Hà nội, Tháng 10 năm 2007.
Kinh gửi cô giáo: Hà Hoa Lý.
Thưa cô:
Đây là bài Tiểu luận môn học “Quản lý Nhà nước về Văn hóa – Giáo
dục – Y tế ” mà chúng em đã chung sức hoàn thành. Do thời gian và sự
hiểu biết của chúng em còn có hạn nên trong bài Tiểu luận của chúng em
còn có nhiều thiếu sót về kiến thức, cách trình bày vấn đề, cách thức tiếp
cận vấn đề cũng như các vấn đề liên quan…. Vì vậy chúng em rất mong cô
giáo hãy cho chúng em những lời nhận xét chi tiết nhất để chúng em hoàn
thiện bài làm hơn trước khi chúng em trình bày trước lớp.
Vì là phần gửi cho cô nên chúng em gửi cả bài làm của nhóm. Còn phần
trình bày trước lớp do thời gian có hạn nên chúng em dự định chỉ trình bày
những nét chinh mà chúng em đã đánh dấu. Sau đó trong lớp có bạn nào
hỏi về vấn đề gì thì chúng em mới trả lời cụ thể sau theo từng vấn đề.
Chúng em mong sớm có những lời nhận xét bổ ích, đáng quý của cô
Kính chúc cô và gia đình mạnh khỏe.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô.
Nhóm thực hiện đề tài
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LỚP:
TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA – GIÁO DỤC – Y TẾ
Đề tài:
CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS QUỐC GIA. THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
“Đừng quay lưng lại với AIDS”
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: HÀ HOA LÝ
NHÓM THỰC HIỆN:
Hà Nội - Tháng 10 năm 2007
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI DỊCH HIV/AIDS VÀ CHƯƠNG TRÌNH
A. HIV/AIDS là gì?
- HIV là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Human Immuno-deficiency Virus
(Virusgây suy giảm miễn dịch ở người). HIV có 2 týp là HIV-1 và HIV-2.
- AIDS là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Acquired Immuno Deficiency
Syndrom (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải).
Trước đây, bệnh được gọi là SIDA (viết tắt từ tiếng Pháp: Syndrome d'Immuno
Deficience Acquise), nhưng do trùng với tên của Tổ chức phát triển quốc tế Thụy
Điển SIDA và tên của Tổ chức CIDA (Canađa) cũng gọi là "Si đa" nên thống nhất gọi
là AIDS để tránh nhầm lẫn và phù hợp với tên quốc tế.
- AIDS là một bệnh mạn tính do HIV gây ra. HIV phá huỷ các tế bào của hệ miễn
dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh.
Do đó, bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có
thể đề kháng được.
Bản thân virus và nhiễm trùng được gọi là HIV. Thuật ngữ AIDS được dùng để chỉ
giai đoạn muộn hơn của bệnh. Như vậy, thuật ngữ nhiễm HIV/AIDS được dùng để chỉ
những giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh.
B. HIV/AIDS có ả nh hư ở ng như th ế nào đ ến cá nhân và xã hội?
Ảnh hưởng cá nhân và xã hội của người nhiễm HIV/AIDS là cực kì to lớn và
không thể lường trước được.
* Ảnh hưởng về kinh tế: Số người nhiễm HIV chủ yếu ở lứa tuổi lao động. Khi
nhiều người bị nhiễm HIV và bị chết vì AIDS sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
của từng gia đình, cộng đồng và của đất nước. Chi phí cho công tác phòng chống
AIDS là rất tốn kém.
* Ảnh hưởng về tâm lý xã hội: Mọi người sợ hãi dễ dẫn đến tình trạng phân biệt
đối xử. Cuộc sống của gia đình người nhiễm HIV/AIDS trở nên căng thẳng, xuất hiện
nhiều mâu thuẫn và dần tiến tới sự mất ổn định trong cuộc sống.
* Ảnh hưởng nặng nề cho hệ thống Y tế: Hệ thống y tế bị quá tải, phát sinh các
nguy cơ lây nhiễm HIV trong môi trường y tế. Thuốc đặc trị không có nhưng vẫn phải
tiến hành việc điều trị cho các bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS dẫn đến chi phí điều trị
lớn nhưng không đạt hiệu quả, bệnh nhân vẫn tử vong.
c. Tỷ lệ số người nhiễm HIV ở nam giới cao gấp 6 lần nữ giới (chiếm 83,19% so
với 16,29%), tỷ lệ này ít biến động kể từ 1993 trở lại đây.
d. Đối tượng nhiễm HIV/AIDS có xu hướng “trẻ hóa” ngày càng rõ rệt (95% ở lứa
tuổi 15 - 49, trong đó ở độ tuổi 20 - 29 chiếm tới 55,26%).
e. Tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng qua giám sát trọng điểm cho thấy
tốc độ dịch vẫn gia tăng nhưng có chậm hơn so với các năm trước đây:
- Tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm nghiện chích ma tuý cao nhất vào giai đoạn
2001 – 2002 là 29,4%, tỷ lệ này có xu hướng chững lại, năm 2005 là 25%.
