Ministry of Agriculture & Rural Development Báo cáo tiến độ của dự án CARD
004/05VIE
Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô nông hộ
tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam
MS6: Các Trại trình diễn
1. Thông tin về các đối tác:
Tên dự án
Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô nong hộ
tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam
Các đối tác tham gia phía Việt
Nam
o Các thống nhất về việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật tại các trại mô hình
o Các trách nhiệm và quyền lợi đối với các việc được thực hiện tại trại mô hình, và các
trại thực hiện theo sau trên cơ sở các chương trình khuy
ến nông, bao gồm cả vai trò
của các nông dân thuộc các trại mô hình trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Bằng chứng:
a) Kích cỡ, cấu trúc và vị trí của các trại
Trong năm 2006, sau khi tiến hành điều tra một số lượng lớn các trại, NIAH và HUAF đã phân loại,
và sau đó chọn lựa 30 trại để tiến hành nâng cấp thành các trại mô hình ở mỗi tỉnh, bao gồm các
nâng cấp về cơ sở
vật chất, trang thiết bị, đưa đàn giống mới vào nuôi, triển khai thực hiện các kỹ
thuật chăn nuôi tốt nhất và liên tục áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở các trại đã được lựa chọn trong
vòng 3 năm qua. Vào cuối năm 2009, 24 trại ở Thừa Thiên Huế và toàn bộ 30 trại Quảng Trị là vẫn
nằm trong chương trình, với tỷ lệ tham gia là 90%. Một trại mới đượ
c tuyển vào thuộc tỉnh Thừa
Thiên Huế mặc dù chưa được tham gia đánh giá trong điều tra ban đầu (Mr. Nguyen Van Lap, xã
Thuy Phuong). Mr. Lap có 1 trại gồm 5 nái với 1 diện tích ao thả cá là 2000 m2, ở gần chuồng nuôi
lợn, sử dụng các chất thải ra từ chuồng lợn. Mr. Lap muốn tăng số lượng đầu nái nuôi lên 10 và
cũng đã tiến hành cơi nới, mở rộng khu chuồng nuôi lợn.
Ba năm sau khi thực hiện chương trình, vẫn còn có nhiều những điểm cần được cải tiến, khắc phục,
nhưng những điều đạt được lớn nhất ở tất cả các khía c
ạnh, đó là những thống nhất về kế hoạch
thực hiện tại các trại mô hình. Các trại đã được chọn lựa, có thể được tiến hành quan sát trong cơ sở
hệ thống dữ liệu với mã số trại đã được tiến hành mã hóa. Một cách lý tưởng, mỗi theo dõi đều kèm
theo sơ đồ của trại, mô phỏng các nâng cấp, sửa chữa đã được thực hiện, ảnh c
ủa người chủ trại vfa
nhập và xem xét các dữ liệu (nhưng không có khả năng làm thay đổi các dữ liệu trong đó) vào bất
kỳ thời điểm nào bởi trong quá trình đang được cập nhật hoặc trong suốt quá trình thực hiện dự án.
Ms. Cooper chỉ tiến hành đăng nhập số liệu cho đợt công tác 2007/08, các số liệu còn lại mà hiên
nay đang có là dựa trên các đi
ều tra trên giấy và NIAH, HUAF cũng đã bắt đầu nhập các số liệu vào
hệ thống từ tháng 9/2009. Tiếp theo chuyến công tác của Dr. Darren Trott vào thang 10/2009, tất cả
các số liệu, hiện nay đã được các nhà khoa học phía Việt Nam nhập vào để chuẩn bị cho chuyến
đánh giá cuối cùng trước khi có các kiểm tra cuối cùng vào tháng 11/12 năm 2009.
Các chỉ tiêu cũng sẽ được nhập vào dữ liệu đánh giá cho các ước lượng về kinh độ và vĩ độ thu
được bằng chương trình GPS đối với các trại tại Thừa Thiên Huế (HUAF đã kiến tạo các bản đồ
GPS cho báo cáo này, nhưng hiện vẫn chưa nhập được vào trang web). Các dữ liệu này chưa thu
được đối với các trại ở Quảng Trị (việc này sẽ được hoàn thành trong tháng 12 năm 2009 khi NIAH
nhận được GPS), nhưng với các mục tiêu của báo cáo này, Dr. Duyen đã tiến hành xác định các vị
trị địa lý này từ Google Earth (xem phụ lục 1: V
ị trí của các trại mô hình). Một tóm tắt về chi tiết
của các xã, làng và nông hộ của mỗi trại mô hình được chon lọc được trình bày trong Phụ lục 2: Chi
tiết tóm tắt của các trại mô hình).
