Báo cáo nghiên cứu khoa học: " GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

135
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SOLUTIONS FOR DEVELOPING STOCK SERVICES IN DA NANG CITY

Nguyễn Hòa Nhân, Võ Thị Thúy Anh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Quy mô hoạt động của dịch vụ chứng khoán (CK) tại th ành phố ĐN còn nhỏ, dịch vụ
cung cấp nghèo nàn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển, mức độ cạnh tranh vẫn chưa
cao. Nội dung chính của bài báo là đánh giá thực trạng của dịch vụ CK, nhận diện những thuận
lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của phát triển dịch vụ CK và qua đó xác định mục tiêu, định
hướng, lộ trình và giải pháp phát triển dịch vụ CK cho TPĐN giai đoạn 2010-2020. Do vậy, bài
báo gồm có 6 phần. Phần 1: đặt vấn đề, phần 2 đánh giá thực trạng của dịch vụ CK trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng; phần 3 đánh giá khả năng phát triển của dịch vụ này; phần 4 trình bày
dự báo về nhu cầu của dịch vụ CK; phần 5 đưa ra định hướng phát triển của dịch vụ CK và
phần 6 là hệ thống các giải pháp, kiến nghị, khuyến nghị đối với chính phủ và chính quyền
thành phố nhằm phát triển dịch vụ CK tại thành phố Đà Nẵng theo định hướng đề ra.
ABSTRACT
Stock services in Da Nang city are very poor with small scale, and they do not match
the city’s stock service development potential. Furthermore, the competitive ability of the
services is not high.This article concentrates on evaluating the stock services in Da Nang city,
identifying the advantages, disadvantages, opportunities, and challenges of the stock service
development and presents the objectives, orientations, strategies and solutions for developing
the stock services of Da Nang city from 2010 to 2020. The article includes 6 sections. The first
section is the introduction; the second section evaluates the reality of the stock services in Da
Nang city; the third part evaluates the development capacity of these services; the fourth
presents the prediction of the demand for these services; the fifth one presents the orientation

Thị phần của thị trường dịch vụ CK phân chia tương đối đều cho 3 nhóm: 19 đại
lý CK, công ty DNSC, 4 chi nhánh công ty CK (VCBS, FPTS, ABS, ACBS) (bảng 2).
Theo đánh giá của người lao động làm việc trong lĩnh vực CK, mức độ cạnh
tranh hiện tại chưa quá gay gắt và khả năng cạnh tranh của các đơn vị tốt (bảng 3).
2.3. Vốn, công nghệ và trình độ lao động chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
Dịch vụ CK yêu cầu mức đầu tư vào công nghệ cao. 19 đại lý CK hầu như
không quan tâm đến vấn đề đầu tư vào công nghệ. Các chi nhánh công ty CK như
ACBS, VCBS, FPTS, ABS mới mở, đã đầu tư về công nghệ hiện đại, và đều đã có giao
dịch trực tuyến. Công nghệ của DNSC cũng tương đối tốt và hiện đang là đơn vị có khả
năng cạnh tranh mạnh nhất tại ĐN. Tuy nhiên, mức vốn hoạt động của các đơn vị CK
vẫn còn thấp và chưa đáp ứng tốt nhu cầu phát triển dịch vụ. Chẳng hạn như DNSC,
vốn điều lệ chỉ có 50 tỷ đồng.
Trong số 54 nhân viên làm việc trong lĩnh vực CK được phỏng vấn, có đến 33%
đánh giá công nghệ đơn vị đang sử dụng chỉ đạt mức trung bình hoặc kém (bảng 4) và
78% cho rằng đơn vị nên đổi mới công nghệ.
Tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực CK là 128 người, trong đó lao động
trực tiếp là 94 người, lao động hỗ trợ 34 người. Toàn bộ số lao động trực tiếp này đều
có trình độ đại học hoặc sau đại học nhưng số lao động có khả năng thực hiện những
công việc có yêu cầu chuyên môn cao như phân tích tình hình TCDN, phân tích kỹ
thuật, phân tích ngành, phân tích thị trường, tư vấn, quản trị danh mục đầu tư cho khách
hàng chỉ khoảng 6-8 người. Hầu hết những dịch vụ cung cấp thông tin này do hội sở
chính của các công ty CK tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội thực hiện. 19 đại lý CK tại TP
chỉ có trung bình 1-2 lao động. Các chi nhánh công ty CK tại ĐN mặc dù có lượng lao
động nhiều hơn (trung bình 5-8 lao động một chi nhánh), nhưng hoạt động chủ yếu cũng
là môi giới CK, quản lý sổ cổ đông. Công ty DNSC mặc dù chiếm đến gần 40% thị