- Tỷ lệ nhiểm HIV trong nhóm gái mại dâm cao nhất vào năm 2002 với 5,9% gái
mại dâm bị nhiễm HIV, tỷ lệ này đến năm 2006 còn 3,95%.
- Đối với các nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, phụ nữ
mang thai, thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự cũng đã có các dấu hiệu dịch
không gia tăng nhanh như các năm trước đây.
f. Dịch vẫn chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
đứng đầu là Quảng Ninh với tỷ lệ nhiễm trên 100.000 dân cao nhất nhưng về số liệu
tuyệt đối, Tp Hồ Chí Minh phát hiện được 17.407 trường hợp chiếm 14% tổng số các
trường hợp nhiễm HIV được phát hiện trên toàn quốc.
g. Tuy tốc dộ dịch không gia tăng nhanh chóng so với các năm trước đây nhưng
chứa đựng các yếu tố nguy cơ lan tràn dịch ở một số tỉnh, thành phố thể hiện qua việc
hiểu biết về HIV/AIDS trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao còn thấp, tỷ lệ dùng
chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích ma tuý cao từ 22 - 44 % trong các lần
tiêm chích. Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong nhóm gái mại dâm tuy đã có cải thiện
nhưng vẫn chỉ dừng ở mức 50 – 60%.
h. Dịch dã có dấu hiệu lây lan ra cộng đồng, đối tượng nhiễm HIV/AIDS không chỉ
tập trung ở những người có nguy cơ cao mà còn xuất hiện trong nhóm phụ nữ mang
thai và trẻ em; HIV/AIDS đã đi về miền núi, vùng sâu, vùng xa, lan rộng trong các
tầng lớp không thuộc diện có nguy cơ cao như học sinh, sinh viên, tân binh, giới công
chức, thậm chí nông dân Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa
vụ quân sự là 0,25%, phụ nữ mang thai là 0,37% vào năm 2006.
Theo ư ớc tính của Bộ Y tế, tỷ lệ phụ nữ trong số người nhiễm HIV tại Việt Nam
2004 64 87 564 14 382 8 260
2005 64 103 900 17 200 10 000
2006 64 116 565 20 195 11 802
30/8/200
7
64 131 400 26 200 14 700
SỰ CHÊNH LỆCH TRONG TỶ LỆ NHIỄM HIV/AIDS GIỮA CÁC TỈNH THÀNH
tính đến tháng 7/2006
12 tỉnh có tỷ lệ
nhiễm cao nhất
Số ca
HIV/100000 dân
12 tỉnh có tỷ lệ
nhiễm thấp nhất
Số ca
HIV/100000dân
Quảng Ninh 572,56 Quảng Bình 4,27
Hải Phòng 331,96 Quảng Trị 4,56
TP. Hồ Chí Minh 248,05 Quảng Ngãi 5,21
Bà Rịa Vũng Tàu 229,10 Hà Giang 9,64
An Giang 184,27 Vĩnh Phúc 11,00
Hà Nội 175,40 Phú Yên 11,07
Lạng Sơn 150,62 Hà Tĩnh 12,67
Cao Bằng 127,79 Quảng Nam 12,73
Khánh Hòa 101,51 Cà Mau 12,73
Bình Dương 94,75 Thừa Thiên Huế 14,64
Đồng Nai 92,24 Tuyên Quang 15,78
Thái Nguyên 91,27 Phú Thọ 16,35
2.2. TÌNH HÌNH ĐẠI DỊCH HIV/AIDS THẾ GIỚI
- Theo báo cáo của cơ quan điều phối về HIV/AIDS của Liên hiệp quốc (UNAIDS)
II. CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG QUỐC GIA HIV/AIDS.
1 Bối cảnh ra đời và mục đích của Chương trình phòng chống quốc gia
HIV/AIDS.
1.1 Bối cảnh ra đời.
Chương trình phòng, chống quốc gia HIV/AIDS tại Việt Nam đã được khởi đầu
như một chương trình quốc gia phòng chống bệnh truyền nhiễm vào những năm cuối
của thập kỷ 80. Với phương châm chỉ đạo là “lấy dự phòng là chính, truyền thông là
then chốt”. Rất nhanh chóng chương trình đã vượt ra khỏi những khuân khổ của một
chương trình y tế để trở thành một chương trình có tính chất toàn xã hội.
Đứng trước nguy cơ lan tràn nguy hiểm và tác hại to lớn của đại dịch HIV/AIDS.
