Xác định genotype và một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của porcine circovirus type 2 (PCV2) ở đàn lợn nuôi tại một số tỉnh miền bắc việt nam - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
= = = = = = = =

NGUYỄN VĂN QUANG

XÁC ĐỊNH GENOTYPE VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
DỊCH TỄ HỌC PHÂN TỬ CỦA PORCINE CIRCOVIRUS
TYPE 2 (PCV2) Ở ĐÀN LỢN NUÔI TẠI MỘT SỐ
TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
= = = = = = = =


LỜI CAM ðOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào.

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Quang


thực hiện đề tài này.

Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Quang Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Giới thiệu về PCV2 và bệnh do PCV2 gây ra 4
1.1.1. Một vài nét về PCV2 4
1.1.2. Bệnh do PCV2 gây ra 8
1.1.3. Triệu chứng và bệnh tích 11
1.1.4. Chẩn đoán 15

Bắc Việt Nam 40
3.2.1. Kết quả xác định sự có mặt của PCV2 trong mẫu nghiên cứu 40
3.2.2. Kết quả xác định sự có mặt của PCV2 ở các đàn có/không biểu hiện
triệu chứng của PCVAD 44
3.2.3. Kết quả xác định genotype của các chủng PCV2 ở đàn lợn nuôi tại một
số tỉnh miền Bắc Việt Nam 45
3.3. Kết quả giải trình tự bộ gen của PCV2 46
3.4. Phân tích, so sánh trình tự các chủng giải trình tự được và các chủng lưu
hành trên thế giới 47
3.4.1. Đặc điểm trình tự gen PCV2 lưu hành ở Việt Nam 47
3.4.2. Kết quả phân tích cây phả hệ chủng PCV2 lưu hành ở Việt Nam 50
3.4.3. Kết quả phân tích trình tự amino acid của capsid protein 53
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
4.1. Kết luận 55
4.2. Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
v

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO ADN : Axit Deoxyribose Nucleic
ELISA : Enzym Linked Immunosorbent Assay
ORF : Open Reading Frame
PBS : Phosphate – Buffered - Saline
PCR : Polymerase Chain Reaction
PCV : Porcine CircoVirus
PCV1 : Porcine CircoVirus type 1

Bảng 3.3. Kết quả nested PCR xác định sự có mặt của PCV2 trong mẫu bệnh
phẩm thu thập được từ các địa phương 41
Bảng 3.4. So sánh tỷ lệ dương tính PCR ở nhóm lợn khỏe mạnh và nhóm lợn
có triệu chứng bệnh 44
Bảng 3.5. Kết quả xác định genotype PCV2 lưu hành ở đàn lợn nuôi tại một
số tỉnh miền Bắc 46
Bảng 3.6. Thông tin PCV2 được sử dụng để giải trình tự gen 47
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Cấu trúc PCV2 (Gillespie và cộng sự, 2009) 6
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí mồi phản ứng nested PCR 28
Hình 3.1. Lợn còi cọc, chậm lớn 36
Hình 3.2. Lợn gầy còm, lông dựng 36
Hình 3.3. Lợn bị viêm da 36
Hình 3.4. Lợn bị viêm da 37
Hình 3.5. Lợn bị tiêu chảy 37
Hình 3.6. Lợn có triệu chứng hô hấp 37
Hình 3.7. Lấy mẫu lợn thí nghiệm 37
Hình 3.8. Hạch bẹn nông sưng, xuất huyết 38
Hình 3.9. Hạch bẹn nông sưng, xuất huyết 38
HÌnh 3.10. Viêm dính màng phổi với thành lồng ngực 38
Hình 3.11. Hạch màng treo ruột bị sưng, xuất huyết 38
Hình 3.12. Lợn bị viêm khớp 39
Hình 3.13. Thận bị sưng, xuất huyết và có điểm hoại tử 39

ra sự có mặt của PCV2 lưu hành trên đàn lợn ở một số nước. Tuy nhiên, hội
chứng bệnh do PCV2 gây ra mới được xác định vào những năm 90 của thế kỷ
XX. PCV2 là tác nhân gây suy giảm hệ thống miễn dịch, cùng với các tác
nhân gây bệnh khác gây nên hội chứng bệnh liên quan đến PCV2 (Porcine
circovirus type 2-associated disease, PCVAD) gồm Hội chứng gầy còm ở lợn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
2

