Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô nông hộ tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam - MS11 " - Pdf 15


1

Ministry of Agriculture & Rural Development

Báo cáo tiến độ của dự án CARD

004/05VIE

Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô nông hộ
tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam
MS11: Báo cáo 6 tháng lần 5

06/2008 - 12/2008
2
1. Thông tin về các đối tác:
Tên dự án
Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô nong hộ
tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam

Các đối tác tham gia phía Việt
Nam

Chức vụ
Giảng viên chính, trường Thú Y,
Đại học Tổng hợp Queensland
Fax:
617 336 51355
Cơ quan
Trường Thú Y, Đại học Tổng hợp
Queensland
Email:

Phía Australia: Quản lý hành chính
Tên
Melissa Anderson
Telephone:
61 7 33652651
Chức vụ
Trưởng văn phòng các dự án
nghiên cứu
Fax:
61 7 33651188
Cơ quan
Trường Tài nguyên đất và thức
ăn, Đại học Tổng hợp Queensland
Email:

thu nhận được các kiến thức và các kỹ năng có thể
áp dụng được thành công trong thực tế. 3. Tóm tắt kế hoạch:
Dự án được thực hiện với 6 mục tiêu chính: 1. Tập huấn cho các giáo viên; 2. Lựa chọn các trại; 3.
Làm quen với các phương pháp chăn nuôi tốt nhất; 4. Đưa lợn giống xuống các nông hộ; 5. Theo
dõi các lợi nhuận; và 6. Củng cố lợi nhuận.

Trong thời gian 6 tháng thực hiện dự án (tháng 6 đến tháng 12 năm 2008), các công việc của dự án
đã được thực hiện đối với các mục tiêu 3, 5 và 6. Điểm nhấn của giai đo
ạn này là việc tham dự và
trình bày các báo cáo dạng poster tại Hội nghị Chăn nuôi Thú Y Á - Úc lần thứ 13 tại Hà Nội từ
ngày 22 đến ngày 27 tháng 9 năm 2008.

Trong thời gian 6 tháng thứ 2 thực hiện dự án, các tiến độ đáng kể đã được thực hiện đối với các
mục tiêu 2-4, theo đúng như đề cương của dự án, với 1 số những thay đổi nhỏ và yêu cầu kéo dài
thêm thời gian do 1 số tình huống không được dự báo tr
ước. Một nhóm đông đảo các nhà khoa học
Việt Nam có liên quan đến dự án đã tham dự hội nghị nhằm cập nhật các kiến thức và kỹ năng của
họ, đồng thời, chính các báo cáo tham dự hội nghị cũng đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm và
thảo luận của những người tham gia hội nghị. Cùng với các chuyến công tác được thực hiện bởi các
nhà khoa học Australia mà hiện đã đượ
c lập kế hoạch là sẽ tiến hành cứ 6 tháng 1 lần, một chương
trình sáng kiến tập huấn/đánh giá lớn khác đã được lập kế hoạch vào thời gian từ tháng 11/2008 đến
tháng 02/2009. TS. Cargill và Dr. Fahy đã tiến hành các kiểm tra/đánh giá đầu tiên, đã cung cấp các
cách thức điều trị thiết yếu nhất và các quy trình tiêm vacxin cho dự án, sau đó đã chuyển giao trách

4
nhiệm cho TS. Kit Parke và Ms. Tarni Cooper sẽ tiến hành thực hiện trong thời gian còn lại của dự

in Quang Tri so that farmers can meet and exchange ideas and form strong networks. Further
initiatives to improve the use of piggery effluent, either for biogas production, or for composting
were also successful. If a similar organisation was set up in Thua Thien Hue, the farmers would
form a strong collective unit in Central Vietnam which would fulfil the requirements of a breeding
zone.