Chương trình phòng, chống quốc gia HIV/AIDS cho giai đoạn đầu tiên 1991 – 1993
được xây dựng, triển khai với sự giúp đỡ của Tổ chức Y tế thế giới tại 09 tỉnh/thành
phố trên tổng số 53 tỉnh/thành. Năm 1993, để tăng cường dự phòng lây nhiễm HIV
qua đường truyền máu sau vụ dịch nghiêm trọng xảy ra tại Tp Hồ Chí Minh, Khánh
Hòa và một số tỉnh phía Nam, Nhà nước đã đầu tư 10 tỷ đồng cho việc mua sắm trang
thiết bị bảo đảm an toàn truyền máu.
- Cuối năm 1993, Chương trình phòng chống HIV/AIDS toàn cầu của Liên Hợp
Quốc đã giúp Việt Nam xây dựng chiến lược Phòng chống quốc gia HIV/AIDS giai
đoạn 1994 – 2000. Từ năm 1994, Nhà nước đã đầu tư kinh phí hằng năm cho công tác
phòng chống HIV/AIDS trên cả nước.
- Năm 1994 – 1995 có thể coi là sự khởi đầu của chương trình quốc gia. Chương
trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS thực sự đúng nghĩa thì hoạt động muộn hơn.
Tuy nhiên, sự đáp ứng quốc gia đối với đại dịch HIV/AIDS là rất tích cực, cho phép
trong một thời gian ngắn đã hình thành được những đường hướng cơ bản để đương
đầu với đại dịch.
- Từ năm 1996, hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam đựơc triển khai
theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia với các mục tiêu dài hạn đã đặt ra. Các kế hoạch
triển khai được vạch ra cụ thể cho hằng năm nhằm thực hiện các mục tiêu trước mắt
được xác định của từng năm đó.
- Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS trong hai giai đoạn: 1996 – 2001,
quốc gia. Do đó, công tác phòng và chống đại dịch HIV/AIDS phải được coi là một
nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài, cần phải tăng cường phối hợp liên ngành và
đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia;
b) Đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là đầu tư góp phần tạo ra sự phát
triển bền vững của đất nước mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp.
Nhà nước bảo đảm việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS
từ nay đến năm 2010 và sau 2010 phù hợp với khả năng và điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn;
c) Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV/AIDS, tăng cường trách
nhiệm của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và của người nhiễm
HIV/AIDS với gia đình, xã hội;
d) Việt Nam cam kết thực hiện các Điều ước quốc tế về phòng, chống HIV/AIDS
đã ký kết hoặc gia nhập. Bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia về phòng, chống
HIV/AIDS phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế;
đ) Không ngừng tăng cường mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế hữu nghị
đơn phương, song phương, đa phương…với các nước láng giềng, các nước trong khu
vực và trên thế giới trong công tác phòng và chống HIV/AIDS;
e) Công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới cần ưu tiên:
- Tăng cường thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi; phối hợp với
các chương trình khác để ngăn ngừa, giảm thiểu lây nhiễm HIV/AIDS;
- Đẩy mạnh các biện pháp can thiệp giảm thiểu tác hại;
- Tăng cường tư vấn, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS; năng lực quản
lý, theo dõi, kiểm tra, giám sát và đánh giá chương trình.
2.2. Mục tiêu Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến
năm 2010:
a) Mục tiêu chung: Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư
dưới 0,3% vào năm 2010 và không tăng sau 2010; giảm tác hại của HIV/AIDS đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội.
b) Mục tiêu cụ thể:
- 100% các đơn vị, địa phương trên cả nước, đưa hoạt động phòng, chống
vắc xin, thuốc điều trị HIV/AIDS có thể sẽ được sử dụng rộng rãi. Ưu tiên trong giai
đoạn 2010 - 2020 là:
- Dự phòng bằng các biện pháp kỹ thuật đặc hiệu;
- Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS;
- Chăm sóc các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG QUỐC GIA HIV/AIDS.
I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA
PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA.
A. Những thành tích đã đạt được trong công tác thực hiện chương
trình phòng chông quốc gia HIV/AIDS.
Sau 16 năm thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống HIV/AIDS theo từng
giai đoạn cụ thể:
- Chương trình phòng chống quốc gia HIV/AIDS cho giai đoạn đầu tiên 1991 –
1993.
- Chiến lược Phòng chống quốc gia HIV/AIDS giai đoạn 1994 – 2001.
+ Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 1994 – 1995.
+ Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 1996 – 2001.
- Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2001 – 2006.
- Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm
nhìn 2020.
1. Trong lĩnh vực xã hội: Công tác phòng, chống AIDS ngày càng được xã hội
hoá:
Việt Nam đã xây dựng được một Chương trình Quốc gia với sự tham gia của phần
lớn các bộ, ngành, và các đoàn thể xã hội tham gia trực tiếp vào công tác phòng chống
AIDS như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam v.v Tạo được dư luận quần chúng, thu hút được sự quan
tâm cũng như phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhiều tầng lớp, cộng đồng dân
cư, chính quyền và các ngành, đoàn thể các cấp, các tổ chức tôn giáo cả về nhân lực,
với sự hợp tác, ủng hộ của các cơ quan hành pháp.