sau cai sữa (PMWS); Hội chứng viêm da và viêm thận (porcine dermatitis and
nephropathy syndrome – PDNS); Hội chứng viêm đường hô hấp (porcine
respiratory diseases complex) và Hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn (porcine
reproductive disorders); gây tác động lớn tới sức sản xuất của đàn lợn. Trong
số các bệnh do circovirus gây ra, PMWS được coi là nguyên nhân gây thiệt
hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi lợn; danh từ Hội chứng 30kg
(The 30kg syndrome) cũng đôi khi được dùng để chỉ bệnh này do lợn bệnh
chỉ đạt khối lượng khoảng 30kg trong khi lợn bình thường cùng lứa tuổi có
thể đạt 100kg.
Thực trạng chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay đã tạo môi trường hết sức
thuận lợi cho việc thường xuyên tồn tại nhiều mầm bệnh PCV2 trong đàn;
cộng thêm sự xuất hiện của virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
(Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome virus - PRRSV) từ năm
2007 đã làm cho tình hình dịch bệnh càng trở nên phức tạp. Do vậy, nghiên
cứu chỉ ra sự có mặt của PCV2 và PCVAD ở đàn lợn là hết sức cấp thiết để từ
đó có được những chiến lược phòng bệnh, vacxin phòng bệnh kịp thời. Trong
khi các nước trên thế giới, thậm chí các nước trong khu vực đã và đang đi sâu
nghiên cứu về PCV2 và bệnh PCVAD thì tại Việt Nam còn rất ít thông tin về
PCV2 và PCVAD; vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu về PCV2 là hoàn toàn cần
thiết và cấp thiết trong thời điểm hiện nay. Chúng tôi tiến hành đề tài "Xác
ñịnh genotype và một số ñặc ñiểm dịch tễ học phân tử của Porcine
Circovirus type 2 (PCV2) ở ñàn lợn nuôi tại một số tỉnh miền Bắc Việt
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
4

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu về PCV2 và bệnh do PCV2 gây ra
Porcine circovirus (PCV) thuộc họ Circoviridae, bao gồm Porcine
circovirus type 1 (PCV1) và Porcine circovirus type 2 (PCV2). Mức độ tương
đồng trình tự nucleotide giữa PCV1 và PCV2 là 68 – 76% (theo Hamel và
cộng sự, 1998).
Trong những năm cuối thập niên 1990, một loại circovirus mới
(Porcine Circovirus) gây bệnh đã được phát hiện ở lợn. Virus này khác với
PCV thích ứng trên môi trường tế bào thận lợn (Pig Kidney) PK15 đã biết
trước đó. Người ta đã đề nghị gọi PCV đã biết là PCV type 1 (PCV1) và virus
mới phân lập được là PCV type 2 (PCV2). PCV1 được phân lập lần đầu tiên
tại Đức vào năm 1974, virus này được xem như không phải tác nhân gây bệnh
(nonpathogenic) ở lợn. Năm 1991 tại Canada, PCV2 được nhận diện là
nguyên nhân gây hội chứng gầy còm ở lợn sau cai sữa và sau đó được ghi
nhận ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu hồi cứu
mẫu bệnh phẩm cho biết đã phát hiện được kháng thể kháng PCV2 trong
huyết thanh của lợn từ năm 1969 tại Bỉ, năm 1970 tại Anh, năm 1973 tại
Ireland và năm 1983 tại Canada (trích theo Gillespie và cộng sự, 2009) và
Tây Ban Nha (Rodríguez - Arrioja và cộng sự, 2003).
1.1.1. Một vài nét về PCV2
1.1.1.1. Phân loại

ADN virus sợi đơn vòng chứa khoảng 1767 - 1768 nucleotide (PCV2) (Guo
và cộng sự, 2010; Olvera và cộng sự, 2007). Bộ gen của PCV2 gồm 11 khung
đọc mở ORFs (open reading frame) mã hóa cho các phân tử protein của virus,
trong đó hai khung đọc mở chính (ORF1 và ORF2) theo hướng ngược nhau.
Hiện nay trên thế giới các nghiên cứu về PCV thường tập trung vào ba ORF
là ORF1, ORF2 và ORF3 (Hamel và cộng sự, 1998).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
6
Hình 1.1: Cấu trúc PCV2 (Gillespie và cộng sự, 2009)