Một trong những kết quả đáng phấn khích của dự án là việc thành lập nên mô hình "Câu lạc bộ
Nông dân" ở tỉnh Quảng Trị, nhờ đó mà những người nông dân có thể gặp gỡ và trao đổi ý tưởng và
hình thành nên một hệ thống mạng lưới mạnh. Các sáng kiến hành động tiếp theo sẽ là c
ải tiến việc
sử dụng các chất thải trong chăn nuôi lợn, hoặc là cho việc sản xuất khí biogas, hoặc là tạo thành
dạng phân bón cũng đã rất thành công. Nếu một mô hình tương tự cũng được tạo lập ở Thừa Thiên
Huế, thì những người nông dân sẽ tạo thành một tập hợp mạnh mẽ ở miền Trung Việt Nam, hoàn
toàn có thể đáp ứng được các yêu cầu của 1 vùng giố
ng. Năm 2009, không có một chuyến công tác nào được lập kế hoạch để tạo cơ hội cho việc giám sát
lợi nhận trong thời kỳ dài và đối với các cộng sự phía Việt Nam để có thể thực hiện được các
khuyến cáo đã được đưa ra. Trong chuyến công tác lần cuối này, một đánh giá/kiểm tra tổng thể sẽ
được tiến hành với các trại của dự án, đồng thời tiế
n hành so sánh với các trại nuôi bình thường
khác ở trong cùng xã/huyện đó (các trại này cũng bao gồm trong số các trại được điều tra năm
2006/2007) như là một cách làm đối chứng. Trong tháng giêng năm 2010, một chương trình tập
huấn lớn theo hình thức truyền đạt từ người nông dân tới người nông dân sẽ được tiến hành với mỗi
huyện chính để kết thúc dự án, tuy nhiên, quỹ để tiếp tục chương trình này cho đến tận cu
ối năm
2010 cũng vẫn còn, cùng với việc Ms. Tarni sẽ sử dụng các trại mô hình này để tiến hành một dự án
nghiên cứu nhỏ của cô ấy vào năm cuối cùng của chương trình đại học.


• Thiếu các theo dõi về tình hình bệnh tật của đàn lợn, đặc biệt là về tỷ lệ chết, tuổi và nguyên
nhân gây chết
• Chiến lược tiêm phòng vacxin cho các bệnh chưa đứng, do vậy đã làm hạn chế tác dụng
phòng bệnh của vacxin
• Thi
ếu chuyên gia thú y và các cán bộ khuyến nông để đào tạo và chỉ dẫn cho nông dân
• Thiếu các mô hình trình diễn tại các tỉnh để tập huấn cho những người cần học

Để có các hiểu biết rõ ràng hơn về các rủi ro làm hạn chế và giảm hiệu quả chăn nuôi lợn,
cần phải có 1 cuộc điều tra trên số lượng nông hộ tương đối lớn tại các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế, Quảng Nam và Bình Định. Các số liệu theo dõi trước đó về vấn đề chăn nuôi, thú y, chuồng
trại, môi trường và thu nhập sẽ được thu thập và đánh giá để xác định các ưu tiên nghiên cứu. Một
ví dụ đại diện của các trại chăn nuôi quy mô nhỏ (được giới hạn là nuôi <10-15 lợn nái) và các trại
thương phẩm nhỏ (30-100 nái) ở từng tỉnh sẽ được lựa chọn để tham gia vào quá trình điề
u tra và
đánh giá – các tiêu chuẩn để đánh giá mức độ chăn nuôi, trình độ của người chăn nuôi và các điều
kiện chăn nuôi tại các trại. Trước khi triển khai điều tra, các nhà khoa học phía Việt Nam sẽ được
tập huấn để tổ chức các chuyến kiểm tra thực địa và phòng vấn nông hộ, thu thập số liệu về sức sản
xuất và các điều kiện về trang thiết bị
khác.
Tiếp theo các cuộc điều tra ở các trại đã được chọn lựa tại 3 tỉnh, 1 cuộc hội thảo sẽ đựoc tổ
chức tại Trường Đại học Nông lâm Huế để xác định các yếu tố rủi ro chính có ảnh hưởng đến năng
suát chăn nuôi lợn. Những ưu tiên nghiên cứu sẽ được xác lập cho việc cải tiến quản lý, các kỹ
thuật chăn nuôi và chu
ồng trại tại các nông hộ. Điều này sẽ có dẫn đến kết quả là việc phát triển các
mô hình chuồng nuôi thích hợp cho chăn nuôi lợn (với những cải tiến phù hợp), cũng như là các kỹ
thuật chăn nuôi và quản lý. Một khi mà các mô hình này được đánh giá thông qua, hàng loạt các
chuyến đi thực địa sẽ được triển khai ở các huyện mà các cán bộ khuyến nông và thú y địa phương
là những người đã đượ
c đào tạo sẽ tham gia tích cực. Các nông dân dã được lựa chọn sẽ được mời