3. Chương trình quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS đã xây dựng được một
hệ thống tổ chức tương đối toàn diện và ngày càng hoàn thiện theo phương châm
liên ngành, toàn diện ở các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội trong toàn
quốc. Hệ thống này đã có khả năng huy động các nguồn lực của chính phủ và
quốc tế để thực hiện các hoạt động phòng chống quan trọng, làm chậm lại quá
trình lan truyền dịch.
- Tại tuyến TW, UBQG phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại
dâm được thành lập do một Phó Thủ tướng làm chủ tịch với sự tham gia của nhiều các
ban ngành, đoàn thể tổ chức xã hội liên quan bao gồm: Bộ Công an, Bộ LĐ-TB-XH,
Bộ Y tế, UBTW Mặt trận Tổ quốc VN, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Tài chính, Bộ
Giáo dục - Đào tạo, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ NN và PTNT, UBDTộc
miền núi, Văn phòng CP, Tổng cục HQ, Bộ đội biên phòng, Hội LHPNVN, Đoàn
TNCSHCM, Liên đoàn lao động VN.
- Sau hơn 15 năm ra đời và phát triển; Chương trình phòng chống HIV/AIDS ở
nước ta đã từng bước được mở rộng, lúc đầu chỉ trong phạm vi chỉ đạo của ngành y tế,
sau đó đã trở thành Chương trình mang tính liên ngành. Thành phần của Chương trình
phòng, chống HIV/AIDS hiện nay đã thể hiện rõ nét sự phối hợp liên ngành trong lĩnh
vực này.
4. Chương trình Quốc gia đã được xây dựng theo hướng toàn diện, hướng tới
các chuẩn mực quốc tế.
Tất cả các hoạt động phòng chống được UNAIDS khuyến nghị đều đã được áp
dụng ở Việt Nam với các mức độ khác nhau.
5. Bước đầu khống chế được tốc độ gia tăng của HIV/AIDS.
Theo kết quả giám sát trọng điểm trong thời gian qua, mặc dù tỷ lệ nhiễm vẫn
tăng trong tất cả các nhóm nhưng chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm có nguy cơ cao
đã có xu hướng giảm dần.
Tuy số người có HIV/AIDS mới được phát hiện ở nước ta vẫn còn gia tăng nhưng
tốc độ gia tăng vẫn ở mức thấp và sau 17 năm được phát hiện, dịch HIV/AIDS ở Việt
Nam vẫn được kìm giữ ở mức độ tập trung trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao,
khoa học cho công tác hoạch định chính sách, xác định các nội dung, biện pháp dự
phòng và can thiệp. Hệ thống giám sát và thông báo dịch tễ học HIV/AIDS ở nước ta
được đánh giá vào loại tốt ở Châu Á.
9. Bước đầu, một số mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm, Chăm sóc và hỗ
trợ người nhiễm HIV/AIDS đã được triển khai một cách có hiệu quả.
- Triển khai thí điểm can thiệp dự phòng HIV trong một số nhóm đối tượng có
hành vi nguy cơ cao như nhóm nghiện chích ma tuý (trao đổi - sử dụng bơm kim tiêm
sạch), trong nhóm gái mại dâm và lái xe đường dài (phân phát bao cao su, tiếp cận các
dịch vụ khám chữa bệnh) với mô hình giáo dục đồng đẳng. Tỷ lệ phần trăm thường
xuyên sử dụng BCS trong 12 tháng của các nhóm đối tượng có sự can thiệp của các
mô hình, dự án đã tăng rõ rệt sau 3 năm can thiệp.
- Bước đầu triển khai thí điểm công tác tư vấn và xét nghiệm tự nguyện dấu tên.
Thực hiện quản lý - chăm sóc và tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS.
- Tổ chức mạng lưới chăm sóc hỗ trợ nhằm giúp đỡ người nhiễm HIV/AIDS cả về
vật chất và tinh thần để tái hoà nhập với gia đình và cộng đồng.
- Định kỳ thăm khám và cấp phát thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
- Điều trị thí điểm các thuốc kháng Retrovirut; Thu dung, điều trị cho bệnh nhân
AIDS trong giai đoạn cấp tại các bệnh viện đa khoa.
- Điều trị dự phòng cho các nhân viên y tế và cán bộ thi hành công vụ bị phơi
nhiễm với HIV/AIDS, điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con.
10. Trong 15 năm qua (1990-2005), Công tác truyền thông và Giáo dục về
HIV/AIDS ở Việt Nam đạt được những thành công nhất định, như:
- Triển khai rộng rãi khắp cả nước hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông và
huy động cộng đồng tham gia chương trình phòng chống AIDS thông qua truyền
thông đại chúng, giáo dục học đường v.v đã thấy một sự thay đổi nhanh chóng của
người dân về những vấn đề cơ bản liên quan đến HIV/AIDS.
