TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
152
HÀNH VI CHIẾN LƯỢC GIỮA CÁC CHÍNH PHỦ
TRONG VIỆC HÀNH THÀNH CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI
STRATEGIC BEHAVIOURS OF GOVERNMENTS IN THE FORMATION
OF TRADE POLICY
NGUYỄN TRUNG KIÊN
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Áp dụng lý thuyết trò chơi trong thươ ng mại quốc tế, bài viết này phân tích việc lựa
chọn chính sách thương mại thông qua trò chơi thuế quan giữa các chính phủ trong thị
trường quốc tế cạnh tranh không hoàn hảo. Nội dung phân tích tập trung làm sáng tỏ
vài trò của sự tương tác chiến lược tron g việc hình thành chính sách thương mại của
mỗi quốc gia.
ABSTRACT
Applying the game theory to international trade, this paper analyses the selection of
trade policy through the tariff game between governments in imperfect international
competition. The analysis focuses on clarifying the role of strategic interaction in the
formation of each country’s trade policy.
1. Mở đầu
Thương mại tự do giữa các quốc gia là chính sách thương mại lý tưởng mà các
quốc gia đều hướng đến. Thương mại tự do sẽ cho phép gia tăng phúc lợi quốc gia và
giảm các thiệt hại của xã hội trong sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù, các nhà kinh tế
thường tranh luận việc chệch hướng khỏi thương mại tự do làm giảm phúc lợi xã hội,
trong thực tế, hầu như không có quốc gia nào tiếp cận hoàn toàn thương mại tự do. Các
quốc gia phát triển hay đang phát triển đều sử dụng các biện pháp thuế quan mặc dù biết
bảo hộ làm giảm lợi ích xã hội trên phạm vi thế giới. Rõ ràng, phải chăng có các nền
chính là
mức giá cân bằng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo ở mỗi quốc gia.
h
i
q
cho tiêu
thụ trong nước và
f
i
q
cho xuất khẩu. Do vậy, sản lượng sản xuất của từng công ty 1 và 2
lần lượt là
hf hf
111222
qqq,qqq=+=+
, và tổng sản lượng tiêu thụ ở mỗi quốc gia lần lượt
là
hf hf
1 1 22 2 1
Qqq,Qqq=+=+
(2).
Giả sử trong sản xuất của công ty i (i=1,2), chi phí biên tế là không đổi và bằng
c
i
hf
ii ii i
C (q ) c (q q )= +
và không có chi phí cố định. Tổng chi phí sản xuất của mỗi công ty là
. Mỗi công ty đồng thời phải chịu chi phí thuế quan cho hàng xuất
khẩu: khi công ty i xuất khẩu một số lượng
hf
22
(q ,q )
trên cơ sở mức thuế quan hiện hành. Lợi ích
mỗi công ty thu được chính là lợi nhuận, theo đó hàm lợi nhuận có dạng sau:
Công ty 1:
h f hf f
1 11 1 12 2 1 1 1 21
q P (Q ) q P (Q ) c (q q ) t qπ= + − + −
, kết hợp với (1) và (2) thì
h hf f hf hf f
1 1 1 1 2 1 2 2 1 1 1 1 21
q a (q q ) q a (q q ) c (q q ) t q
π= −+ + −+ − +−
(3.1)
Công ty 2:
h hf f hf hf f
2 2 2 2 1 2 1 1 2 2 2 2 12
q a (q q ) q a (q q ) c (q q ) t q
π= −+ + −+ − +−
(3.2)
Tổng phúc lợi của quốc gia i bao gồm thặng dư của người tiêu dùng (consumer’s
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
154
surplus – CS) ở quốc gia i, lợi nhuận thu được của công ty i và thu nhập từ thuế quan
mà chính phủ này thu được từ công ty nước ngoài. Hàm phúc lợi (welfare function) của
đó giai đoạn 1 chính là trò chơi giữa hai chính phủ về thuế quan, giai đoạn 2 là trò chơi
quyết định sản lượng giữa hai công ty. Áp dụng phương pháp qui nạp nghịch chiều
(backward induction) cho trò chơi 2 giai đoạn này để xác định các kết cục dẫn đến cân
bằng Nash
1
trong cả hai trò chơi ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Kết cục này được gọi là
cân bằng hoàn hảo trong trò chơi nhỏ (subgame perfect equilibrium). Giả sử các chính
phủ đã chọn thuế quan t
1
và t
2
h* f* h* f*
1122
(q ,q ,q ,q )
. Nếu là cân bằng Cournot-Nash
2
h* f*
ii
(q ,q )
trong
trò chơi giai đoạn 2 giữa hai công ty thì đối với công ty i, các sản lượng phải
thỏa mãn
hf
ii
h f h* f*
i i i j j ij
q ,q 0
Max (q ,q ,q ,q ,t ,t )
≥
π
1
h h f*
11 1 2 1
q0
Max q a (q q ) c
≥
−+ −
và
f*
1
q
phải thỏa mãn
f
1
f h* f
12 2 1 2 2
q0
Max q a (q q ) c t
≥
− + −−
.