ORF1 mã hóa cho các protein liên quan đến sự nhân lên của virus (viral
replication protein – Rep), có khối lượng phân tử 35,8 kDa. Sự tương đồng
amino acid của phân tử protein quy định bởi ORF1 giữa PCV1 và PCV2
khoảng là 85%.
ORF2 mã hóa cho các protein liên quan đến sự hình thành vỏ capsid của
virus (capsid protein – Cap), có khối lượng phân tử 27,8 kDa. Sản phẩm
ORF2 chứa các điểm quyết định kháng nguyên, kích thích sinh kháng thể
chống lại virus, vì vậy người ta sử dụng kháng thể nguồn gốc ORF2 như một
công cụ để chẩn đoán phân biệt PCV. Sự tương đồng amino acid của phân tử
protein do ORF2 mã hóa giữa PCV1 và PCV2 là 66%.
ORF3 mã hóa protein có khối lượng phân tử 11,9 kDa, được cho là có
liên quan đến hiện tượng apoptosis ở tế bào nhiễm virus; sự tương đồng
amino acid của protein này giữa PCV1 và PCV2 là 62%.
Theo Hamel và cộng sự (1998), trình tự 11 ORF của PCV2 gây hội
chứng còi cọc (PCV2) và chủng không gây bệnh (PCV1) như sau (bảng 1.1).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
7

2 1735-1034 233 27,8 1723–1022 233 27,8 66
3 671-357 104 11,9 658-38 206 23,2 62
4 565-386 59 6,5 552-205 115 13,3 83
5 1016-1177 53 6,2 1163-1450 95 9,8 không
6 1611-1530 27 2,8 1518-1330 62 6,7 không
7 1682-1741 19 1,9 1670-81 56 6,0 79
8 753-688 21 2,3 740-627 37 4,3 67
9 92-1732 42 4,6 968-873 31 3,4 không
10 1524-1631 35 4,1 1642-1755 3.7 3,7 không
11 1033-989 14 1,8 648-719 23 2,8 không
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
8

1.1.1.3. Tính chất nuôi cấy
Hiện nay những hiểu biết về đặc tính sinh học của PCV2 như khả năng
nhận biết, gắn và xâm nhập vào tế bào chưa nhiều. Vì PCV2 chỉ mã hóa cho
hai loại protein nên chúng được cho rằng phải dựa vào protein của tế bào vật
chủ để nhân lên, nghĩa là chúng nhân lên tốt trong tế bào đang phân chia.
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy môi trường tế bào thận lợn
PK15 rất thích hợp để nuôi cấy PCV2, virus nhân lên trong nhân tế bào,
nhưng không gây bệnh tích tế bào. Tischer và cộng sự (1987) cho biết sự
nhân lên của PCV2 sẽ tốt hơn nếu tế bào PK15 được xử lý với glucosamine.
Để khẳng định sự nhân lên của virus trong môi trường PK15 cần phải làm
phản ứng miễn dịch huỳnh quang hoặc PCR do PCV2 thường không gây bệnh
tích tế bào.
Để phân lập PCV2 trên môi trường tế bào PK15 thường mất rất nhiều
công sức và thời gian do phải cấy chuyển nhiều lần, thường chỉ áp dụng trong
nghiên cứu để sản xuất vacxin phòng bệnh.
Virus không có khả năng gây ngưng kết hồng cầu.
1.1.1.4. Sức ñề kháng

1.1.2.2. Phương thức truyền lây
Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường miệng - mũi. Bệnh
có thể lây qua tiếp xúc, qua phân, qua đường hô hấp và tinh dịch của lợn đực
giống. Bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) có thể xác định được
mầm bệnh có trong dịch bài xuất và bài tiết của lợn mắc hoặc không mắc
PMWS, trong huyết thanh lợn có triệu chứng lâm sàng cũng như lợn khỏe
mạnh, không có triệu chứng (Segalés và cộng sự, 2005).
PCV2 cũng có thể truyền trực tiếp từ mẹ sang con qua nhau thai, là
nguyên nhân khiến cho mầm bệnh tồn tại lâu trong đàn, lợn con bị nhiễm
virus ngay từ khi mới sinh. Tuy nhiên, đường truyền lây này ít gặp.
Ngoài ra, PCV2 còn được tìm thấy trong sữa đầu nhưng để khẳng định
được đây có phải là đường truyền lây bệnh hay không thì cần phải tiếp tục
nghiên cứu (trích theo Gillespie và cộng sự, 2009).
1.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh
PCV2 tác động đến tế bào lympho và các tế bào có thẩm quyền miễn
dịch như tế bào đơn nhân, đại thực bào và tế bào tua (dendritic cell) gây suy
giảm miễn dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại mầm bệnh khác xâm
nhập và gây bệnh. Điểm đặc trưng quan trọng nhất quan sát được khi lợn bị
hội chứng PCVAD là số lượng bạch cầu giảm rất nhanh (leucopenia).
Bằng thực nghiệm người ta thấy rằng lợn bị nhiễm PCV2 không có khả
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
10