- Giúp người dân hiểu biết hơn về ba đường lây truyền chính của căn bệnh (thay vì
trước đây người ta đã cho rằng HIV/AIDS là căn bệnh của nước ngoài, HIV được
“nhập khẩu” và lây truyền ở Việt Nam là do những người nằm trong nhóm tệ nạn xã
hội);
đẩy lùi HIV/AIDS tại Việt Nam, cụ thể:
a. Hỗ trợ đa phương
- Chương trình Phòng chống AIDS của Liên Hiệp quốc (UNAIDS). Ở Việt nam,
UNAIDS tiến hành điều phối các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của 6 tổ chức
Liên Hiệp Quốc: Quĩ Nhi Đồng LHQ, Chương trình Phát triển LHQ, Quĩ dân số LHQ,
Chương trình Kiểm soát ma tuý LHQ, Tổ chức Y tế thế giới và Ngân hàng thế giới.
- Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP): Hỗ trợ Việt Nam qua dự
án "Nâng cao năng lực điều phối, lập kế hoạch và quản lý chương trình phòng chống
AIDS", nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và hoạch định chính sách về HIV/AIDS
cho cán bộ phòng chống HIV/AIDS
- Chương trình Kiểm soát ma tuý của Liên Hiệp Quốc (UNDCP): Hỗ trợ VN với
dự án kiểm soát ma tuý tập trung vào một số lĩnh vực như: Triệt phá việc trồng các
cây là nguồn cung cấp ma tuý; Dự phòng lạm dụng ma tuý, điều trị và các dịch vụ hỗ
trợ cai nghiện; hỗ trợ trong việc phối hợp soạn thảo các VBPL về ma tuý, xúc tiến sự
hợp tác quốc tế trong kiểm soát ma tuý.
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO). WHO đã và đang hỗ trợ trong lĩnh vực dịch tễ học
HIV/BLTQĐTD và lồng ghép vào chương trình Quốc gia phòng chống HIV/AIDS.
WHO cũng cấp kinh phí cho các hội thảo, học bổng và các đoàn khảo sát cho những
người đang hoạt động trong lĩnh vực PC AIDS
- Quĩ hỗ trợ Nhi đồng Quốc tế (UNICEF). UNICEF đang hỗ trợ triển khai Dự án
“Sức khoẻ thanh niên và phát triển và dự phòng HIV/AIDS ”. Đây là một phần của
Dự án khu vực sông Mekong, phối hợp với Bộ GD& ĐT và Hội chữ thập đỏ VN, tập
trung vào đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên 10- 18 tuổi. Dự án nhằm giảm số mới
mắc do lây truyền HIV bằng cách phát triển và đưa ra chương trình về Kỹ năng sống
cho các em trong và ngoài trường học.
- Quĩ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA). UNFPA tiến hành lồng ghép các tài liệu
về HIV/AIDS vào trong các chương trình TT-GD-TT của mình cũng như chương trình
đào tạo cán bộ y tế các cấp tại 8 tỉnh trọng điểm. UNFPA tiến hành hỗ trợ chương
trình chăm sóc sức khoẻ, bao gồm HIV/AIDS. UNFPA cũng giúp Bộ Giáo dục và
Đoàn Thanh niên về vấn đề phòng chống HIV/AIDS thông qua dự án ‘Giáo dục sức
chống AIDS.
Chính phủ Hoa Kỳ có hai chương trình chính, và thông qua đó những hỗ trợ về tài
chính và kỹ thuật được cung cấp cho Việt Nam.
Chương trình thứ nhất được USAID tài trợ thông qua tổ chức Sức khoẻ Gia đình
quốc tế (FHI) và dịch vụ dân số quốc tế (PSI).
FHI đang giúp đỡ phát triển các can thiệp dự phòng HIV tại 4 tỉnh (Quảng Ninh,
Bình Định, Hải Phòng và Cần Thơ) và giám sát hành vi tại 5 tỉnh thí điểm (Hà nội, Đà
nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Cần Thơ).
PSI đang tiến hành chương trình toàn quốc về tiếp thị xã hội bao cao su
Chương trình thứ hai được triển khai thông qua CDC với Dự án Dự phòng
HIV/AIDS tại Việt nam.
1. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
Tiền tài trợ năm tài chính 2004: 4.500.000 đô-la
USAIDS/Việt Nam hỗ trợ một chương trình HIV/AIDS có quy mô lớn nhằm phòng
chống và giảm nhẹ tác hại của HIV/AIDS, chăm sóc và giúp đỡ bệnh nhân HIV/AIDS
tại Việt Nam. Chương trình này gồm những dự án sau:
- Dự án IMPACT (Thực hiện Phòng AIDS và Chăm sóc Bệnh nhân AIDS) Toàn cầu.
