pháp luật vi hiến hiện đang là
tồn tại trong sự phân định giữa quyền lực của Quốc hội với quyền lực của Hiến
pháp. Đối với người dân, khi quyền và lợi ích của mình bị vi phạm thì công dân
chưa có đầy đủ nguồn làm sở cứ và tư duy kiện ra trước Tòa án hay các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Do đó, để tiến tới nhà nước pháp quyền với đầy đủ sự tối
cao của Hiến pháp cần phải có giải quyết hữu hiệu cho cơ chế ban hành, kiến nghị,
kiểm tra tính hợp hiến và các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
(Trần Thị Hạnh Dung, 2009).
2.1.4.3. Cơ chế giám sát Hiến pháp theo quy định của pháp luật hiện hành
Giám sát việc tuân thủ Hiến pháp của quy định hiện hành theo cơ chế phân công
phân nhiệm vụ mà trong đó Quốc hội giữa vai trò giám sát chính đã được quy định
tại Điều 83, 84 Hiến pháp 1992 như “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao
đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”, “thực hiện quyền giám sát tối cao việc
tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” (Trần Thị Hạnh Dung, 2009):
Việc giám sát Hiến pháp đã có luật quy định tương đối toàn diện như: Hiến pháp
1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001; Luật tổ chức Quốc hội năm 2001; Luật hoạt
Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Hội đồng nhân dân giám sát văn bản của
Ủy ban nhân dân cùng cấp. Như là Hội đồng nhân dân bãi bỏ những quyết định sai
trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp, những nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân
dân cấp dưới trực tiếp.
Theo Trần Thị Hạnh Dung (2009), việc bảo vệ Hiến pháp theo cơ chế hiện hành
đang tồn tại sự nhập nhằng, giám sát lẫn nhau, chồng chéo, có sự lẫn lộn giữa
quyền lập hiến và quyền tài phán. Ngoài ra, giám sát tối cao của Quốc hội lại phụ
thuộc vào cơ quan của Quốc hội nên chắc chắn sẽ có tình trạng dựa dẫm, ỷ lại
trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo hiến.
Thực tiễn đánh giá Tính tối cao của hiến pháp
2.2. Thực tiễn
Mặc dù đã có quy chế giám sát việc thực hiện và bảo vệ Hiến pháp, tuy nhiên Hiến
pháp vẫn đang bị vi phạm và các vi phạm đó vẫn chưa được khắc phục. Một vài ví
dụ thực tiễn được minh hoạ dưới đây có thể phần nào trả câu hỏi “ Hiến pháp Việt
Nam thật sự đã được đảm bảo tính tối cao trong hệ thống pháp luật và đời sống xã
hội hay chưa?”
1) Vi phạm Hiến pháp của Liên đoàn bóng đá VN (VFF) trong việc hạn chế
các cầu thủ nước ngoài đã nhập tịch được tham gia đội tuyển quốc gia và
tham gia vào các Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp từ năm 2011.
Trong luật quốc tịch và trong tất cả văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam không
có khái niệm công dân nhập quốc tịch. Mọi công dân đã nhập quốc tịch thì được
đối xử như một công dân Việt Nam và được quyền thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình là công dân Việt Nam. Điều 52 Hiến pháp quy định: “Mọi công dân
đều có quyền bình đẳng trước pháp luật”. Và luật lao động ghi rõ: “Mọi công dân
đều có quyền được lao động, quyền tự do lựa chọn lao động Cấm mọi hành vi
phân biệt đối xử, kỳ thị, dù người đó thuộc màu da, dân tộc hay tôn giáo nào, ”.
Còn luật dân sự thì: “Mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau”. Nghị
quyết của VFF ngoài việc vi phạm Luật quốc tịch, Hiến Pháp đã vi phạm chính
tải là 12 trong số gần 60 văn bản được kiểm tra.Tại tỉnh Cao Bằng có một nửa
trong số 124 văn bản kiểm tra có sai phạm.
Tỷ lệ này ở Nghệ An là 660 trong 1.000 văn bản được kiểm tra, hay tại Bình
Thuận có 111 văn bản hết hiệu lực pháp luật và đã được thay thế, bãi bỏ. Tổng
cộng, 63 địa phương kiểm tra hơn 26.000 văn bản thì con số sai phạm bị phát hiện
là hơn 3.100. Còn qua việc kiểm tra của Bộ Tư pháp, trong hơn 35.800 văn bản
tiếp nhận do các đơn vị ban hành đã phát hiện hơn 4.300 sai luật.
- Thông tư 02 ngày 13-1-2003 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký,
biển số phương tiện giao thông cơ giới đã quy định: " Mỗi người chỉ được đăng
ký 1 xe môtô hoặc xe gắn máy". Quy định này đã hạn chế Quyền sở hữu của công
dân, được quy định tại Điều 58 Hiến pháp 1992, vi phạm khoản 1, Điều 221 của
Bộ luật hình sự là công dân có quyền sở hữu tài sản không bị hạn chế về số lượng,
giá trị. Quy định trên đã gián tiếp tạo ra những thủ tục rườm rà, gây khó khăn
trong các giao dịch mua bán xe máy, buộc người mua xe phải chi thêm những
khoản tiền vô lý. Thực tế, quy định này cũng không phải là giải pháp có hiệu quả
nhằm tiến tới giảm dần số vụ tai nạn giao thông, khắc phục được tình trạng ùn tắc
bởi "một người dù mua nhiều xe, nhưng ra đường cũng chỉ sử dụng được 1 chiếc".
