BÁO CÁO CÔNG TÁC
- Người viết: TS. Colin Cargill-
***********************************************
Miền Trung Việt nam – Từ 8/11 đến 23/11/2007
Dự án CARD (424 7155 01 004/05VIE)
Dự án phát triển chăn nuôi lợn nông hộ nhỏ bền vững ở Miền Trung Việt Nam
Các bên tham gia:
Phía Việt Nam:
- Bộ môn Nghiên cứu gia súc nhỏ - Viện Chăn nuôi
- Khoa Chăn nuôi – Đại học Nông Lâm Huế
- Bộ môn Vi trùng – Viện Thú Y
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị
- Hội Nông dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Phía Úc:
- Trường Thú y – Đại học Queensland
- Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Úc
- Trung tâm Nghiên cứu bệnh lợn – Phòng Công nghiệp cơ bản Victoria
Ngày báo cáo: Tháng 05/2008 MỤC TIÊU CỦA CHUYẾN CÔNG TÁC
1. Tới Thành phố Hồ Chí Minh:
a. Gặp tiến sỹ Tony Fahy và ông Patrick Daniel
b. Thăm tiến sỹ Đồng mạnh Hòa, Giám đốc Trung tâm Thú y vùng 6
2. Tới Huế:
a. Đánh giá sự tiến triển của dự án
b. Gặp tiến sỹ Linh và nhóm của ông ta để thảo luận về những mẫu thiết kế chuồng đẻ và
các chuồng cho nái sau cai sữa. 20 trại có các hộp sưởi và m
ặc dù các chủ trại đều thích những
hộp này nhưng chỉ một người duy nhất tự đóng thêm hộp để dùng. Chi phí của mỗi hộp khoảng
400.000-500.000 VND (tương đương 28-30 AUD), dường như khá đắt. Mỗi trại lợn của dự án
cũng đã nhận được 5-6 lợn Móng Cái hậu bị, nhiều lợn trong số này hoặc đang mang thai hoặc
đã đẻ. Ban đầu, nhóm của trường Đại học Nông Lâm Huế chọn 27 trại lợn tham gia, nhưng 3 trại
đã bị loại từ khi dự án bắt đầu.
Ở tỉnh Quảng Trị, nhóm của Viện Chăn nuôi đã chọn được 30 trại lợn, chúng tôi đã thăm 9 trại
trong 2 ngày (15 và 16/11). Không có trại nào được cung cấp hộp sưởi và chỉ một số ít có xây
các chuồng cho nái sau cai sữa. Lợn hậu bị chưa được đưa vào vì dịch Lở mồm long móng,
nhưng anh Biên cam kết sẽ có các trại trình diễn ở Quảng Trị sẵn sàng vào tháng 01/2008.
Một câu hỏi được đưa ra về dòng ngân sách dự án để cung cấp lợn hậu bị, nhưng khi kiểm tra
ngân sách không thấy có. Chưa có cố gắng nào được tiến hành để cung cấp các chuồng đẻ vì
nhìn chung chúng quá đắt. Chi phí của các chuồng nhập khẩu dao động khoảng 3 triệu VND
(214 AUD) từ Trung Quốc tới khoảng 7 triệu VND (500 AUD) từ Châu Âu. Tuy nhiên, một nhà
sản xuất ở
địa phương có thể làm mẫu chuồng với giá hợp lý hơn nhiều.
Những vấn đề chính được xác định ở các trại lợn ở cả 2 tỉnh, đó là:
1. Thông gió:
Ở nhiều chuồng thiếu sự thông gió cần thiết, thậm chí ở cả những chuồng được thiết kế
tốt với các bức tường mở tối ưu. Các chủ trại che các bức tường mở b
ằng các túi nhựa và miễn
cưỡng tháo bỏ chúng, thậm chí khi trời mát mẻ và không mưa. Một phần của lý do theo họ là tốn
thời gian để mở chúng. Vì vậy, một mô hình trình diễn về cách làm một tấm rèm che có thể cuộn
lên-xuống ngoài các túi nhựa sẽ có hiệu quả. Ở một trại đã thăm ở Thừa Thiên Huế, giá trị của
nông sản có sẵn tại địa phương trộn lẫn với thức ăn đậm đặc. Các nguyên liệu dùng trong khẩu
phần ăn gồm: gạo, cám gạo, ngô, bột sắn, cá muối, thân cây chuối và khoai lang. Một ví dụ điển
hình của một khẩu phần ăn là:
a. Gạo 0.7 kg, cám gạo 1 kg, ngô 1 kg, khoai lang 3 kg, thức ăn đậm đặc 0.5 kg. Đôi khi
thức ăn đậm đặc được thay bằng cá hoặc cá muối.