- Dự án về chính sách (The Policy Project).
2. Bộ Y tế và Dịch vụ Con người Hoa Kỳ/Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật
(HHS/CDC)/ Phân ban HIV/ Phòng bệnh/Chương trình Lãnh đạo và Đầu tư chống lại
đại dịch (chương trình LIFE).
Số tiền tài trợ năm tài chính 2004: 2.850.000 đô-la
3. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DOD)/Chương trình Phòng chống HIV/AIDS/Bộ Tư lệnh
Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (USPACOM)/Trung tâm Đào tạo Nâng cao Kiểm soát
Thảm họa và Trợ giúp Nhân đạo
Tiền tài trợ năm tài chính 2004: 350.000 đô-la
4. Bộ Lao động Hoa Kỳ (USDOL)/Cục Lao động Quốc tế/Chương trình Cải thiện Môi
trường Làm việc Thông qua Giáo dục Phòng chống HIV/AIDS)
Tiền tài trợ năm tài chính 2004: 250.000 đô-la
* Từ năm 1999 đến năm 2011, các tổ chức Quốc tế đã hỗ trợ 134,6 triệu USD để
hệ thống của Chính phủ.
Sự hợp nhất UBQG Phòng, chống AIDS với các UB phòng, chống ma tuý và mại
dâm thành UBQG Phòng chống AIDS - Ma tuý - Mại dâm dường như là cơ hội để
tăng cường sự phối hợp liên ngành.Tuy nhiên, sự phối hợp này còn rất lỏng lẻo, thể
hiện ở sự thiếu đồng bộ trong một số chính sách có liên quan đến HIV/AIDS như
chính sách về giảm tác hại trong các nhóm có hành vi nguy cơ.
Chỉ riêng trong Bộ Y tế đã tồn tại song song 2 cơ quan có cùng chức năng phòng,
chống AIDS là Ban phòng, chống AIDS và Văn phòng thường trực phòng, chống
AIDS; sức mạnh trong chỉ đạo triển khai các hoạt động từ trung ương đến địa phương
vì vậy chưa thể tập trung.
- Ở địa phương, bộ máy phòng, chống AIDS chưa có mô hình, thống nhất; hầu hết
cán bộ chuyên trách đều làm kiêm nhiệm và chưa có chức danh cụ thể để trực tiếp
chịu trách nhiệm quản lý và điều hành. Cán bộ tham gia phòng chống căn bệnh này
thường xem đây là công việc làm thuê, không phải là một ngành nghề chuyên nghiệp,
ổn định và lâu dài. Bên cạnh đó, đòi hỏi cả về chuyên môn y tế và kỹ năng hoạt động
xã hội thường khiến người tham gia nhụt chí; tổ chức phòng chống AIDS thường
không đủ.
- Việc thay đổi liên tục về mô hình tổ chức phòng, chống HIV/AIDS tại tuyến TW
thể hiện sự tăng cường quản lý Nhà nước đối với công tác này nhưng cũng làm nhiều
nơi lúng túng không chuyển đổi kịp dẫn đến hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
những nơi này bị ngưng trệ.
* Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Mô hình Bộ máy tổ chức phòng, chống HIV/AIDS chưa hoàn thiện, thống nhất.
Thiếu phương tiện vật chất kỹ thuật, nhân lực tham gia.
- Hệ thống tổ chức cơ quan chuyên trách phòng, chống HIV/AIDS từ Trung ương
đến địa phương trong cả nước còn lỏng lẻo, tạm thời.
- Sự chỉ đạo giữa UBQG phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại
dâm với Cục phòng, chống HIV/AIDS thông qua Bộ Y tế chưa được thắt chặt
2. Thiếu sự phối hợp liên ngành trong công tác phòng chống HIV/AISD từ
1990-2005. Sự phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS ở nước ta còn
- Thiếu kinh phí hoạt động, thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực và có tâm huyết, thiếu
tài liệu và phương tiện, thiếu hoạt động giám sát, kiểm tra, đánh giá hiệu quả của sự
phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS.
Ở hầu hết các Bộ, Ngành, đoàn thể và các địa phương, hoạt động phối hợp liên
ngành trong phòng, chống HIV/AIDS chủ yếu do các ngành thành viên tự xây dựng
kế hoạch, tự triển khai hoạt động sau khi có kinh phí phân bổ và tự báo cáo kết quả.
Việc giám sát lẫn nhau giữa các bên, giữa Bộ chủ quản với các đơn vị trực thuộc cũng
như giữa UB phòng, chống AIDS và phòng, chống TNXH ma tuý, mại dâm với các
thành viên chưa được quan tâm thực hiện.
- Phối hợp liên ngành trong thời gian qua chủ yếu mới chỉ thể hiện trong lĩnh vực
truyền thông tại tuyến cơ sở xã/phường, chưa quan tâm nhiều đến việc quản lý, chăm
sóc và tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng.