Conference in Hanoi and presentations of papers and posters.
1) Tham gia Hội nghị chăn nuôi Thú Y khu vực Á-Úc lần thứ 13 tại Hà Nội, trình bày các bài báo
và các poster

Hội nghị chăn nuôi Thú Y Á-Úc được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 22 đến ngày 27 tháng 9 năm 2008
và tổng số 13 nhà khoa học Việt Nam đang tham gia vào dự án CARD đã tham dự hội nghị. Danh
sách của những người tham dự hội nghị như sau:
- Trường Đại học Huế:
1. Nguyen Quang Linh
2. Ho Ngoc Phuong
3. Ngo Huu Toan
4. Ha Thi Hue
5. Hoang Nghia Duyet
- Viện chăn nuôi (NIAH)
6. Ta Thi Bich Duyen
7. Nguyen Que Coi
8. Dang Hoang Bien
9. Nguyen Nguyet Cam
- Việ
n Thú Y (NIVR)
10. Cu Huu Phu
11. Au Xuan Tuan
12. Nguyen Xuan Huyen
13. Do Ngoc Thuy

Chủ đề của Hội nghị là "Chăn nuôi và vai trò của các trại chăn nuôi nhỏ trong nền kinh tế toàn cầu",
đã thu hút sự tham gia của 800 người tham dự, bao gồm các nhà khoa học, các chủ trang trại và sinh
viên đến từ xấp xỉ 40 quốc gia trên toàn thế giới. Các nhà khoa học tham gia dự án CARD-
004/05VIE đã trình bày tổng số 6 poster (xem Phụ lục 1: Các báo khoa học tham dự Hội nghị).


¾ Các lợn nái gầy do không được cho ăn đầy đủ
¾ Các lợn cai sữa bị lạnh và không có các hộp sưởi ấm
¾ Tiêu chảy do môi trường ẩm ướt
¾ Khẩu phần ăn bị giới hạn
¾ Áp lực nước ở vòi nước quá mạnh hoặc không có nước uống đủ trong ngày
¾ Mức độ thông thoáng gió kém do các mi
ếng sắt chắn, hoặc các tòa nhà khác ở cạnh bên làm
giảm mức độ lưu thông không khí
¾ Lợn bị ghẻ

Các kết luận được rút ra từ chương trình tập huấn này là như sau:

Các ưu điểm bao gồm:

¾ Cơ hội để trình diễn một cách trực tiếp cho người nông dân
¾ Các phương tiện, dụng cụ để hướng dẫn rất dễ để hi
ểu
¾ Đội ngũ tham gia dự án hiểu về người nông dân một cách kỹ càng theo chủ quan của họ

Các nhược điểm bao gồm:
¾ Các vấn đề về phòng chống dịch bệnh và an toàn sinh học - cần một số trang thiết bị
o Quần áo bảo hộ lao động
o Ủng
o Bảo hộ (chụp) giầy dép
¾ Cần phải có các trại mô hình
o Nên xây d
ựng 1 trại kiểu mẫu hội tụ tất cả các ưu điểm
o Song song với đó là một trại chăn nuôi kém với các nhược điểm
¾ Cần chuẩn bị kế hoạch trong thời gian dài
o Một vài tuần thảo luận bằng email, thay vì chỉ bằng một tuần