b. Chi phí nguyên liệu được định giá theo VND/kg là: gạo 4000, cám gạo 3000, bột sắn
2000, ngô 4000, cá 10000 và cá muối 6000.
c. Mặc dù lợn nái chỉ được cho ăn 2.5 kg/ngày nh
ưng chỉ số thể trạng của tất cả nái ở trại
này là trên 2.5.
d. Ở một trại khác, lợn vỗ béo được cho ăn thức ăn đậm đặc, lợn được cho ăn 0.5 tới 0.9
kg/ngày từ lúc cai sữa cho tới 30 kg, 0.9 tới 1.5 kg/ngày từ 31 tới 60 kg, và 1.5 tới 2.2 kg/ngày từ
61 tới 100 kg.
5. Nước uống:
Hầu hết các trại lợn không cung cấp đủ nước uống liên tục cho lợn, thậm chí là v
ới nái
đang nuôi con. Điều này cần được chú ý và cải thiện ngay.
6. Ghi chép:
Ở một số trại đã thăm ở tỉnh Thừa Thiên Huế có sổ ghi chép theo dõi lợn nái, nhưng
không có trại nào ở tỉnh Quảng Trị có sổ này. Việc ghi chép sẽ giúp cho việc đánh giá của dự án
nếu sổ theo dõi nái và lứa đẻ được giữ ở tất cả các trại lợn và nếu một số trại ở mỗi tỉnh được
chọn để theo dõi chi tiết hơn. Quy mô lứa đẻ ở các trại đã thăm dao động từ 2 tới 15 nhưng
không phải luôn luôn có thể thu được số liệu về số con sinh ra còn sống trên tổng số sinh và số
con cai sữa. Điều này cũng sẽ có ích để có đánh giá hợp lý về số lứa đẻ/nái/năm, vì hầu hết các
trại sử dụng thụ tinh nhân tạo cho nái và nhiều trại không có lợn đực. Chúng tôi đã làm tăng đáng
kể năng suất chăn nuôi ở Indonesia bằng việc cung cấp các trại lợn đực ở các làng, tại đó có thể
chủ trại. Tiến sỹ Duyệt đã thu được thành công khả quan với 2 trại mà chúng tôi đã thăm ở vùng
mà ông phụ trách, tại đây bức tường sau của chuồng lợn đã được mở thoáng cung cấp sự thông
gió tốt hơn và tạo cho lợn khu vệ sinh bên ngoài chuồng. Điều này đã cải thiện một cách hiệu
quả vệ sinh và thông gió và giảm mùi hôi bên trong nhà ở. Khu vực vệ sinh cũng đã được di
chuyển ra xa khỏi khu vực nấu ăn của gia đình. Một điển hình tốt nữa về chuồng nuôi liền với
nhà ở được cải tạo tốt được quan sát thấy ở Quảng Trị.
Thị trường thịt lợn
Theo tất cả những gì mà tôi hiểu về quá trình buôn bán thịt lợn, những người thu mua sẽ
mua lợn từ các trại lợn theo như yêu cầu và cung cấp cho người trung gian giết thịt lợn và bán
thân thịt lợn cho các chủ qu
ầy thịt ở các chợ bán thực phẩm tươi hoặc cho các nhà chế biến. Một
người trung gian mà chúng tôi ghé thăm là một phụ nữ có tới 12 người thu mua với 200-300 lợn
mỗi ngày để giết thịt. Phần lớn lợn là giống nhập ngoại, thu mua chủ yếu từ tỉnh Bình Định, còn
lại là các giống lai (F1) thu mua quanh thành phố Huế. Giống Móng Cái thuần có xu hướng được
sử dụng chỉ để gây giống F1.