Kích cỡ và cấu trúc của các trại này dao động khá nhiều trong quá trình thực hiện dự án, với đa số
các trại nuôi từ 2-10 nái (xem điều tra trên website về chi tiết của mỗi trại). Một phân tích hoàn
chỉnh về các theo dõi tại trại, bao gồm số lượng lợn nái nuôi trong 3 năm thực hiện dự án, số lợn nái
cao sản đã được đưa vào nuôi (và các theo dõi về khả năng sinh sản của chúng), và số lượng lợn nái
còn l
ại sẽ được báo cáo trong Báo cáo đánh giá dự án (MS12), sẽ được nộp vào tháng 2/2010, tiếp
theo điều tra đánh giá cuối cùng vào tháng 12/2009 và chương trình tập huấn nông dân cho nông
dân. Tuy nhiên, dựa vào thống kê được thực hiện 2007/2008, có tổng số 122 lợn Móng Cái nái/hậu
bị thuần chủng trong dự án ở Thừa Thiên Huế, trung bình là 5.1 nái/hậu bị/trại (xem Column H
Sheet 1 trong Phụ Lục 2 phần số liệu thô). Ở tỉnh Quảng Trị, các số liệu từ 9 trại bị
mất từ cuộc điều
ở cùng 1 lúc, cho dù là trong rất nhiều trường hợp, có những khó khăn về tài chính đối v
ới các nông
hộ tiến hành các sửa chữa thay đổi lớn và các nông hộ này phải tiến hành thực hiện từng bước 1.
Một ví dụ là về việc điều trị ghẻ. Giải pháp tốt nhất là tiến hành điều trị 1-2 con nái trước, từ đó
người nông dân sẽ có thể nhìn thấy lợi ích ngay lập tức của việc điều trị so với các con không được
điều trị, r
ồi sau đó sẽ thông báo lại cho chúng tôi. Từ đó, chúng tôi có thể chứng minh cho thấy các
lợi ích vê mặt kinh tế xuất phát từ việc thanh toán ghẻ mang lại.
c) Các trách nhiệm và quyền lợi đối với các việc được thực hiện tại trại mô hình, và các trại thực
hiện theo sau trên cơ sở các chương trình khuyến nông, bao gồm cả vai trò của các nông dân
thuộc các trại mô hình trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Việc th
ực hiện các sáng kiến chủ yếu là trách nhiệm của mỗi Viện phía Việt Nam, và 1 danh sách
kiểm tra, đánh giá cũng sẽ được tiến hành vào tháng 12/2009 để làm điểm chuẩn cho các trại mô
hình. Do sự chậm trễ không lường trước được do vụ dịch FMD vào 2007, PRRS vào 2008 và trận
bão lớn, kèm theo ngập lụt vào 2009, nên việc tổ chức sáng kiến tập huấn nông dân cho nông dân
(dùng các nông hộ đã tham gia vào dự án trong việc chuyển giao kỹ thuật) chỉ có thể đượ
c thực hiện
vào cuối dự án, và bởi vậy, từ đó, họ cũng có thế tham gia vào thử nghiệm vacxin đã được lên kế
hoạch và điều tra về bệnh tiêu chảy. Trong tháng 5/2008, Dr Tony Fahy and Dr Colin Cargill đã
tiến hành một số các bài tập huấn nhỏ có tính chất khởi động mà trong đó, số nông dân và thú y cơ
sở từ các vùng lân cận cũng đã tham dự, nhưng chúng tôi mới đang thực sự xây dựng sáng kiến
chính hướng vào tháng 1/2010. Mỗi Viện có trách nhiệm chuyển giao kế hoạch thực hiện vào các
trại mô hình ở mỗi tỉnh với trách nhiệm của NIVR là tiếp tục chế tạo vacxin, chuyển giao kỹ thuật
cho các ch
ẩn đoán chính xác trong phòng thí nghiệm về bệnh tiêu chảy, điều tra các nông hộ (dự án
và ngoài dự án) về các bệnh tiêu chảy. Các nông hộ mô hình được tiếp tục tập huấn và được động