Ở nhiều địa phương hiện nay mảng công việc này chủ yếu vẫn chỉ do ngành y tế
đảm nhận. Trong xu hướng gia tăng của đại dịch, số người nhiễm HIV trong cộng
đồng sẽ ngày càng nhiều, chắc chắn sẽ vượt quá khả năng đáp ứng của y tế cơ sở. Huy
động sự tham gia của các lực lượng xã hội vào hoạt động quản lý, chăm sóc, tư vấn
cho người có HIV/AIDS vì vậy sẽ là rất cần thiết. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này
sẽ tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định xã hội do những người bị nhiễm HIV không được
chăm sóc, điều trị, bị kỳ thị phân biệt đối xử sẽ tập hợp thành một lực lượng xã hội với
những phản ứng tiêu cực.
* Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Công tác phòng, chống HIV/AIDS chưa được xây dựng thành chương trình phối
hợp liên ngành.
- Cơ sở pháp lý cho hoạt động liên ngành ph òng chống HIV/AIDS chưa hoàn
thiện. Việc ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể cơ chế, cách thức phối hợp cũng như
xác định rõ hơn nữa trách nhiệm của mỗi lực lượng xã hội khi tham gia, đặc biệt là sự
cam kết đầu tư nguồn lực chưa thống nhất.
3. Nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo và Sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính
quyền ở một số địa phương chưa thật sự được chú trọng.
- Một bộ phận không nhỏ đội ngũ lãnh đạo ở các cấp cơ sở chưa nhận thức đúng
Thực tế cho thấy, công tác phối hợp liên ngành phòng, chống HIV/AIDS tại mỗi
địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng và đã có sự chỉ đạo thống nhất của Đảng
và Chính phủ về thực hiện chủ trương này song chỉ khi nào lãnh đạo địa phương thực
sự vào cuộc thì khi đó hoạt động phối hợp liên ngành mới có hiệu quả. Đây là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế hiệu quả hoạt động của phối hợp liên
ngành phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian qua ở nước ta.
* Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Nhận thức, trách nhiệm, sự chỉ đạo của các cấp còn hạn chế.
- Thiếu sự theo dõi, kiểm tra, giám sát thường xuyên của các cấp, đặc biệt là cơ chế
giám sát, đánh giá liên ngành đối với hoạt động phòng chống HIV/AIDS của các
thành viên.
4. Nhân lực chuyên môn: Thiếu và yếu. Chế độ chính sách cho cán bộ Y tế
trực tiếp chăm sóc, hỗ trợ, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS còn nhiều
bất cập,
So với nhu cầu ngày càng tăng của hoạt động chăm sóc, điều trị và hỗ trợ ngưòi
nhiễm HIV/AIDS thì nhân lực tham gia vào hệ thống phòng, chống HIV/AIDS còn
thiếu cả về số lượng và hạn chế về mặt chất lượng. Cả nước hầu như không có cán bộ
chuyên trách ở cấp địa phương từ tỉnh trở xuống. Điều này làm hạn chế việc thực thi
chương trình một cách mạnh mẽ, sâu sắc. Cụ thể:
* Hệ thố ng chăm sóc đi ều trị HIV/AIDS nư ớc ta còn yếu.
- Hiện cả nước có 03 cơ sở điều trị ở tuyến trung ương gồm: Viện các bệnh truyền
nhiễm và Nhiệt đới Quốc gia, Bệnh viện đa khoa Trung ương Huế và Bệnh viện nhiệt
đới TP Hồ Chí Minh.
- Ở tuyến tỉnh, tiểu ban điều trị được thành lập trên cơ sở khoa truyền nhiễm bệnh
viện đa khoa tỉnh trực thuộc Ban phòng chống HIV/AIDS hoặc Văn phòng thường
trực HIV/AIDS.
- Ở tuyến huyện là bệnh viện huyện và ở tuyến xã là các trạm y tế xã…
Tuy nhiên, Ngoài các địa phương có triển khai Phòng khám ngoại trú, có chương
trình dự án thì hoạt động tương đối hiệu quả, còn lại đều tỏ ra rất lúng túng và nhiều
yếu điểm. Đặc biệt là hầu hết các cơ sở tuyến huyện chưa đủ điều kiện cả về nhân lực
Các phòng khám ngoại trú chủ yếu được thành lập dựa trên sự tài trợ của các
chương trình dự án như: Life-Gap, Pepfar, Quỹ toàn cầu…
- Ở các địa phương không có chương trình dự án thì việc triển khai công tác chăm
sóc, điều trị cho bệnh nhân HIV vẫn chủ yếu dựa trên cơ sở bệnh viện đa khoa tỉnh,
chưa có các quy định về tổ chức, nhân sự, kinh phí…của các phòng khám ngoại trú
cho chăm sóc, điều trị và hỗ trợ người nhiễm. Và hiện mới chỉ có 30% bệnh nhân
AIDS (khoảng trên 10.000 người) tiếp cận được với thuốc kháng HIV (ARV).