 Hệ thống nước làm mát trên mái hoặc phun sương ở trong chuồng
 Trồng các cây có bóng mát
 Trồng các cây leo ở trên mái
 Nên lợp ngói trên mái là tốt nhất

Dựa vào các kết quả đã thu được trong tháng 5, các tài liệu cho tập huấn đã được biện soạn cho các
chương trình tập huấn trong thời gian tới. (Xem: Phụ lục 3: Thông thoáng gió). Các lịch trình tiêm
vacxin và một danh sách của các thuốc có thể dùng để điều trị dựa trên cơ sở các thuốc có bán tại
các hiệu thuốc địa phương cũ
ng đã được thiết kế (Phụ lục 4: Lịch trình điều trị và tiêm vacxin)

3) Các báo cáo từ NIAH và HUAF
Thực tế, NIAH đã cung cấp các chi tiết cho báo cáo 6 tháng vừa qua của năm 2008 trong MS9. Còn
đối với MS11, Dr. Duyen đã cung cấp 2 báo cáo, 1 là từ việc hình thành vùng lợn giống Móng Cái
thuần chủng ở miền Trung Việt Nam (Phụ lục 5: Thành lập "câu lạc bộ nông dân", và báo cáo thứ 2
là về tóm tắt các bệnh xảy ra tại các huyện trong năm 2008, một số giả
i pháp về vấn đề nước thải
môi trường (Phụ lục 6: Báo cáo về Thú Y và môi trường). "Câu lạc bộ nông dân" là một sáng kiến
thành công, được phát triển bởi nhóm các cộng sự từ NIAH để tạo điều kiện cho những người nông
dân có thể trao đổi các ý tưởng, thông tin, hỗ trợ lẫn nhau và đưa ra các quyết định về các sáng kiến
chủ yếu đối với vùng lợn giống, đồng thời tiếp tục ti
ếp thu, chấp nhận các thay đổi trong chăn nuôi
mà chính họ đã phát triển nên. Có một sự đoàn kết chặt chẽ đã được hình thành trong số những
người nông dân mà có thể dự án có thể dựa vào đó để thực hiện sáng kiến tập huấn trong tương lai.
Các báo cáo về thú y và môi trường cũng đã báo cáo về sự xuất hiện của bệnh hô hấp ở Quảng Trị,
và có thể có mối liên quan tới bệ
nh PRRS như là các nguyên nhân nhiễm trùng thứ phát, làm phức
tạp thêm bức tranh toàn cảnh về bệnh này. Việc này đã được chứng minh bằng các đáp ứng của lợn
bị bệnh với các loại kháng sinh dùng để điều trị. Các báo cáo cũng đã đề cập đến các bệnh tiêu
chảy, tuy nhiên do không có khả năng chẩn đoán chính xác các nguyên nhân gây bệnh một cách rõ

cuộc hội thảo về Sức khỏe và bệnh tật của đàn lợn. Cuộc hội thảo này sẽ bao gồ
m một vài trong số
các bệnh quan trọng và thường gặp nhất ở lợn ở Việt Nam và một số bệnh khác có thể xảy ra, kể cả
bệnh xoắn khuẩn. Ấn tượng bao trùm trong các chuyến công tác của Ms. Tarni và Dr. Kit trong
năm trước đó là những tiến bộ đáng kể ở cả 2 tỉnh, và những thay đổi tiếp theo cũng sẽ dễ dàng có
thể đạt được thông qua cách truyền đạt/tập hu
ấn cho nông dân. Việc thành lập "Câu lạc bộ nông
dân" tại tỉnh Quảng Trị đã có tác dụng rất tốt và mô hình này cũng nên được áp dụng tại Thừa
Thiên Huế. Ms. Tarni cũng đã xây dựng một hệ thống câu hỏi về việc xây dựng hệ thống Biogas để
xác định được các khó khăn, từ đó có biện pháp để điều chỉnh/thay đổi. Một cách tổng thể, do chẩn
đoán chưa chính xác, t
ừ đó dẫn đến việc điều trị bệnh không hợp lý, đó chính là các trở ngại chính
và các hạn chế chính đối với chăn nuôi lợn ở cả 2 vùng (xem Phần Khuyến cáo). Báo cáo về chuyến
công tác của Ms. Tarni cũng được gửi kèm theo báo cáo này (Xem Phụ lục 8: Báo cáo về chuyến
công tác của Tarni Cooper năm 2009) - báo cáo này, cùng với hội thảo do Dr. Kit Parke, Dr.
Cargill, Dr. Fahy tổ chức sẽ được đưa vào tóm tắt trong báo cáo đánh giá cuối cùng của dự án (Tiế
n
độ 12) 5.3. Các lợi ích của các hộ chăn nuôi nhỏ:
Trong giai đoạn này, các nông hộ nhỏ đã được trực tiếp nhận các thứ sau:

In this time period, selected smallholder farmers have been the direct recipients of the following:

• Tài liệu, hướng dẫn và các lời khuyến cáo, động viên để thành lập nên các nhóm nông dân
để có thể hướng dẫn các hộ chăn nuôi lợn khác trong vùng
• Tiếp tục tập huấn thông qua các kiểm tra/đánh giá định kỳ và tiến hành các thay đổi phù hợp
• Trợ giúp trong việc sử dụng đúng cách các chất thải; cung c
ấp và sử dụng các chế phẩm EM


Các bằng chứng về tăng cường năng lực cho dự án trong nghiên cứu và phát triển có thể được thấy
rất rõ trong ví dụ sau. Trong sáng kiến của minh, Dr. Duyet từ HUAF đã viết 1 đề c
ương nghiên
cứu về ảnh hưởng của việc làm mát lợn nái đối với khả năng sinh sản (Xem phụ lục 9: Đề cương
nghiên cứu của TS. Duyet). Đội những người thực hiện dự án phía Australia đã rất ấn tượng với
cách làm này, và dự án nhỏ này đã được tài trợ từ nguồn tiền tư vấn của trường UQ. Hiện tại, chúng
tôi cũng đang tiến hành kêu gọi các cộ
ng sự trẻ khác phía Việt Nam tiến hành viết các đề cương
nghiên cứu tương tự để mở rộng hướng nghiên cứu trong năm 2010, theo sau đó là việc nộp báo cáo
cuối cùng của dự án. 5.5 Việc công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trường Đại học Tổng hợp Queensland đã tiến hành đăng tải một bài báo về các nghiên cứu đã được
Ms. Tarni Cooper thực hiện tại Việt Nam vào 2008/2009
( />) 5.6 Quản lý dự án
Không có gì thay đổi trong nhân sự thực hiện dự án.
6. Về một số vấn đề có liên quan
6.1 Môi trường
Các công việc của dự án có tính chất bảo tồn thông qua việc làm hài hòa giữa vấn đề bệnh tật, sản
xuất thịt và việc chuyển hóa một cách an toàn các chất thải thành nguồn năng lượng có giá trị là các
kết quả quan trọng và có ý nghĩa lớn của dự án. Số nông trại sử dụng biogas hiện đang tăng lên và
nhiều nông dân hiện nay đã xây dựng khu chứa chất thải riêng biệt ở trong chuồng nuôi lợ
n, các hệ
thống cống để chứa nước thải, ứng dụng kỹ thuật ủ chất thải thành phân vi sinh, giảm ruồi muỗi.
Các vấn đề về an toàn sinh học và các bệnh truyền nhiễm có thể lây sang người cũng cần phải được