năng sản sinh interferon ở giai đoạn đầu của quá trình nhiễm trùng có thể là
nguyên nhân làm giảm đáp ứng miễn dịch với PCV2 và bị bệnh. Ngoài ra,
hiện tượng giảm sản sinh interferon nhưng tăng lượng IL-10 ở những lợn thực
nghiệm bị nhiễm PCV2 cũng đã được chứng minh.
Cho đến nay, ảnh hưởng của PCV2 đến hệ miễn dịch của lợn vẫn còn
nhiều tranh cãi và cần phải có các nghiên cứu để làm sáng tỏ. Nghiên cứu cần
tập trung làm rõ tác động qua lại giữa giai đoạn sau nhiễm trùng và trước khi

cộng sự (2011) cho biết đã chứng tỏ được sự có mặt của PCVAD ở đàn lợn
thịt nuôi tại miền Tây nước này, cùng với sự có mặt gây bệnh của vi khuẩn
Salmonella.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lâm Thị Thu Hương tại hai tỉnh miền
Đông Nam Bộ cũng cho thấy lợn mắc PMWS thường cộng nhiễm một số vi
khuẩn như E. coli (55%), Streptococcus (42,5%), Salmonella (32,5%),
P.multocida (22,5%) và Haemophilus parasuis (17,5%).
Từ năm 1988, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào vai trò
của PCV2 gây hội chứng còi cọc ở lợn sau cai sữa PMWS. Điều dễ dàng nhận
thấy là nếu chỉ gây nhiễm PCV2 rất ít khi lợn biểu hiện triệu chứng lâm sàng
(Okuda và cộng sự, 2003). Trong hầu hết các trường hợp lợn có triệu chứng
lâm sàng rõ khi được gây nhiễm đồng thời với một số mầm bệnh truyền nhiễm
hoặc không truyền nhiễm (Rovira và cộng sự, 2002). Do đó, PCV2 được coi là
điều kiện cần nhưng chưa đủ để gây thành bệnh (Tomás và cộng sự, 2008).
Với trường hợp PDNS, cần phải làm thí nghiệm chứng minh giả thuyết
cho rằng hàm lượng kháng thể PCV2 tăng cao sẽ là nguyên nhân gây bệnh.
1.1.3. Triệu chứng và bệnh tích
Thời gian nung bệnh khi gây bệnh thực nghiệm PCV2 cho lợn thường
dao động từ 2 - 4 tuần, virus có trong máu từ 7 - 14 ngày sau khi nhiễm. Ngay
sau khi xâm nhập vào cơ thể, PCV2 sẽ nhân lên ở hạch amidan và các hạch
lympho ở vùng đầu, tấn công tế bào lympho B; rồi từ đó đi đến các cơ quan
khác trong cơ thể như lách, mảng Paye

r
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
12

Theo Segalés (2011), một số hội chứng ở lợn đã được mô tả có liên
quan đến sự nhiễm PCV2; trong đó, PMWS được mô tả nhiều nhất với tên gọi
lúc đầu là circovirosis, một số trường hợp khác là PDNS, hội chứng rối loạn

