Kinh nghiệm phát triển khu kinh tế trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
Hiện nay, khu kinh tế (KKT - bao gồm KKT ven biển, KKT cửa khẩu, KKT quốc
phòng) là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế đang được nhân
rộng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Sự hoạt động
của các KKT tạo ra mối liên kết giữa các ngành kinh tế, các hình thức tổ chức lãnh
thổ theo ngành, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài, tạo nên động lực thúc đẩy
nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Bài viết xin giới thiệu và tìm
hiểu sự phát triển của các KKT trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu KKT ven biển.
I. Mở đầu
Hiện nay, khu kinh tế (KKT - bao gồm KKT ven biển, KKT cửa khẩu, KKT
quốc phòng) là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế đang được
nhân rộng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Sự hoạt
động của các KKT tạo ra mối liên kết giữa các ngành kinh tế, các hình thức tổ
chức lãnh thổ theo ngành, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài, tạo nên động lực
thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Bài viết xin giới thiệu
và tìm hiểu sự phát triển của các KKT trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu KKT ven biển.
II. Nội dung
1. Những vấn đề chung về KKT
1.1. Khái niệm và đặc trưng
- Thuật ngữ “Khu kinh tế” (Economic zones) xuất hiện từ cuối thập niên 70 của
thế kỷ trước từ Trung Quốc. Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về KKT.
Theo nghĩa rộng, KKT là những khu vực địa lý được áp dụng những chính sách
kinh tế đặc biệt. Theo nghĩa hẹp, KKT là một loại hình riêng của khu kinh tế tự do,
đầy đủ như một xã hội thu nhỏ. Đó là một khu vực địa lý riêng biệt, được áp dụng
những chính sách kinh tế đặc biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ,
kiến thức về quản lý để phát triển kinh tế với một cơ cấu ngành nghề đầy đủ, trong
đó ưu tiên phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu, nhưng cũng không bỏ qua
thị trường nội địa. KKT bao gồm tất cả các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự
do, được tổ chức thành các khu chức năng: khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng
Thứ ba, các KKT góp phần khai thác hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của
quốc gia, các khu vực. Ở những khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
thuận lợi, với sự xuất hiện của các KKT đã làm cho việc khai thác và sử dụng các
nguồn lực trở nên hiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển sôi động hơn, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở những khu vực
có đất đai cằn cỗi, hoang hóa, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, ít có khả
năng sinh lợi, khi KKT được xây dựng và đi vào hoạt động với sự thu hút đầu tư
cả trong và ngoài nước đã làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội thay đổi hẳn: các vùng
thuần nông trở thành các vùng kinh tế đa ngành, trong đó các ngành công nghiệp
và dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn, còn nông nghiệp chuyển sang nền nông
nghiệp sản xuất hàng hóa; chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ
rệt.
Thứ tư, các KKT tạo thêm việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động.
Sự hoạt động đa ngành nghề của các KKT đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao
động, đặc biệt là lao động địa phương với chính sách ưu tiên giải quyết việc làm
cho lao động tại chỗ. Với yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế, trình độ
lao động trong các KKT cũng phải được nâng lên xứng tầm. Do đó, khi đi vào
hoạt động, các KKT một mặt thu hút lao động có chất lượng, mặt khác có hỗ trợ
để bồi dưỡng nâng cao tay nghề lao động. Đồng thời, với quy chế hoạt động sản
xuất, kinh doanh chặt chẽ, các KKT còn rèn luyện tác phong lao động mới và nâng
cao tính kỷ luật lao động.
Thứ năm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực xuất
khẩu. Sự phát triển của các KKT với việc ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp
và dịch vụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khu vực 1
sang khi vực 2 và 3, kéo theo chuyển dịch lao động tương ứng. Nơi đây có sự tập
trung và ưu tiên về vốn, khoa học - công nghệ, do đó sản phẩm có khả năng cạnh
tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Điều này làm tăng cơ hội xuất
khẩu cho hàng hóa được sản xuất trong các KKT.