nhầm lẫn trong việc xem xét tới tầm quan trọng của việc điều trị hoặc phòng bệnh trong các giai
đoạn chăn nuôi nhất định. Ví dụ, trong báo cáo của Dr. Thuy tại Hội nghị AAAP đã khẳng định
rằng bệnh do cầu trùng là rất phổ biến ở các lợn nuôi tại các gia đình, kể cả các nguyên nhân về
rotavirus, TGE và ETEC. Cầu trùng có thể dễ dàng được phát hiện ra và điều trị bằ
ng cách cho
uống toltrazuril vào lúc 3-6 ngày tuổi. Bệnh do Rotavirus và TGE cũng có thể được cải thiện bằng
cách lưu ý nhiều hơn tới vấn đến sức khỏe có lợn, giữ cho không khí ấm và khô. Còn tiêu chảy ở
lợn con do ETEC cũng có thể được khống chế bằng cách tiêm vacxin được chế từ các chủng vi
khuẩn gây dung huyết và xuất hiện phổ biến trong 10 ngày đầu cho tới khi lợn con cai sữa.
Giải pháp:
1) Ngay lập tức, nên s
ử dụng vacxin do NIVR chế tạo để phòng bệnh do E. coli gây ra cho lợn
ở tất cả các trại mô hình, đồng thời lập kế hoạch về việc thử nghiệm vacxin, kể cả việc xác
định các nguyên nhân gây tiêu chảy, trên cơ sở đó sẽ tiến hành đăng ký chính thức vacxin và
sử dụng vacxin rộng rãi trên toàn quốc. Một thử nghiệm trên thực địa như vậy khó có thể
được thực hiện trong thời gian trước đây do các tr
ở ngại về vấn đề chuồng trại, thiếu cách
chăm sóc, quản lý thích hợp, gây ra một tỷ lệ rất cao các lợn bị tiêu chảy do rất nhiều
nguyên nhân khác nhau.
2) Thiết lập năng lực chẩn đoán bệnh tiêu chảy lợn ở miền Trung Việt Nam, đặt tại HUAF
bằng cách chuyển giao các kỹ thuật và tập huấn từ NIVR (Dr. Do Ngoc Thuy), nhờ vậy mà
các mẫu có thể được gửi t
ới nơi chẩn đoán gần hơn tại các trại mô hình.
3) Thành lập các mô hình tập hợp nông dân ở Thừa Thiên Huế và tổ chức các buổi họp thường
xuyên giữa 2 tỉnh để giúp cho việc nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề về dịch
bệnh
4) Giới thiệu các quy trình điều trị thông thường đối với csac bệnh ký sinh trùng đường tiêu
hóa, ghẻ và một s
ố bệnh truyền nhiễm khác theo quy trình điều trị và tiêm phòng vacxin do
Dr. Tony Fahy xây dựng nên

tham gia chương trình tập huấn "nông dân huấn luyện cho nông dân"
5) Lên kế hoạch mua và chuyển laptop, GPS, máy ảnh, máy chiếu, và bộ dụng cụ mổ cho chương
trình tập huấn vào tháng 12
6) Lập kế hoạch và chọn các trại cho kiểm tra/đánh giá lần cuối vào tháng 12 và chương trình tập
huấn vào tháng 1-sẽ đượ
c thảo luận với sự trợ giúp của GS.TS. Elske van de Fliert.

9. Kết luận
Các tiến độ đáng kể mà dự án đã đạt được trong giai đoạn báo cáo, chủ yếu là do các nhà khoa học
phía Australia đã giành nhiều thời gian hơn ở tại Việt nam để tìm hiểu cặn kẽ một vài vấn đề như
việc sử dụng vacxin và thuốc kháng sinh. Các nhà khoa học đã tiếp tục phát huy các kỹ năng của họ
và đã thành lập nên hội nông dân và tập trung chủ yếu vào việc cải thiệ
n tình hình môi trường bằng
cách sử dụng có hiệu quả hơn các chất thải từ chuồng nuôi lợn. Việc sử dụng đúng thuốc và phòng
các bệnh dịch có tính chất địa phưuowng, cách quản lý bệnh PRRS và một số bệnh dịch khác, việc
cung cấp quy trình sử dụng thuốc kháng sinh, phòng bệnh tiêu chảy do các nguyên nhân có thể
phòng tránh được là những kết quả hoàn toàn có thể đạt được với những nỗ lực từ chính nh
ững
người nông dân khi họ cân nhắc các việc này một cách nghiêm túc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status