- Nhiều văn bản có nội dung trái luật đã bị công luận lên tiếng như nội dung trái
luật trong công văn không cho phép học sinh, sinh viên tham gia biểu diễn nghệ
thuật tại vũ trường, quán karaoke; hay quyết định của Bộ Y tế về việc người dưới
40 kg không được điều khiển xe máy trên 50 phân khối.
Đánh giá về "Tính tối cao của hiến pháp"
2.3. Đánh giá
2.3.1. Đánh giá về tính tối cao của Hiến pháp
Dưới góc độ chính trị, Hiến pháp là văn bản duy nhất quy định về tổ chức quyền
lực Nhà nước, thể hiện tư tưởng của giai cấp cầm quyền. Dưới góc độ pháp lý,
Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Ở bất cứ
quốc gia nào Hiến pháp là biểu tượng của nền dân chủ, là giới hạn của quyền lực
nhà nước, là cơ sở pháp lý cao nhất bảo đảm các quyền tự do cá nhân.
2.3.1.1. Mặt tích cực
cao trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý
dự thảo.
Thứ ba là các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ đã không ban hành những văn bản
quy phạm pháp luật để cụ thể hóa việc thực hiện các quy định của Hiến pháp hoặc
không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định là phải ban
hành.
Thứ tư là quyền thông tin của nhân dân chưa thật sự quán triệt đến các cơ quan
nhà nước, người dân chưa được cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch nên không
thể xác định, kiểm tra và đánh giá đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp
luật quy địnhvà phát huy tốt quyền làm chủ của mình trong việc tham gia xây
dựng, củng cố chính quyền. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu nhất là quyền Hiến
định về đảm bảo thông tin của nhân dân chưa được cụ thể hóa thành luật. Chính vì
thế, vai trò của Quốc hội là ban hành Luật Tiếp cận thông tin để phân định rõ
quyền của người dân (Nguyễn Phi Hùng, 2010).
Thứ năm là người dân chưa thật sự chú ý kiến thức pháp luật. Do bản chất văn
hóa truyền thống của người Việt nam là trọng tình, ảnh hưởng lối xử lý theo tình
cảm. Song song đó, việc giáo dục pháp luật cho nhân dân chưa hiệu quả, có phổ
biến nhưng người dân thờ ơ, không quan tâm, chỉ đến khi bị xử lý vi phạm mới
biết. Vì vậy người dân chưa nhận thức đầy đủ vị trí pháp luật của mình trong xã
hội, chưa thực hiện tốt nghĩa vụ công dân và giám sát hoạt động của các cơ quan
công quyền, đóng góp ý kiến, phản biện xã hội xây dựng pháp luật.
2.3.2. Kiến nghị qua một số biện pháp
Từ thực tiễn trên cho thấy cần thiết phải có cơ chế hữu hiệu bảo vệ tính tối cao của
Hiến pháp, phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp,
hành pháp và tư pháp, thậm chí việc lập pháp của Quốc hội có thể cũng có lúc vi
hiến mà Hiến pháp giao cho Quốc hội tự mình giám sát, xử lý văn bản luật nếu trái
với Hiến pháp (quy định tại Điều 83, 84 Hiến pháp 1992) cũng là không khách
quan. Trong khi từ trước đến nay, chưa có cơ quan nhà nước nào ở trung ương
cũng như ở địa phương, kể cả Quốc hội xử lý văn bản pháp luật trái với Hiến
pháp, mặc dù đã có quy định. Do đó phải có một cơ quan độc lập kiểm tra, giám
Tài liệu tham khảo đề tài "Tính tối cao của hiến pháp"
Nguồn tham khảo
1. Nguyễn Đăng Dung – chủ biên (2006), Giáo trình luật Hiến pháp Việt
Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
2. Từ điển bách khoa toàn thư, truy cập ngày 10/12/2010.
3. Lưu Đức Quang (2010), Đề cương những vấn đề cơ bản về Luật Hiến
pháp,Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh.
4. Trung tâm TTTH (2009), Hiến pháp là gì? Hiến pháp của nước ta quy định
những vấn đề gì?, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương, truy cập ngày
10/12/2010
5. Tào Thị Quyên (2009),Cơ sở của chế độ giám sát tư pháp Hiến pháp, Luật
Việt, truy cập ngày 11/11/2010
6. ĐBQH Vũ Hồng Anh (2009), Trao đổi: Về tính hợp hiến, hợp pháp, tính
thống nhất của hệ thống pháp luật, Báo Đại Biểu Nhân Dân, truy cập ngày
10/12/2010
7. Kim Xuân, Minh Luận (2009), Hạn chế cầu thủ nhập tịch thi đấu: Phạm
luật, Báo Tuổi Trẻ, truy cập ngày 6/12/2010
8. V.V.Thành (2009), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường: Đã là công
dân VN thì được đối xử bình đẳng, Báo Tuổi Trẻ, truy cập ngày 6/12/2010
9. Thông tấn xã Việt Nam (2010), Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật-
Bộ Tư pháp: Nhắc nhở 7 Bộ, ngành, 13 tỉnh, thành phố trong việc ban hành
văn bản có dấu hiệu trái luật , Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, truy
cập ngày 6/12/2010
10. Hoàng Khuê (2008), Gần 6.900 văn bản trái luật đã được ban hành, Báo
điện tử VnExpress, truy cập ngày 6/12/2010
11. Văn Tiến (2010), Hiến pháp 1946 – Thành tựu độc đáo về tư tưởng - Bài 2:
Nhân dân có quyền phúc quyết hiến pháp, Báo Pháp luật, truy cập ngày
11/12/2010
12. Nguyễn Đăng Dung (2004), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb: Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội