B GIO DC V O TO B Y T
VIN V SINH DCH T TRUNG NG
[ \ Trơng thừa Thắng
nghiên cứu huyết thanh học
nhiễm virút hanta
tại một số tỉnh miền bắc
việt nam
Chuyên ngnh: Virut hc
Mã số: 62.72.68.05
tóm tắt luận án tiến sĩ y hC
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương, Hà Nội
Vào hồi 9 gìơ ngày 20 tháng 05 năm 2008 Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN
1. Hoàng Thuỷ Nguyên., Hoàng Thuỷ Long., Trần Văn Tiến., Trương Uyên
Ninh., Huỳnh Phương Liên., Trịnh Quân Huấn., Nguyễn Hồng Hạnh., Lê
Quỳnh Mai., Nguyễn Thị Thành., Trương Thừa Thắng. (2000), Khảo sát
bước đầu về nhiễm virut Hantaan tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Tạp
chí y học dự phòng, Tập X, Số 1 (43), Tr 34-38.
2. Trương Thừa Thắng., Trương Uyên Ninh. (2003), Bước đầu nghiên cứu
huyết thanh học Hantan virut trên chuột tại hai tỉnh Hòa Bình và Lào Cai
trong năm 2002, Tạp chí y học thực hành, Số 3 (445), Tr 17-19.
3. Trương Thừa Thắng., Trương Uyên Ninh. (2003), Nghiên cứu huyết
thanh học virut Hantaan trên chuột tại tỉnh Hà Nam trong năm 2002, Tạp
chí y học dự phòng, Tập XIII, Số 2+3 (60), Tr 38-41.
4. Trương Thừa Thắng, Đặng Đức Anh, Phạm Ngọc Đính, Trương Uyên
huyết với hội chứng thận (Haemorrhagic Fever with Renal Syndrome – HFRS) đã
phát hiện từ lâu ở châu Âu, châu Á và Hội chứng viêm phổi do virút Hanta
(Hantavirus Pulmonary Syndrome – HPS) mới được phát hiện tại Hoa Kỳ năm 1993.
Các nhà khoa học dùng các phản ứng huyết thanh nhằm phát hiện các kháng thể IgM
và IgG thông qua các kỹ thuật miễn dịch hấp phụ gắn men (ELISA), kỹ thuật miễn
dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA), kỹ thuật Western Blot, kỹ thuật sinh học phân tử
PCR, kỹ thuật ngưng kết hạt Hantadia, kỹ thuật trung hoà (PRNT). Với phân lập virút
hay dùng trên tế bào Vero – E6 rồi nhận biết bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang
hay kỹ thuật RT-PCR. Những năm gần đây một số tác giả bước đầu phát hiện nhiễm
virút Hanta tại đồng bằng miền Bắc Việt Nam năm 1998 – 1999 bằng kỹ thuật ngưng
kết hạt Hantadia đã phát hiện 4,03% (5/124) các mẫu huyết thanh người và 3,07%
(1/27) các mẫu huyết thanh chuột có kháng thể kháng virút Hanta. Năm 2000, phát
hiện 10,24% các mẫu huyết thanh người dương tính bằng kỹ thuật ELISA (21/225).
Tại khu vực phía Nam, bằng kỹ thuật ELISA phát hiện trên nhóm công nhân cao su
tỷ lệ 3,67% và công nhân vệ sinh là 7,45%, kỹ thuật IFA là 11,24% năm 1998 và
29,41% năm 1999. Mặt khác triệu chứng lâm sàng giữa bệnh nhân sốt do căn nguyên
virút Dengue, virút Hanta rất dễ nhầm lẫn. Thời gian từ năm 2000 đến nay số bệnh
nhân nghi sốt Dengue tại miền Bắc Việt Nam tăng cao nhưng kết quả phân lập và
huyết thanh học hoàn toàn âm tính. Do đó đề tài: "Nghiên cứu huyết thanh học nhiễm
virút Hanta tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam 2001 – 2004" tiến hành để nhằm các
mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ và đặc điểm phân bố huyết thanh học của virút Hanta trên người
ở một số tỉnh miền Bắc, Việt Nam 2001 – 2004 bằng kỹ thuật hấp phụ miễn
dịch gắn men (ELISA), kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA), kỹ
thuật Western Blot (WB).
2. Xác định một số đặc điểm phân bố virút Hanta qua giám sát huyết thanh chuột
tại một số tỉnh miền Bắc, Việt Nam 2001 – 2004 bằng kỹ thuật hấp phụ miễn
dịch gắn men (ELISA), kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA), kỹ
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN1.1. Virút Hanta
1.1.1. Hình thái virút học
Virút Hanta được xếp trong họ Bunya, quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy
virút có dạng hình cầu hoặc hình ovan, đường kính 80nm - 120nm, tuy nhiên cũng có
thể thay đổi từ 78nm -120nm .
1.1.2. Cấu trúc virút Hanta
Giống như các virút khác thuộc họ Bunya, vật liệu di truyền là một sợi ARN âm,
thông qua thông tin với đầu 3’ gồm 3 đoạn ARN: đoạn lớn L (6530 - 6550 nucleotid),
đoạn trung bình M (3613-3707) và đoạn nhỏ S (1696-2083 nucleotid). Cả 3 đoạn này
đều tham gia quá trình mã hoá nucleocapsid protein (NP). NP có tính chất là kháng
nguyên đặc trưng và đáp ứng kháng thể phát hiện ở các bệnh nhân trong giai đoạn
đầu khởi bệnh. NP có trọng lượng 49-51 kDa dịch mã 428 - 433 amino acid (aa). NP
có nhiều chức năng quan trọng như nhân lên, dịch mã, cung cấp vật liệu di truyền và
giám sát trong quá trình sợi virút nhân lên. Đoạn ARN trung bình M - 3700 nucleotid
tim, đây là một nguyên nhân gây sốc tim ở giai đoạn cấp. Quan sát thấy phổi bệnh
nhân HPS thường đen, nặng, dẻo, và thường nặng gấp đôi so với ng
ười bình thường,
các th
ương tổn đó gây phù phổi ở các cấp độ khác nhau. Các nhà khoa học quan sát
thấy bệnh nhân nhập Viện do HPS xét nghiệm có hiệu giá kháng thể trung hoà cao
thường có khả năng sống sót cao.
1.3. Triệu chứng lâm sàng bệnh do virút Hanta
Sốt xuất huyết Dengue và sốt mò có triệu chứng mắc bệnh rất giống với sốt xuất
huyết với hội chứng thận (HFRS), tuy nhiên qua nghiên cứu thấy triệu chứng giống
nhất là khi nghi ngờ mắc bệnh do nhiễm vi khuẩn thuộc giống Leptospirosis. Các
nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân nhiễm hội chứng viêm phổi HPS và nhiễm
virút Dengue ở giai đoạn cấp tính triệu chứng rất giống nhau như vỡ thành mạch do
sốt xuất huyết, nồng độ virút tăng cao ở giai đoạn cấp tính. Bệnh nhân HFRS khác
với bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue vì trong HFRS có xuất huyết tổn thương thận,
bạch cầu tăng, hạ tiểu cầu còn bệnh nhân Dengue không có triệu chứng này và bạch
cầu bình thường hoặc hạ, đây là đặc điểm chính để phân biệt giữa hai bệnh.
1.3.1. Triệu chứng lâm sàng bệnh sốt xuất huyết với hội chứng thận (HFRS)
Bệnh HFRS là bệnh virút cấp tính truyền từ động vật sang người với đặc điểm sốt
cao, đột ngột, đau đầu, đau phần dưới lưng, buồn nôn, mắt mờ đi kèm quáng gà, có
thể xuất huyết ở vùng thắt lưng, xuất huyết ở nhièu mức độ khác nhau liên quan đến
các triệu chứng thận. Thời gian ủ bệnh 5 đến 35 ngày, các đốm xuất huyết xuất hiện
trên cổ, mặt và phần mềm.Thời gian mắc bệnh cho đến hồi phục kéo dài từ 2 ngày tới
6 tuần lễ. Bệnh diễn biến theo 5 giai đoạn: sốt, hạ huyết áp, thiểu niệu, đa niệu và hồi
phục.
1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của hội chứng viêm phổi do virút Hanta (HPS)
Thời gian ủ bệnh (9 đến 33 ngày) giống nh
ư người mắc bệnh cúm khi nhiễm virút
bệnh nhân có biểu hiện sốt cao, đau đầu, đầy hơi, mệt lử. Bệnh được chia làm 4 giai
đoạn: Sốt, Sốc hoặc phù phổi, Đa niệu và Hồi phục.
Người làm công tác phòng thí nghiệm; Công nhân nuôi động vật thí nghiệm; Công
nhân chăn nuôi; Công nhân lâm nghiệp; Người làm việc tại phòng thí nghiệm giám
sát chuột; Các nhà động vật học; Quân nhân; Nông dân.
1.4.3. Vacxin phòng chống bệnh do virút Hanta
Từ năm 1990 Hàn Quốc đã sản xuất ra vacxin bất hoạt trên não chuột, có tác dụng
phòng chống bảo vệ được týp virút Hanta và virút Seoul gây bệnh phổ biến ở châu Á.
Hiện tại vẫn chưa có vacxin phòng và bảo vệ hội chứng viêm phổi (HPS).
1.4.4. Tình hình nhiễm virút Hanta
1.4.4.1. Sốt xuất huyết với hội chứng thận (HFRS) trên thế giới
Sốt xuất huyết với hội chứng thận hay từng được gọi là bệnh thận đã xuất hiện vào
những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20 ở châu Âu dịch bệnh xảy ra lẻ tẻ, cục bộ mang
tính chất địa phương, quan sát thấy có những vụ dịch lớn HFRS đã xảy ra trong các
6
đội quân đồn trú như lính Nga hoàng, lính Nhật Bản, lính Đức, lính trong chiến tranh
thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Trên thế giới hàng năm có từ 60.000 tới 200.000
người mắc bệnh, trong đó đa số là người Châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản, Viễn Đông Nga và Đông Nam Á. Giám sát dịch tễ học và huyết thanh học đã
phát hiện thấy virút Hanta lan ra khắp toàn cầu. Các nhà khoa học đã thấy 16 nước ở
châu Á và biển Thái Bình Dương có mối liên quan nhiễm bệnh do virút Hanta như:
Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Hàn, Trung Quốc, Mông Cổ, Liên bang Nga, Đài Loan,
quần đảo Fiji, Hồng Kông, Mã Lai, Ấn Độ, Miến Điện, Indonesia, Xingapo, Úc và
Srilanka.
1.4.4.2. Sốt xuất huyết với hội chứng thận (HFRS) tại châu Âu
Tại châu Âu sốt xuất huyết hội chứng thận (HFRS) có căn nguyên bởi các týp virút
sau Puumala, Dobrava và virút Hanta. Tỷ lệ tử vong do nhiễm virút Hanta và virút
Puumala này ở châu Âu đều thấp và độ dưới 1%. Ng
ười bệnh nhiễm virút DOB
thường tử vong tỷ lệ cao có khi tới 12% căn nguyên do bị xuất huyết dẫn tới sốc.Tại
cộng hoà Séc tỷ lệ nhiễm bệnh virút Hanta thay đổi từ 0,5 tới 30,5/100.000 dân trong
Tại Việt Nam, Rollin và cộng sự trong năm 1979 với kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang
gián tiếp đã tìm thấy 5,4% (8/146) kháng thể kháng virút Hanta trên nhóm bệnh nhân
nghi ngờ nhiễm virút Arbo tại Hà Nội. Theo nghiên cứu của Hoàng Thủy Nguyên và
cộng sự, trong năm 1998-1999, bằng kỹ thuật ngưng kết hạt (Hantadia) đã thấy
4,03% (5/124) mẫu huyết thanh người và 3,07% (1/27) các mẫu huyết thanh chuột có
kháng thể kháng với virút Hanta. Năm 2000, kỹ thuật ELISA đã phát hiện 10,24%
(21/225) các mẫu huyết thanh người có kháng thể kháng virút Hanta. Tại khu vực
phía Nam, nghiên cứu của Đỗ Quang Hà và cộng sự với kỹ thuật ELISA đã phát hiện
công nhân cao su có tỷ lệ huyết thanh dương tính là 3,67% và công nhân vệ sinh ở
thành phố Biên Hoà là 7,45%, lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm cao là 20-50, bằng kỹ thuật IFA
đã phát hiện có 11,24% bệnh nhân trong năm 1998 và 29,41% trong năm 1999
[1].Với kỹ thuật miễn dịch sắc ký phát hiện kháng thể IgM và IgG đã tìm thấy một
bệnh nhân trong năm 2004 tại tỉnh Hải Dương [8]. Trong năm 2005 chúng tôi cũng
đã tìm thấy 14 bệnh nhân có kháng thể IgG và IgM kháng virút Hanta tại Thanh Hoá
(Số liệu chưa công bố). Đến năm 2007, chúng tôi cũng đã tìm thấy và xác định trình
tự nucleotíd, lập phả hệ được virút Hanta mới tại Cao Bằng đặt tên CBNV.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Mẫu bệnh phẩm người
2.1.1.1. Mẫu người lành
Mẫu huyết thanh người lành, là những người khoẻ mạnh không có tiền sử bệnh mãn
tính, trong thời gian lấy máu làm xét nghiệm đều không sốt, không có bệnh cấp tính.
Tất cả những người này sống tại điểm nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập máu trong
giai đoạn 2001 – 2004.
2.1.1.2. Mẫu bệnh nhân
Tất cả những người có sốt cấp tính trong vòng 7 đến 10 ngày, có các biểu hiện lâm
sàng của nhiễm virút, và có xuất huyết dưới da hay niêm mạc, chưa xác định được
nguyên nhân gây bệnh. Những bệnh nhân như vậy đều được thu thập máu tại các
sàng của nhiễm virút, và có xuất huyết dưới da hay niêm mạc, chưa xác định được
nguyên nhân gây bệnh (thụ động) sẽ tham gia vào nghiên cứu này.
2.3.2.2. Cách tính cỡ mẫu
Dùng công thức tính cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu mô tả
2.3.2.2.1. Số mẫu bệnh phẩm người
- n là số lượng mẫu huyết thanh người lành và bệnh nhân các điểm nghiên cứu
- z = hệ số tin cậy 1,96 từ bảng phân phối chuẩn
9
- p = 0,0403 tỷ lệ nhiễm virút Hanta trên người theo nghiên cứu Hoàng Thuỷ
Nguyên; E sai số cho phép 1%
n = 1,96
2
x 0,0403 x (1-0,0403) : 0,01
2
= 1486
Thu thập 1500 mẫu máu người lành và người bệnh tại các điểm nghiên cứu.
2.3.2.2.2. Số mẫu chuột
Dùng công thức tính cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu mô tả
- n là số lượng chuột cần bẫy tại các điểm nghiên cứu
- z = hệ số tin cậy 1,96 từ bảng phân phối chuẩn
- P là tỷ lệ nhiễm virút Hanta trên chuột theo nghiên cứu Hoàng Thuỷ Nguyên
và CS 3,7%, p = 0,037; E sai số cho phép 3%
n = 1,96
2
x 0,037 x (1-0,037) : 0,03
2
= 152
Thu thập 160 mẫu máu chuột tại các điểm nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Xác định tỷ lệ và đặc điểm phân bố huyết thanh học của virút Hanta trên
người ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam 2001-2004 bằng kỹ thuật hấp phụ miễn
dịch gắn men (ELISA), kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA), kỹ
thuật Western Blot (WB)
3.1.1. Kết quả huyết thanh người lành và bệnh nhân có kháng thể IgG kháng
virút Hanta tại miền Bắc giai đoạn 2001-2004
Nhận xét: Kỹ thuật ELISA cho thấy tỷ lệ các mẫu dương tính ở hai nhóm người lành
và huyết thanh bệnh nhân không khác nhau không có ý nghĩa thống kê với P>0,05.
Bảng 3.1. Số huyết thanh người lành và bệnh nhân tại các điểm nghiên cứu có kháng
thể IgG 2001 - 2004.
3.1.2. Kết quả huyết thanh bệnh nhân tại các điểm nghiên cứu 2001-2004
3.1.2.1. Kết quả kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn men ELISA
Nhận xét: Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể IgG kháng virút Hanta ở huyết thanh
bệnh nhân của 4 tỉnh khác nhau có ý nghĩa thống kê với P<0,05.
Bảng 3.2. Tình hình huyết thanh bệnh nhân có kháng thể IgG kháng virút Hanta tại
các điểm nghiên cứu 2001-2004.
3.1.2.3. Kết quả kỹ thuật Western Blot (WB)
Nhận xét: Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính với
kỹ thuật WB giữa các tỉnh với P <0,05. Tỷ lệ dương tính 1,9% với 95% độ tin cậy từ
1% đến 3,2%. Thanh Hóa có 6/7 mẫu xét nghiệm, Hà Nam có 5/6 mẫu xét nghiệm,
Hà Nội có 1/5 mẫu xét nghiệm.
Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra huyết thanh bệnh nhân bằng kỹ thuật WB tại các điểm
nghiên cứu 2001 – 2004.
12
3.1.3. Kết quả huyết thanh người lành tại các điểm nghiên cứu 2001-2004
3.1.3.1. Kết quả hấp phụ miễn dịch gắn men ELISA
Nhận xét: Phát hiện kháng thể IgG kháng virút Hanta ở 1151 người tình nguyện tham
gia nghiên cứu. Tỷ lệ dương tính trong số mẫu huyết thanh người lành là 8,60% với
95% độ tin cậy từ 7,1% đến 10,4%. Quan sát Bảng 3.5. tỷ lệ các mẫu huyết thanh có
kháng thể IgG kháng virút Hanta ở các tỉnh này có sự khác nhau không có ý nghĩa
thống kê với P >0,05. 13
3.1.3.3. Kết quả kiểm tra huyết thanh người lành bằng kỹ thuật Western Blot
Nhận xét: Thấp nhất ở tỉnh Hoà Bình là 0,8%, tiếp đến là các tỉnh Lào Cai là 1%, Hà
Nam là 1,2%, Hà Nội là 1,4% và cuối cùng là Thanh Hóa là 1,6%. Tỷ lệ chung tại
các điểm nghiên cứu là 1,3% với 95% tin cậy là độ từ 0,7% đến 2,1%. Tuy nhiên giữa
các tỉnh sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê với P>0,05.
Bảng 3.7. Huyết thanh người lành các điểm nghiên cứu 2001-2004 bằng kỹ thuật WB.
3.1.4. Đánh giá tình hình huyết thanh bệnh nhân và huyết thanh người lành tại
các điểm nghiên cứu trong thời gian 2001 -2004
Nhận xét: Cột tỷ lệ huyết thanh có kháng thể IgG kháng virút Hanta cao nhất là
ở kỹ thuật ELISA, sau đó giảm dần ở kỹ thuật IFA, và thấp nhất ở kỹ thuật WB
cụ thể tỷ lệ này ở Hà Nội là 8,1%, 3,5%, 1,1%; Hà Nam là 7,1%, 2,9%, 1,5%;
Hình 3.2. Mối liên quan lứa tuổi với kháng thể IgG kháng virút Hanta tại các điểm
nghiên cứu 2001 -2004.
3.1.6. Mối liên quan giới tính với sự đáp ứng kháng thể IgG kháng virút Hanta
tại các điểm nghiên cứu 2001- 2004 Hình 3.3. Liên quan giới với sự đáp ứng kháng thể IgG kháng virút Hanta tại các địa
điểm nghiên cứu 2001-2004.
WB tại các điểm nghiên cứu 2001 – 2004. 16
Nhận xét: Tỷ lệ chuột có kháng thể IgG kháng virút Hanta ở ELISA là 27,2%
với 95% độ tin cậy từ 20,9% đến 34,3%. Tỷ lệ chuột có kháng thể IgG kháng
virút Hanta ở IFA là 11,1% với 95% độ tin cậy từ 6,5% đến 15,8%. Tỷ lệ chuột
có kháng thể IgG kháng virút Hanta ở WB là 7,8% với 95% độ tin cậy từ 4,3%
đến 12,7%.
3.2.3. Mối liên quan giữa chuột đực và chuột cái có kháng thể kháng virút
Hanta qua các kỹ thuật ELISA, IFA, WB
Nhận xét: Chuột đực và chuột cái có kháng thể IgG kháng virút Hanta thông qua 3 kỹ
thuật ELISA, IFA, WB thấy số dương tính trên chuột đực luôn lớn hơn so với số
chuột cái.
Hình 3.5. Kết quả RT-PCR giếng 1
là thang chuẩn DNA, giếng 2 và 3
mẫu phổi của 2 chuột đoạn 373 bp.
Hình 3.6. Cây phả hệ virút Seoul tại Hà Nội
17
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN4.1. Xác định tỷ lệ và đặc điểm phân bố huyết thanh học của virút Hanta trên
người ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam 2001 – 2004 bằng kỹ thuật hấp phụ
miễn dịch gắn men (ELISA), kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA),
kỹ thuật Western Blot (WB)
4.1.1. Kết quả nghiên cứu trên huyết thanh bệnh nhân tại các điểm nghiên cứu
2001 – 2004 bằng kỹ thuật ELISA, kỹ thuật IFA, kỹ thuật WB
Do triệu chứng bệnh sốt nhiễm virút Hanta gần giống với sốt xuất huyết Dengue, sốt
mò do căn nguyên Ricketsiae hay sốt do Leptospirosis. Tiến hành xét nghiệm tìm
kháng thể IgG kháng virút Hanta tại các tỉnh trên, chúng tôi đã tìm thấy với kỹ thuật
miễn dịch gắn men ELISA là 8,2% trong Bảng 3.2. tỷ lệ huyết thanh bệnh nhân có
kháng thể IgG kháng virút Hanta ở huyết thanh bệnh nhân của các tỉnh/ thành phố
Hoà Bình, Hà Nội, Hà Nam và Thanh Hóa có ý nghĩa thống kê với P<0,05. Bằng kỹ
thuật IFA chúng tôi đã phát hiện tới 3,1% số mẫu dương tính, từ các bệnh nhân có kết
quả dương tính với kỹ thuật ELISA tuy nhiên không có sự khác biệt với P >0,05
Bảng 3.3. Kỹ thuật IFA cho thấy hình ảnh huỳnh quang sáng và rõ. Với kỹ thuật WB
ở Bảng 3.4. chúng tôi đã tìm thấy 1,9% bệnh nhân dương tính với cả ba kỹ thuật trên
và có ý nghĩa thống kê khi dùng kỹ thuật với P<0,05. Trong hai năm 1994 và 1995
thu thập mẫu bệnh phẩm là 5330 bệnh nhân có triệu chứng sốt cao đột ngột tại Hàn
tôi tiến hành kỹ thuật WB để khẳng định có lưu hành virút Hanta trong cộng đồng các
tỉnh điều tra không? Kết quả cho thấy có sự lưu hành virút Hanta trên người lành với
tỷ lệ trung bình 1,3% nhìn ở Bảng 3.7. thấy tất cả các tỉnh nghiên cứu đều có người
lành có kháng thể IgG kháng virút Hanta.Với tỷ lệ cao nhất là tại Thanh Hóa, Hà Nội,
Hà Nam và thấp nhất là ở Hòa Bình và số người có kháng thể IgG là 15 người trên
1151 người lành. Kết quả ELISA người lành chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi tỷ lệ
giữa các tỉnh, nhưng sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê với P>0,05 Bảng 3.5.
4.1.3. Đánh gía xét nghiệm huyết thanh người qua ba kỹ thuật ELISA, IFA, WB
tại các điểm nghiên cứu trong thời gian 2001-2004
Điều tra 1799 mẫu huyết thanh bệnh nhân và huyết thanh người lành tại 5 điểm
nghiên cứu với kỹ thuật ELISA cho tỷ lệ 8,4% với P<0,05; Tiếp đến là kỹ thuật IFA
cho tỷ lệ 3,6% với P>0,05; kỹ thuật WB giúp khẳng định sự tồn lưu virút Hanta phát
hiện là 1,5% với P> 0,05. Theo Jiro Arikawa khi điều tra tình hình nhiễm virút Hanta
19
Tại Paragoay trong một điều tra trên cộng đồng đã phát hiện tới 40% người lành có
kháng thể IgG nhưng điều tra dịch tễ học không có mối liên quan với Hội chứng viêm
phổi do virút Hanta (HPS) điều này có thể lý giải như sau: Thứ nhất trong cộng đồng
có sự nhiễm nhiều týp virút Hanta và ít nhất một týp virút trong số đó gây nên bệnh
sinh không đáng kể. Thứ hai có thể nhiễm một týp virút Hanta khác và biểu hiện bệnh
20
4.1.4. Mối liên quan giữa lứa tuổi và giới tính với sự đáp ứng kháng thể IgG
kháng virút Hanta tại các địa điểm nghiên cứu giai đoạn 2001-2004
Tại Hình 3.2. chúng tôi nhận thấy kháng thể IgG kháng virút Hanta tập trung ở lứa
tuổi lao động độ tuổi là 21-25 đến 40-45, có 119 huyết thanh trên tổng số 1799 mẫu
huyết thanh nghiên cứu. Người mang kháng thể IgG kháng virút Hanta chiếm đa
phần là nam giới tại các điểm nghiên cứu, và tỷ lệ nam giới/ nữ giới ứng với 5:1.
Nghiên cứu tại khu vực phía Nam, tác giả Đỗ Quang Hà nhận xét lứa tuổi có nhiễm
virút Hanta tập trung độ tuổi 20-50. Tại Đài Loan các nhà khoa học đã phát hiện 7
Theo TCYTTG khuyến cáo dùng kỹ thuật ELISA để điều tra kháng thể IgG trên
chuột trong các điều tra dịch tễ. Tuy nhiên kỹ thuật IFA được gợi ý trong xét nghiệm
huyết thanh chuột, và cần thiết dùng kỹ thuật WB để khẳng định. Tìm thấy kháng thể
IgG kháng virút Hanta trên chuột có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu về ổ chứa
virút Hanta và nghiên cứu về sinh thái virút. Các nhà khoa học cũng đã tìm thấy tỷ lệ
nhiễm virút Hanta trên chuột đực R. novergicus luôn luôn cao hơn so với chuột cái
với lập luận do bản tính sinh học, do đấu tranh sinh tồn chuột đực thường hay đánh
lộn cắn lẫn nhau hơn so chuột cái, do vậy khi chuột đực bị thương là một nguyên
nhân để lan truyền virút Hanta trong cộng đồng chuột. Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi thấy chuột có kháng thể kháng virút Hanta ở kỹ thuật ELISA, IFA và WB đều là
chuột đực Hình 3.4. Con đường lây truyền virút Hanta từ chuột sang người thông qua
hít vào các chất bài tiết thải ra từ chuột. Nghiên cứu tại Trung và Tây Phi chưa phát
hiện thấy bệnh nhân nhiễm virút Hanta nhưng phát hiện thấy sức cảm thụ ở người rất
dễ bị nhiễm virút họ Hanta. Hiện tại có độ 30 týp virút Hanta, mỗi týp Hanta lại cư
ngụ trên mỗi loài chuột khác nhau. Mỗi loài chuột này sống tại các vùng địa lý khác
nhau, sinh hoạt khác nhau, thức ăn khác nhau. Arikawa Jiro và cộng sự đã khẳng định
ở đâu chuột có kháng thể kháng virút Hanta thì cùng khu vực đó phải có người mang
kháng thể IgG kháng virút Hanta và có thể có cả bệnh nhân cấp tính do nhiễm virút
Hanta. Chuột có thể dịch chuyển thông qua các tỉnh bằng các phương tiện giao thông
như xe tải, xe khách, tàu hòa, giống như đã có sự xâm nhiễm virút Seoul trên chuột
bẫy tại thành phố Bắc Kinh có nguồn gốc từ nơi khác chuyển đến. Với các gợi ý trên,
22