đến 100% ở đàn lợn trên 3 tháng tuổi nhưng chỉ khoảng 50% với lợn nhỏ hơn.
PDNS xảy ra ở lợn con, lợn thịt và lợn trưởng thành (11 - 14 tuần tuổi). Lợn
chết chỉ sau một vài ngày có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Những con sống
sót có thể tăng trọng trở lại sau 7 - 10 ngày.
Bệnh xảy ra thường ghép với một số mầm bệnh khác như PRRSV,
Pasteurella multocida, Streptococcus suis type 1 và 2
Lợn mắc PDNS có biểu hiện mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, sốt (41
0
C) hoặc
không sốt, nằm một chỗ, lười vận động và/hoặc đi lại khó khăn, cứng nhắc.
Triệu chứng điển hình là trên da xuất hiện những đám phát ban có màu đỏ tía,
không có hình dạng nhất định, bắt đầu ở vùng chân sau và mông, có trường
hợp nốt ban lại phân tán khắp cơ thể. Bệnh tiến triển, hình thành đám vẩy sẫm
ở những nơi có bệnh tích, sau đó nhạt màu dần, đôi khi để lại sẹo.
Bệnh tích đại thể là hiện tượng hoại tử và xuất huyết mô bào, tương
ứng với bệnh tích vi thể là viêm hoại tử mạch máu. Hạch lympho, đặc biệt là
hạch vùng bụng có màu đỏ, sưng to và có thể có chất lỏng chứa trong bụng.
Khi lợn chết thể cấp tính, hai bên thận sưng to, trên bề mặt có nốt màu
trắng, phù thũng bể thận, tương ứng với bệnh tích vi thể là viêm hoại tử có mủ
tiểu cầu thận và viêm kẽ thận.
Thường thì bệnh tích ở da và thận đều xuất hiện khi lợn mắc PDNS, tuy
nhiên có những trường hợp chỉ biểu hiện một trong hai bệnh tích trên.
Hạch lympho thường bị sưng to, có màu đỏ. Lách bị nhồi huyết.
1.1.3.3. Hội chứng rối loạn sinh sản liên quan ñến PVC2 ở lợn (PCV2 -
Associated Reproductive Failure)
Hội chứng này được mô tả lần đầu tiên tại Canada năm 1999, chủ yếu
ảnh hưởng đến lợn nái. PVC2 có liên quan đến hiện tượng sảy thai và thai chết
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
14


Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
15

cộng sự, 2009). Tuy nhiên theo một số tác giả khác PCV2 lại không có liên
quan gì đến hội chứng thần kinh ở lợn (trích theo Segalés, 2011).
1.1.3.6. Hiện tượng nhiễm PCV2 thể cận lâm sàng (PCV2 subclinical
infection)
Dựa vào kết quả huyết thanh học cho thấy tỷ lệ nhiễm PCV2 là rất cao
nhưng tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng thấp hơn rất nhiều, điều đó có nghĩa
bệnh do PCV2 gây ra biểu hiện ở thể cận lâm sàng (Segalés, 2011). PCV2 có
thể nhiễm trong 1 - 2 hạch lympho nhưng lợn không có triệu chứng điển hình.
Tuy nhiên, sự nhiễm PCV2 này sẽ làm giảm hiệu quả việc sử dụng vacxin;
bên cạnh đó, mặc dù lợn khỏe mạnh nhưng vẫn có hiện tượng hạch lympho bị
sưng to, viêm hoại tử nên có trường hợp phải hủy bỏ thân thịt khi giết mổ.
1.1.4. Chẩn ñoán
1.1.4.1. Chẩn ñoán lâm sàng
Để chẩn đoán PCVAD chủ yếu dựa vào lịch sử đàn và triệu chứng lâm
sàng, đặc biệt tỷ lệ mắc và chết do PMWS. Cần chẩn đoán phân biệt triệu
chứng hô hấp ở lợn mắc bệnh “Tai xanh” với hội chứng PMWS. Trong
trường hợp PDNS, cần chẩn đoán phân biệt với một số nguyên nhân gây viêm
da cũng như các bệnh gây xuất huyết ở thận; đặc biệt phải chẩn đoán phân
biệt với bệnh dịch tả lợn cổ điển, dịch tả lợn Châu Phi. Bên cạnh đó, cũng cần
phân biệt hội chứng rối loạn sinh sản do PCV2 với các bệnh gây sảy thai và
con chết yểu.
Chẩn ñoán Hội chứng gầy còm ở lợn sau cai sữa (PMWS)
Để chẩn đoán PMWS, cần dựa vào một số thông tin sau:
- Lợn còi cọc, chậm lớn, khó thở, hạch lympho vùng bẹn bị sưng to, đôi
khi có chứng vàng da.
- Các tổ chức lympho có bệnh tích đặc trưng từ nặng đến trung bình.
- Trong tổ chức lympho và các mô bào của lợn bệnh có thể xác định

"gold standard" với phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là kỹ thuật
PCR, insituhybridization (ISH) hoặc hóa mô miễn dịch
(immunohistochemistry-IHC).

Trích đoạn đặc ựiểm trình tự gen PCV2 lưu hàn hở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status