Giá bán hiện tại với giống lợn lai là 22000 VND/kg trọng lượng hơi và 14000 VND/kg cho
giống nhập ngoại. Giá thịt lợn móc hàm là 35000 VND/kg với giống nhập ngoại (tỷ lệ thịt 75%)
và 32000 VND/kg với giống lai (tỷ lệ thịt 65-68%). Xương đầu to ở những giống lai làm giảm tỷ
lệ thịt và lợn thường được bán ở khoảng 65-70 kg trọng lượng hơi. Thịt của giống nhập ngoại
bán chạy hơn của giống F1, và giá cả sẽ tăng lên khi dịp Tết đến gần. Vào mùa hè các đồ hải sản
được bầy bán nhiều hơn làm giảm giá thịt lợn. Hiện tại giá thịt lợn ở các chợ thực phẩm tươi là
khoảng 55000 VND.
Do vậy, trị giá của một lợn giống lai bán hơi là khoảng 1,5 triệu VND (106 AUD) và của giống
lợn nhập ngoại (bán ở khoảng 90 kg) là 2,2 triệu VND (157 AUD).
HỌP NHÓM DỰ ÁN CARD TẠI VIỆN THÚ Y – HÀ NỘI
Thành phần tham dự: Tiến sỹ Phú và anh Tuấn (Viện Thú y), tiến sỹ Côi và anh Biên (Viện
nào để cung cấp khẩu phần ăn cân bằng với chi phí giảm bằng cách pha trộn các khẩu
phần ăn đậm đặc với nông sản trồng ở địa phương.
Chúng ta cũng cần đảm bảo rằng nhóm trường Đại học Nông Lâm Huế có bộ đồ mổ khám và
dụ
ng cụ chẩn đoán khi họ thăm các trại lợn. Để làm được việc này thì theo gợi ý anh Tuấn (Viện
Thú y) nên mang thêm một bộ đồ mổ khám và dụng cụ chẩn đoán cho nhóm của Đại học Nông
Lâm Huế và hướng dẫn cách sử dụng khi anh ta có mặt ở đó. Anh ta cũng nên đến thăm các trại
ở Quảng Trị với anh Biên và lặp lại thực hành.
Chúng tôi cũng thống nhất rằng nên chọn 5 trại lợn ở mỗi tỉnh và tăng lượng thông tin thu thập
được qua ghi chép của chủ trại. Tuy nhiên việc này có thể được mở rộng để bao gồm tất cả các
trại vì điều này sẽ cung cấp thông tin chắc chắn để đảm bảo giá trị của dự án. Việc này có thể
được bao hàm như một trong những hoạt động của dự án được cam kết trong chuyến thăm của
Tarni.
Trong khi tôi nhận thấy rằng có sự thống nhất chung với những đề xuất, ai đó sẽ cần nắm trách
nhiệm thực hiện từng việc. Tôi thấy vui khi được làm việc với tiến sỹ Duyệt và anh Biên về việc
chuẩn bị một bản thông tin có cơ sở hợp lý về sử dụng hộp sưởi và cải thiện thông gió, cũng như
bản thông tin về tầm quan trọng của việc cung cấp nước đầy đủ. Tiến sỹ Tony Fahy đã thu thập
và cung cấp nhiều thông tin được yêu cầu về sử dụng kháng sinh và lịch tiêm phòng vacxin, và
anh Tuấn có thể hoàn thành nhiệm vụ này dưới sự hướng dẫn của tiến sỹ Tony và tiến sỹ Phú.
Một điểm được tiến sỹ Tony đưa ra là mặc dù có sẵn các loại vacxin nhưng hầu hết chủ nuôi
cũng như các cán bộ thú y làm công tác khuyến nông không biết về hoặc là vacxin hoặc là cách
sử dụng chúng. Tương tự, họ có ít kiến thức về loại thuốc nào sử dụng phù hợp với những triệu
chứng bệnh lâm sàng cụ thể và cách sử dụng chúng.
THĂM TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LỢN THỤY PHƯƠNG
Kết quả chính từ chuyến thăm của chúng tôi đến Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương là tìm