Báo cáo nghiên cứu khoa học: " CƯƠNG VỰC – MỘT KHÁI NIỆM CẦN ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ TỪ GÓC NHÌN CỦA NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
CƯƠNG VỰC – MỘT KHÁI NIỆM CẦN ĐƯỢC
LÀM SÁNG TỎ TỪ GÓC NHÌN CỦA NGỮ PHÁP
CHỨC NĂNG
RANGE – AN IMPORTANT CONCEPT NEEDS TO BE CLARIFIED
FROM THE ASPECT OF FUNCTIONAL GRAMMAR

PHAN VĂN HÒA
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN

Tóm tắt
Bài viết này nhằm giới thiệu một phần nội dung cơ bản của khái niệm cương vực.
Trước hết người viết sẽ khái quát tư tưởng chủ đạo của Halliday trong ngữ pháp
chức năng. Sau đó, thông qua một số ví dụ minh họa, khái niệm cương vực sẽ
xuất hiện như là một thực thể quan trọng trong hoạt động của ngôn ngữ khi thực
hiện chức năng giao tiếp. Cuối cùng, phần kết luận sẽ nêu ra một cách hệ thống
những hoạt động đa diện của khái niệm cương vực trong một số diễn trình. Và
cũng từ đây, bài viết gợi ra rằng nghiên cứu sâu hơn nữa khái niệm cương vực
sẽ giúp ta nhận diện tốt hơn những đặc điểm mới của một số từ loại, đặc biệt
quan hệ giữa động từ và danh từ khi tham gia vào các diễn trình giao tiếp của
ngôn ngữ.
Abstract
This paper aims at making the basic content of the concept of Range clearer.
Firstly, the writer generalizes Halliday’s ideology in his functional grammar. Then,
illustrated by some lively examples, the concept of Range will be identified as an
important entity of language in use. Finally, the conclusion will systematically point
out some active functions of Range in some processes. From this, it is suggested
that to investigate Range well would help us reliably identify more new features of
word classes, especially the relationships between verbs and nouns participating
in communicative processes.


Ví dụ:
(1) Con sư tử đuổi bắt người khách du lịch
(Hành thể) (Diễn trình) (Đích thể)
Có thể có các yếu tố khác như chu cảnh thời gian, không gian, cách thế như:
(1’) Con sư tử đuổi bắt người khách du lịch sáng nay
(Hành thể) (Diễn trình) (Đích thể) (Chu cảnh: thời gian)
C.2. Diễn trình tinh thần (mental proceseses) ứng với phạm trù ý nghĩa cảm nhận
(sensing), gồm tri giác (nhìn thấy: seeing), tình cảm (cảm thấy: feeling) tri nhận
(thinking), và các tham thể cảm thể (senser) và hiện tượng (phenomenon).
Ví dụ:
(2) Tôi tin tưởng anh.
(Cảm thể) (Diễn trình: tri nhận) (Hiện tượng)
C.3. Diễn trình hành vi (behavioural processes), ứng với phạm trù ý nghĩa cư xử
(behaving), gồm tham thể ứng xử được gọi là ứng thể (behaver).
Ví dụ:
(3) Người ấy thở dài
(Ứng thể) (Diễn trình: hành vi)
C.4. Diễn trình hiện hữu (existential processes), ứng với phạm trù ý nghĩa tồn tại
(existing), gồm có tham thể chủ yếu được gọi là Hiện hữu thể (Existent).
Ví dụ:
(4) Có một trận bão
(Diễn trình:hiện hữu) (Hiện hữu thể)
C.5. Diễn trình quan hệ (relational processes), ứng với phạm trù ý nghĩa quan hệ
(being), gồm các tham thể chủ yếu được gọi là Đương thể (Carrier) và Thuộc tính
(Attribute).
Ví dụ:
(5) Anh ta là vị lãnh đạo tài ba
(Đương thể) (Diễn trình: quan hệ) (Thuộc tính)
C.6. Diễn trình phát ngôn (verbal processes), ứng với phạm trù ý nghĩa nói năng
(saying), gồm các tham thể chủ yếu được gọi là phát ngôn thể (Sayer) và đích ngôn thể