1
Không tính chi nhánh công ty CK ngân hàng nông nghiệp, bắt đầu hoạt động từ tháng 12/2008.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009


vốn huy động năm 2007 tăng 52,74% so với năm 2006, đạt 17.974 tỷ đồng. Dư nợ cho
vay cũng tăng tương ứng với mức huy động, 52,97% đạt 21.961 tỷ đồng.
Sự phát triển của dịch vụ NH trên địa bàn ĐN là một tiền đề rất thuận lợi cho
việc phát triển dịch vụ CK. 4 NH lớn là ACB, An Bình, Nông nghiệp, Ngoại thương đã
có công ty CK trực thuộc NH và có chi nhánh tại ĐN. 9 NH có đại lý CK trực thuộc
NH. Sự phát triển của hệ thống NH còn tạo ra một hệ quả tích cực khác khi chính các
NH này tham gia vào thị trường CK với tư cách đơn vị niêm yết hoặc là nhà đầu tư.
3.2. Khó khăn
Thị trường tài chính nói chung và thị trường CK nói riêng gặp khó khăn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

138
Năm 2008, thị trường TC Việt Nam chịu ảnh hưởng tác động của khủng hoảng
TC thế giới. Lạm phát và lãi suất tăng cao đã làm cho khả năng thanh khoản của thị
trường giảm sút, từ đó đã ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực TC cho đầu tư phát
triển.
Thị trường CK biến động bất thường. Chỉ số VN-Index cuối năm 2008 đã giảm
gần 70% so với đầu năm 2008. Khủng hoảng tiền tệ trong 9 tháng đầu năm 2008, và đặc
biệt là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng TC toàn cầu bắt đầu nổ ra từ quý 3/2008, khiến
cho dòng vốn nước ngoài giảm mạnh, sức cầu trên thị trường yếu đi.
Mật độ dân cư và quy mô dân số thấp hơn nhiều so với Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
Quy mô và mật độ dân số TPĐN thấp hơn rất nhiều so với Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh. So với hai TP lớn ở hai đầu, mật độ dân số của ĐN chỉ bằng khoảng 1/5. Đây
cũng là một hạn chế cho việc phát triển dịch vụ CK tại TPĐN do nhu cầu về dịch vụ của
khách hàng cá nhân không cao. Hơn nữa, điều này cũng hạn chế sự phát triển của các
DN công nghiệp và dịch vụ khác do thị trường tiêu thụ sản phẩm có quy mô nhỏ. Và
điều này cũng có nghĩa là thị trường khách hàng DN của dịch vụ CK cũng bị ảnh hưởng
theo chiều hướng không thuận lợi.
Số lượng DN còn ít, quy mô DN nhỏ, định hướng phát triển dịch vụ hơn là công nghiệp
So với Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, số lượng DN của TPĐN ít hơn nhiều. Vào

Hồ Chí Minh có 11 công ty cổ phần, Hà Nội có 52 công ty.
Số lượng công ty cổ phần niêm yết ít, vốn điều lệ nhỏ cũng là một hạn chế cho
việc phát triển dịch vụ CK tại ĐN. Trên HOSE có 11 công ty còn trên HASTC có 29
công ty của toàn khu vực miền Trung và Tây nguyên. Do vậy, ngay cả khi hướng đến
thị trường toàn khu vực miền Trung và Tây nguyên, nhu cầu khách hàng DN cũng khá
thấp so với tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
Tích lũy thấp
Cầu về dịch vụ TC tỷ lệ thuận với mức tích lũy. Mặc dù mức thu nhập bình quân
đầu người của TPĐN đã tăng đến 18,8 triệu đồng/năm nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so
với thu nhập bình quân đầu người của Hồ Chí Minh (2100 USD tức khoảng 35,7 triệu
đồng/năm) và tất nhiên là thấp hơn nhiều so với các TP lớn trong khu vực Đông Nam Á.
Thu nhập thấp đồng nghĩa với tích lũy thấp, khả năng đầu tư kém và cầu về dịch vụ CK
của khách hàng cá nhân thấp.
3.3. Cơ hội
Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có ảnh hưởng lớn đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và ĐN nói riêng. Đặc biệt, việc
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
của dịch vụ TC. Vào năm 2011, Việt Nam cho phép thành lập công ty CK 100% vốn
nước ngoài. Sự có mặt của các công ty CK nước ngoài sẽ thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao
chất lượng dịch vụ CK.
Với môi trường đầu tư được xem là tốt nhất Việt Nam hiện nay, ĐN có khả năng
thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Thị trường TC nói chung và thị trường CK nói riêng vẫn ở giai đoạn đầu của sự
phát triển, vì vậy tiềm năng phát triển còn rất lớn.
3.4. Thách thức
Khó khăn kinh tế của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2008 có những tác động
rất tiêu cực đến nền kinh tế ĐN, đặc biệt là đến dịch vụ CK. Lạm phát cao, các NH
thiếu vốn, lãi suất NH leo thang, thị trường CK ảm đạm, VNindex giảm xuống còn dưới
300 điểm (giảm 70% so với đầu năm 2008). 3 tháng cuối năm 2008, Việt Nam vừa thoát
ra được nguy cơ của khủng hoảng TC thì lại là lúc cuộc khủng hoảng TC của Mỹ và

về dịch vụ CK của khách hàng cá nhân trong giai đoạn 2011-2012 sẽ tăng chậm (dưới
10%/năm) do vẫn bị ảnh hưởng của khủng hoảng TC thế giới và sự am hiểu của người
dân về CK chưa cao. Giai đoạn 2013-2015, nhu cầu này tăng khá nhanh, khoảng trên
20%/ năm. Trong giai đoạn 2016 -2020, nhu cầu đầu tư CK gia tăng cùng với mức độ
gia tăng của tích lũy cá nhân và CK sẽ là một kênh đầu tư phổ biến của khách hàng cá
nhân.
4.2. Nhu cầu của doanh nghiệp
Số lượng DN tại TPĐN tăng nhanh qua các năm, từ 1938 DN vào thời điểm
31/12/2004 tăng lên đến 4032 DN vào 31/12/2007. DN ngoài nhà nước chiếm đến trên
96% tổng số DN. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến 2020 của
TPĐN, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 là 12,6%, giai đoạn 2016 -2020 là
12,95% và giai đoạn 2011 -2020 là 12,8%. Tốc độ tăng bình quân GDP công nghiệp -
xây dựng giai đoạn 2011-2015 là 12,2% và giai đoạn 2016 -2020 là 12,3%, giá trị sản
xuất công nghiệp (theo giá 94) tăng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 10,6% và giai
đoạn 2016-2020 là 12,3%. Các DN công nghiệp thường có nhu cầu huy động vốn qua
thị trường CK cao hơn so với các DN dịch vụ (trừ dịch vụ bảo hiểm, NH) do quy mô
lớn. Sự phát triển kinh tế TP nói chung và ngành công nghiệp nói riêng sẽ thúc đẩy sự
gia tăng nhu cầu về dịch vụ CK của các DN.
Số DN của các tỉnh miền Trung và Tây nguyên (không tính Lâm Đồng) gia tăng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

141
từ 13.553 DN năm 2004 lên 20.782 DN trong năm 2007. Đây cũng là thị trường tiềm
năng mà các DN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ TC của TPĐN nên hướng đến.
Trong giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng trưởng hàng năm về nhu cầu của DN sẽ
đạt đến 20-22%. Giai đoạn 2016-2020, tốc độ này sẽ chững lại nhưng cũng sẽ đạt mức
17-20%.

5. Định hướng phát triển dịch vụ chứng khoán tại thành phố Đà Nẵng
Mục tiêu phát triển của ngành dịch vụ CK được xây dựng trên cơ sở báo cáo quy


TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

142
6. Các giải pháp, kiến nghị, khuyến nghị nhằm thực hiện được mục tiêu phát triển
dịch vụ CK
6.1. Giải pháp đối với các đơn vị chứng khoán
Đào tạo nguồn nhân lực:
Trong giai đoạn 2010-2015, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao gia tăng
mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô. Các DN nên tổ chức đào tạo liên tục cho
nhân viên cũ, tuyển dụng nhân viên mới có trình độ chuyên môn cao. Để đáp ứng được
nhu cầu về lao động chất lượng cao trong giai đoạn đến, ngay từ bây giờ, các DN nên
đặt hàng cho Đại học ĐN đào tạo những chuyên ngành theo đúng yêu cầu về chuyên
môn của mình.
TPĐN nên dành một phần ngân sách đào tạo để hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế cho các công ty CK như hỗ trợ gửi nhân viên ra
nước ngoài đào tạo.
Hạn chế sự bất đối xứng về thông tin và tăng cường sự minh bạch của thông tin:
Để có thể thể tăng cường sự minh bạch thông tin, cần phải tạo ra môi trường
kinh doanh lành mạnh, có sự điều chỉnh của luật pháp đối với những DN che giấu hay
làm sai lệch thông tin. Bản thân các DN phải tự giác và phải thấy được vai trò của việc
công khai thông tin đối với khả năng phát triển DN, đặc biệt là khả năng huy động vốn
thông qua thị trường CK.
Chính sách lương và s ự đãi ngộ hợp lý đối người lao động:
Dịch vụ CK là một dạng dịch vụ cao cấp, chuyên sâu. Do đó, yêu cầu về trình độ
chuyên môn của người lao động cao. Mặt khác, DN phải có chế độ tiền lương phù hợp
nhằm tạo điều kiện thu hút và giữ được nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao,
khuyến khích người lao động không ngừng tự nâng cao trình độ chuyên môn.
Quốc tế hóa đội ngũ nhân viên:
Để nâng cao khả năng tiếp cận và hội nhập vào thị trường TC thế giới, nâng cao

đầu tư) tốt hơn và ngược lại, sự phát triển của thị trường CK sẽ thúc đẩy sự phát triển
của các quỹ đầu tư và NH đầu tư. Chính vì vậy, TPĐN cần phải tạo điều kiện cho sự
hình thành, phát triển các quỹ đầu tư, NH đầu tư tại TP nhằm phát triển dịch vụ CK, tạo
điều kiện cho sự phân bổ vốn tốt hơn. Mặt khác, TPĐN cũng nên chuyển Quỹ đầu tư
phát triển TPĐN sang hình thức công ty đầu tư hoạt động theo luật DN.
TP ĐN cần xây dựng các phương án phát hành trái phiếu địa phương
Nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế xã hội của TP rất lớn. Việc
phát hành các loại trái phiếu địa phương như trái phiếu TP sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu
này. Bên cạnh đó, trái phiếu địa phương sẽ góp phần làm đa dạng hóa hàng hóa trên thị
trường CK, góp phần thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ này.
TP ĐN cần tạo điều kiện cho sự thành lập công ty CK có hội sở chính tại ĐN
Một hạn chế cho sự phát triển dịch vụ CK tại TPĐN là ngoại trừ công ty CK ĐN
(DNSC), tất cả các đơn vị cung cấp dịch vụ CK tại TPĐN đều là chi nhánh hoặc đại lý
của các công ty CK tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Do vậy, hoạt động của các đơn vị này
chỉ là bán dịch vụ, còn sản phẩm dịch vụ được xây dựng, phát triển và thực hiện tại hội sở
chính. Để dịch vụ CK có thể phát triển và đáp ứng nhu cầu không chỉ của TPĐN mà còn
của cả khu vực miền Trung và Tây nguyên, cần phải có một số công ty CK có hội sở
chính đặt tại ĐN. Những công ty này sẽ đóng vai trò trung tâm, thúc đẩy dịch vụ CK tại
TP phát triển.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

144
Nhà nước nên thành lập và phát triển thị trường CK phái sinh
Thị trường CK phái sinh được xem là một trong những giải pháp giải cứu cho sự
sụt giảm của thị trường CK Việt Nam. Sự hình thành thị trường CK phái sinh sẽ giúp cho
các nhà đầu tư có khả năng phòng ngừa và quản lý rủi ro khi đầu tư thông qua việc sử
dụng các sản phẩm phái sinh như hợp đồng forward (kỳ hạn), future (tương lai), option
(quyền chọn), swap (hoán đổi). Mặt khác, các sản phẩm này cũng tạo ra khả năng đầu cơ
cho các nhà đầu tư mà không cần phải có nhiều vốn do mức ký quỹ thấp hơn rất nhiều so
với giá trị hợp đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status