Từ đây, xác định các biểu thức như sau:
( )
( )
h* f*
sản xuất để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu như sau:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
155
( )
( )
h*
1
1 1 2 11
3
f*
1
1 22 1 2
3
q a c 2c t
q a c 2c 2t
= +− +
= +− −
và
( )
( )
h*
1
2 21 22
3
f*
1
2 11 2 1
3
q a c 2c t
t0
Max W (t ,t )
≥
,
(i, j 1, 2; i j)= ≠
, trong đó
*
i
W
là
phúc lợi của quốc gia i được xác định trong điều kiện hai công ty quyết định sản xuất
theo như kết cục của cân bằng Nash trong trò chơi giai đoạn 1. Như vậy, hàm W
i
h* f* h* f* *
iijjij
q ,q ,q ,q ,t ,t
* là
hàm của các biến
(i, j 1, 2; i j)= ≠
, trong đó các biến
h* f* h* f*
iijj
q ,q ,q ,q
lại là hàm số của t
1
và t
2
*
i
W
*
1
1 12
3
t (a c )= −
, độc lập với
*
2
t
.
Tương tự, mức thuế tối ưu mà chính phủ 2 lựa chọn là
*
1
2 21
3
t (a c )= −
.
Thay thế
*
1
t
,
*
2
t
vào biểu thức (5), sản lượng các công ty lựa chọn ở trò chơi giai
đoạn 2 như sau:
h*
1
Theo kết cục cân bằng hoàn hảo, tổng sản lượng trên mỗi thị trường là
1
1 11 2
9
Q (5a 3c 2c )= −−
và
1
2 221
9
Q (5a 3c 2c )= −−
.Tuy nhiên, nếu các chính phủ lựa
chọn mức thuế quan bằng không thì tổng sản lượng trên mỗi thị trường sẽ là
00
11
1 112 2 212
33
Q (2a c c ),Q (2a c c )= −− = −−
. Rõ ràng, thặng dư người tiêu dù ng trên mỗi
thị trường khi các chính phủ lựa chọn mức thuế quan theo chiến lược chiếm lĩnh thì nhỏ
hơn so với thặng dư người tiêu dùng nếu chọn thuế quan bằng không. Quả thật, thuế
quan bằng không chính là trạng thái tối ưu hóa về mặt xã hội, nghĩa là
12
tt0
= =
là
phương án của bài toán tối ưu
12
**
1 12 212
t ,t 0
*
1
1 12
3
t (a c )= −
,
*
1
2 21
3
t (a c )= −
). Chính sách trợ cấp này khiến cho công ty sản xuất sẽ
tập trung vào thị trường xuất khẩu và không quan tâm đến thị trường nội địa. Tuy nhiên,
vì mỗi quốc gia tối đa hóa phúc lợi của riêng mình nên sau quá trình tương tác các quốc
gia đã chọn đánh thuế quan. Như vậy, ngoài điều kiện thị trường, sự tương tác chiến
lược giữa các quốc gia cũng là nhân tố tác động đến chính sách thương mại quốc gia.
Tóm lại, với điều kiện các công ty lựa chọn chiến lược cân bằng Nash ở giai
đoạn 2 thì trò chơi tương tác thuế quan giữa các chính phủ ở giai đoạn 1 là thế lưỡng
nan của các tù nhân: tồn tại cân bằng Nash nhưng không phải là tối ưu hóa lợi ích xã
hội Pareto giữa hai nước. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
dưới hình thức liên kết đa phương hoặc song phương giữa các quốc gia phát triển và
đang phát triển thì việc xây dựng chính sách thương mại của các quốc gia đang phát
triển như Việt Nam phải được xem xét trong bối cảnh sự tương tác chiến lược giữa các
chính phủ. Mặc dù, không ai phủ nhận các lợi ích từ thương mại tự do thông qua việc
gia nhập WTO hay việc ký kết các thỏa thuận thương mại tự do song các quốc gia có
thể phải chọn các công cụ bảo hộ dựa vào tư duy chiến lược giữa các chính phủ theo
tình huống Prisoners’ Dilemma.
Chú thích
1. Các kết quả của trò chơi được gọi là cân bằng Nash một khi không có người chơi nào
có lợi khi đơn phương thay đổi chiến lược dẫn kết quả cân bằng đó.