sự tác động của động từ làm vỡ một cách hoàn toàn bị động, và vì hành động này mà bản
thân “đàn piano” không còn là chính nó nữa.
“Núi” ở (9) không hề chịu sự tác động nào của động từ “leo”. “ Núi” ở (9) chỉ cho
chúng ta biết cái phạm vi hoạt động của động từ “leo” mà thôi. Nhưng ở (10), “núi” phải
chịu sự tác động của động từ “đào”. Vì hành động đào có thể làm biến dạng “núi”, làm
ảnh hưởng thực sự đến thực thể “núi”.
Như vậy, “đàn piano” ở (8) và “núi” ở (10) là những thực thể chịu sự tác động
trực tiếp của các hành động trong diễn trình vật chất, chúng được gọi tên là “đích thể”
(Goal).
Theo Martin (1997), “đích thể” khác với “cương vực” trong diễn trình vật chất ở
chỗ “đích thể” là một tham thể chịu sự tác động và ảnh hưởng của hành động trong diễn
trình được thực hiện bởi “tác thể” (Actor). Ví dụ cây cối và quả bóng trong:
(11) Họ triệt hạ cây cối.
(12) Họ ném quả bóng vào trong góc.
Ngược lại, cương vực không chịu sự tác động của diễn trình, nhưng cương vực lại
bổ sung thêm thông tin về diễn trình hoặc làm chi tiết hóa diễn trình bằng các yếu tố của
chu cảnh không gian hoặc mức độ; cụ thể như sau:
3.1. Bổ sung thông tin:
a. Bằng cách tường thuật lại các yếu tố chia sẻ ý nghĩa của động từ ở diễn trình.
148
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008

149
Ví dụ:
(13) Anh ta hát một bài dân ca cổ.
(14) Cô ấy cười một tiếng cười khàn đục của người hút thuốc lá.
b. Bằng cách cụ thể hóa nội hàm từ vựng (động từ trong diễn trình).
Ví dụ:
(15) Họ phạm phải một sai lầm chết người!
c. Bằng cách minh họa thêm để diễn trình được nhận diện một cách chi tiết hơn.

+ Cụ thể về chất lượng. Ví dụ:
(25). Họ chơi một trò chơi rất hay.
Nhiều khi “cương vực” còn thực hiện chức năng lấp đầy ý nghĩa của diễn trình và
vì vậy động từ trong diễn trình trở nên một động từ mang tính hình thức, trống nghĩa, hoặc
chuyển đổi nghĩa theo hướng nghĩa của “cương vực”. Ví dụ:
(26) Họ dùng bữa cơm thân mật.
Halliday (1976) cho rằng trong diễn trình vật chất có thể có một trong hai loại
cương vực: (1) Cương vực thực thể và (2) cương vực diễn trình.Ví dụ:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(25).2008
(27). Con sóc chạy qua sân chơi. (sân chơi là một cương vực thực thể).
(28). Cả nước phải trả một giá đắt. (giá đắt là một cương vực diễn trình).
Ngoài diễn trình vật chất, cương vực có thể xuất hiện ở các diễn trình hành vi,
diễn trình tinh thần, và diễn trình phát ngôn. Ví dụ:
Ở diễn trình tinh thần:
(29). Tôi sẽ nhận ra khuôn mặt ấy ở bất kỳ nơi nào.
Ta gọi khuôn mặt ấy là cương vực hiện tượng trong diễn trình tinh thần.
Ở diễn trình hành vi:
(30). Mắt chị ấy tuôn ra những giọt nước mắt sầu muộn
Những giọt nước mắt sầu muộn được gọi là cương vực hành vi.
Ở diễn trình phát ngôn:
(31). Cô ta nói tiếng Anh rất chuẩn.
“Tiếng Anh” được gọi là cương vực ngôn thể.
Thật ra, cương vực còn khó nhận diện hơn trong một số cấu trúc kiểu như:
(32). Nền giáo dục thực sự của Bernard Shaw xuất phát từ nền tảng của âm nhạc và hội
họa, một nền giáo dục Shaw lĩnh hội được ở quê nhà.
Một nền giáo dục là cương vực thực thể.
(33). Năm 1876, Shaw theo cùng mẹ và chị đến ở tại Luân Đôn; ở đây, Shaw đã phải trải
qua chín năm ròng trong cuộc sống vất vả nghèo khổ không thể nào tả hết được.
Mẹ và chị là cương vực thực thể, chín năm ròng là cương vực diễn trình.
4. Kết luận

19.
[3] Hoàng Văn Vân, Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức
năng hệ thống, Hà Nội, 2000
[4] Hoàng Văn Vân, Dẫn luận ngữ pháp chức năng, (bản dịch từ An Introduction to
Functional Grammar, Edward Arnold, London, của Halliday, 1976), Đại học Quốc
gia Hà nội, 2001.
[5] Bach, K., & Harnish, R.M., Linguistic Communication and Speech Acts, The MIT
Press, London, 1984
[6] Halliday, M.A.K, An Introduction to Functional Grammar, Edward Arnold, London,
1976
[7] Langcker, R.W, Foundations of Cognitive Grammar, Stanford University Press,
California, 1987.
[8] Martin,J.R, Matthiessen I.M, & Painter, C, Working with Functional Grammar,
Arnold, London & New york, 1988


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status