Thứ sáu, góp phần đổi mới cơ chế quản lí, cải thiện môi trường đầu tư và mở
rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước trên thế giới. Rút kinh nghiệm từ
HongKong. Các thủ tục đầu tư và kinh doanh được tinh giản theo phương thức
một cửa. Hàn Quốc cũng triển khai một số dự án bổ trợ cho KKT (xây dựng quần
thể công nghệ thông tin đa phương tiện, công trình phục vụ du lịch, triển lãm, mở
rộng và nâng cấp sân bay, cảng trong KKT ) [6].
Một số nước Asean như Malaysia, Philippines cũng xây dựng các KKT và đã
đạt được một số thành công nhất định. Nhưng vấn đề các quốc gia này cần phải
quan tâm điều chỉnh để các KKT phát triển hiệu quả hơn cũng như đóng góp nhiều
hơn cho kinh tế quốc gia là tăng cường hơn nữa việc sử dụng nguyên liệu trong
nước.
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Vận dụng kinh nghiệm của các nước trong việc đầu tư có trọng điểm nhằm thu
hút đầu tư nước ngoài, phát huy tiềm năng trong nước tạo nên động lực trong phát
triển kinh tế, Việt Nam đã triển khai xây dựng và phát triển các KKT. Từ 1 KKT
đầu tiên được thành lập cách đây 7 năm (KKT Chu Lai: 2003), đến nay Việt Nam
đã có 15 KKT trải dọc theo chiều dài ven biển. Các KKT đã được thành lập tại Việt Nam đến 2010
STT
Khu kinh tế Địa điểm
Thời gian
thành lập*
Diện tích
(nghìn
ha)**
1 Chu Lai Quảng Nam 05/06/2003 27,0
2 Dung Quất Quảng Ngãi 21/03/2005 10,3
3 Nhơn Hội Bình Định 14/06/2005 12,0
4 Chân Mây - Lăng Cô Thừa Thiên
như: Nhà máy lọc dầu số 1 và số 2, Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu
Sơn Dương, Nhà máy cơ khí Doosan, các Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn, Vũng
Áng, Nhà máy xi măng Nghi Sơn… Kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội phục vụ
chung cho KKT được đầu tư và đang dần hoàn thiện. Các KKT cũng đã giải
quyết việc làm cho trên 3 vạn lao động cải thiện đáng kể đời sống của người
dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các KKT của Việt Nam còn
phải đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại: lao động có chuyên môn kỹ thuật thiếu
trầm trọng; cơ sở hạ tầng thiết yếu chưa đáp ứng được với yêu cầu của các nhà
đầu tư; chất lượng dự án đầu tư chưa được quan tâm đúng mức; còn lúng túng
trong khi triển khai do mô hình quản lý, cơ chế hoạt động; chính sách đối với
các KKT chưa thống nhất, chưa đồng bộ với các quyết định thành lập KKT
Kết hợp những bài học từ việc xây dựng và phát triển các KKT của các quốc
gia đi trước, rút kinh nghiệm trong chính quá trình hoạt động của mình, để khắc
phục được khó khăn, tồn tại và đạt hiệu quả cao hơn nữa, xứng với mục tiêu đặt
ra, phát triển các KKT ở Việt Nam trong thời gian tới cần lưu ý một số điểm
sau:
Thứ nhất, phải có sự kết hợp giữa nguồn lực bên trong trong và nguồn lực
bên ngoài, thu hút đầu tư nước ngoài để khơi dậy tiềm năng trong nước, khai
thác và sử dụng chúng một cách hợp lý và hiệu quả.
Thứ hai, phải có cơ chế ưu đãi đặc biệt, thủ tục hành chính gọn nhẹ (chú
trọng đến việc xây dựng những cơ chế chính sách riêng mà các nơi khác không
có) mới có thể thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài tạo ra sự phát triển nhảy vọt.
Thứ ba, ba yếu tố mang tính chất quyết định đến thành công của việc xây
dựng và phát triển các KKT là: thời điểm (thời cơ), địa điểm và con người. Chỉ
khi có thể kết hợp được ba yếu tố này thì việc xây dựng các KKT mới có thể
thành công được.
Thứ tư, phải lựa chọn đúng mô hình KKT phù hợp với điều kiện thực tiễn
của quốc gia, lựa chọn chính xác mục tiêu và đối tác phát triển.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện, thống nhất cơ chế hoạt động và chính sách phù