Đa số bệnh nhân là người nghèo, không nơi nương tựa. Chế độ Bảo hiểm Y tế,
viện phí cho chăm sóc và điều trị, khả năng tiếp cận các dịch vụ Y tế của người nhiễm
còn rất thấp, ngoại trừ một số dự án có tài trợ. Tại Việt Nam, bệnh nhân HIV/AIDS
mua thuốc trên thị trường chợ đen hoặc chỉ uống khi họ có đủ khả năng chi trả,
ngừng uống khi hết tiền và uống lại khi có tiền!
* Công tác tư v ấ n chưa đư ợ c quan tâm đúng m ức.
- Đội ngũ làm y tế công cộng chưa được đề cao đúng mức và thiếu kinh nghiệm tư
vấn. Nhiều người cho rằng, công tác tư vấn phải gắn với các bác sĩ, y tá chứ không
phải người làm công tác y tế công cộng hoặc nếu cần, bệnh nhân có thể đến bệnh viện
để được tư vấn miễn phí nhưng thường thì buổi tư vấn chỉ rất ngắn và sơ sài.
- Hiện nay, nhiều tổ chức phi chính phủ làm công tác tư vấn rất tốt nhưng ít người
bệnh biết để tìm đến. Mối liên kết giữa các tổ chức cũng rất lỏng lẻo. Luật chưa có chế
độ riêng cho người làm công tác tư vấn miễn phí.
- Hiện chúng ta chưa có một đội ngũ tư vấn ở cộng đồng để làm chi tiết như lên
lịch uống thuốc, lên lịch khám chữa bệnh, tìm hiểu tác dụng phụ của việc điều trị. Bởi
thuốc điều trị HIV/AIDS phải kiên trì dùng cả đời. Những người bị nhiễm HIV, khi bị
sốt, sẵn sàng ra hiệu thuốc mua kháng sinh và uống theo hướng dẫn của bà bán thuốc
hơn là theo đơn của bác sĩ. Rõ ràng việc tư vấn ở VN đang bị ảnh hưởng bởi yếu tố
tâm lý
* Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Nhân sự phòng chống HIV/AIDS không ổn định, chủ yếu là kiêm nhiệm, không
có hoặc có rất ít người làm chuyên trách.
- Việc thuyên chuyển cán bộ, nhất là những cán bộ đã được đào tạo về phòng
người sống với HIV bị gia đình hắt hủi, bạn bè cự tuyệt, cộng đồng xa lánh; bị phân
biệt đối xử ở các cơ sở y tế, tại nơi làm việc và ở trường học là những hiện tượng phổ
biến.
Sự kỳ thị và phân biệt đối xử khiến những người có HIV không dám bộc lộ thân
phận, không thể áp dụng các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV cho người thân
của mình khiến cho HIV/AIDS tiếp tục lây lan trong cộng đồng.
Có thể nói, kỳ thị và phân biệt đối xử chính là rào cản làm giảm đi hiệu quả của
những nỗ lực trong công tác phòng, chống HIV/AIDS ở nước ta.
* Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Pháp luật chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm của các đối tượng liên
quan về chống sự kỳ thị, phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV/AIDS.
- Công tác giáo dục, truyền thông chưa đáp ứng được yêu cầu.
6. Công tác truyền thông, giáo dục còn hạn chế: “Lệch đường ray”.
Thứ nhất, công tác giáo dục truyền thông chưa đến được với nhiều đối tượng quan
trọng, trong đó có các cán bộ chủ chốt các cấp chưa nhận thức được đầy đủ công tác
phòng, chống HIV/AIDS, chưa thấy được trách nhiệm, tình cảm của mình để thực
hiện tốt công tác này.
Thứ hai, là công tác truyền thông giáo dục chưa đến được và ít có dịp tiếp xúc với
những đối tượng có nguy cơ cao như gái mại dâm, lái xe đường dài, người tiêm chích
ma túy.
Thứ ba, Truyền thông đã không làm được việc cung cấp các địa chỉ tư vấn cho
bệnh nhân.
Thứ tư, Trong thời gian dài vừa qua, thông điệp và hình thức truyền thông về
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên còn mang tính chung nhất, chưa tác động lớn tới nhận
thức về HIV/AIDS.
Thứ năm, Nội dung, biện pháp của Công tác giáo dục, truyền thông về HIV/AIDS
trong thời gian qua vẫn nặng tính “hù dọa” hơn là giải thích, điều này chỉ đẩy thêm sợ
hãi và tăng thêm sự kỳ thị và tỷ lệ nhiễm bệnh.
- Qua các kênh thông tin, những chương trình truyền thông về HIV/AIDS thường
đưa ra các tiểu phẩm, hình ảnh, pano, áp phích tờ rơi tuyên truyền rùng rợn như đầu