TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
1
ÁP DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐẶC THÙ TRONG GIẢNG DẠY
TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN NƯỚC NGOÀI TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
APPLICATION OF SPECIFIC METHODS TO THE TEACHING OF VIETNAMESE
FOR FOREIGN STUDENTS AT DANANG UNIVERSITY
Nguyễn Ngọc Chinh
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Trong quá trình dạy - học ngoại ngữ, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giảng viên
cần chú trọng kết hợp nhiều phương pháp dạy - học, nên tăng cường sử dụng phương pháp
dạy học khác nhau như: giảng giải, thuyết trình, đàm thoại, phương pháp sử dụng và trình bày
giáo cụ trực quan, phương pháp kể chuyện, phương pháp đóng vai, đố vui, phương pháp tổ
chức hoạt độ
ng khoa học vui… Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài với tư cách là một ngoại
ngữ cũng cần sử dụng các phương pháp đặc thù trên nhằm tăng hứng thú cho người học để
đạt kết quả tốt. Bài báo trình bày việc ứng dụng một số phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho
sinh viên người nước ngoài đang học tập tại Đại học Đà Nẵng.
ABSTRACT
To prove effectiveness in foreign language teaching, teachers should apply some
teaching methods and use a number of procedures such as explanation, disscusion, public
speaking, dialogues, role playing, quizes, extra activities, use of teaching aids and so on.
Teaching Vienamese to foreign students needs specific methods to give them an interest in
their learning. The paper presents some of the Vietnamese language teaching methods for
foreign students who are studying at Danang University. In addition, the paper investigates
some experimental results of a method to teach Vietnamese at the University of Danang. 1. Mở đầu
duy cao, một nội lực khoa học sung mãn, một quá trình học hỏi nghiên cứu không
ngưng nghỉ.
2.2. Đối thoại giữa thầy và trò
Phương pháp đối thoại giữa thầy và trò để cùng xây dựng nên bài giảng ngoại
ngữ. Mục đích của phương pháp này là phát huy cao độ tính tích cực, tính năng động,
tính độc lập sáng tạo ở người học, để họ có đủ tư cách giữ vai trò trung tâm trong hoạt
động dạy học của mỗi buổi giảng. Giảng viên như là người dẫn chương trình tuyệt vời,
như một nhạc trưởng lão luyện điều khiển cả dàn đại hợp xướng. Do vậy, phương pháp
này yêu cầu người giảng không chỉ phải nắm vững vấn đề cần trình bày mà cần phải
năng động, nhạy bén và sáng tạo trong giờ giảng. Trên cơ sở này, người giảng đưa vấn
đề cần trình bày đến cho người học một cách tự nhiên, sinh động và đầy hứng thú vì
trong bài giảng có phần đóng góp ý kiến của họ, có phần nhận thức của họ. Nhờ vậy,
các thắc mắc của sinh viên hầu như được giải tỏa ngay trong giờ học.
2.3. Seminar – tọa đàm
Tổ chức seminar - toạ đàm là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng
dạy học tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài.
Seminar - tọa đàm là một trong những phương pháp giảng dạy mang lại hiệu quả
giúp sinh viên hiểu bài nhanh và tốt hơn không những cho sinh viên các ngành khoa học
tự nhiên mà còn cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đối với ngoại ngữ thì giờ
seminar-toạ đàm là một dịp để sinh viên trình bày ý kiến thể hiện kiến thức của mình
bằng tiếng nước ngoài. Dạy bằng Seminar giảng viên không ngừng củng cố, nâng cao
kiến thức của mình, cách trình bày, cung cấp thông tin cho sinh viên.
Tổ chức thảo luận là một biện pháp giúp giảng viên nắm rõ tình hình học tập:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
3
sinh viên biết gì, nghĩ gì về vấn đề đã học. Học tập thông qua báo cáo Seminar là một
hình thức vui học, được yêu thích của sinh viên.
Sinh viên gồm nhiều nhóm nhỏ từ 2 – 5 sinh viên được phân công chuẩn bị báo
cáo các chủ đề thuộc nội dung môn học mà các nhóm đã bắt thăm. Thông thường, đây
là những phần kiến thức ứng dụng cụ thể của môn học.
nắm vững những vấn đề có liên quan đến nội dung báo cáo.
Cải tiến phương pháp dạy học bằng hình thức seminar là một cách hữu hiệu
trong nâng cao chất lượng dạy và học. Thời gian tới, nếu được Trường hỗ trợ về mạng
thông tin, hình thức giảng dạy seminar-toạ đàm sẽ phát triển và chất lượng dạy, học
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
4
chắc chắn sẽ ngày càng được nâng cao.
2.5. Nhận xét của giảng viên
Để cụ thể hoá vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại
ngữ, chúng tôi đề xuất một kinh nghiệm: nhận xét của giảng viên đối với các bài tập viết
cho sinh viên người nước ngoài.
Như chúng ta đã biết, nhận xét của giảng viên là một công cụ có vai trò tác động
quan trọng trong việc khuyến khích động viên và củng cố quá trình học tập của sinh
viên. Hầu hết giảng viên đều cho rằng họ phải có trách nhiệm đưa ra những lời nhận xét
cụ thể, chi tiết để giúp sinh viên cải thiện và điều chỉnh, hoàn thiện kỹ năng viết. Tuy
nhiên, nhận xét của giảng viên không phải là yếu tố duy nhất quyết định khả năng viết
của sinh viên. Cho nên, khi dạy viết cho SV nước ngoài, GV thường phải cân nhắc điểm
nào nên, điều nào không nên với mong muốn nhận xét của mình có hiệu quả đối với
SV.
Sau đây là một số kinh nghiệm của chúng tôi:
1. Nhận xét của GV không nên quan tâm nhiều vào lỗi của SV. Tất cả GV đều
coi trọng tính chính xác trong các bài viết của SV mong muốn giúp họ đạt một trình độ
nhất định về tính chuyên nghiệp của bài viết. SV, luôn cố gắng phấn đấu làm sao cho
bài viết của mình không có lỗi. SV luôn mong đợi GV sửa lỗi cho mình. Thụ đắc ngôn
ngữ là một quá trình tiếp thu một ngôn ngữ khác diễn ra một cách từ từ theo thời gian và
mắc lỗi là một tất yếu của quá trình phức tạp ấy. Chúng ta không kỳ vọng SV có thể sửa
đúng ngay lập tức một mẫu câu hoặc dùng đúng mẫu câu đó sau khi đã được giới thiệu
ra. SV cần có thời gian và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần mới có thể viết đúng được
2. Nhận xét của GV nên ưu tiên gián tiếp hơn trực tiếp. Nhận xét gián tiếp là chỉ
ra lỗi của SV bằng cách gạch chân, khoanh tròn, hay sử dụng ký hiệu, v.v Cách này có
vì vậy nhận xét của giảng viên đối với những bài viết lần đầu nên tập trung vào ngữ
pháp (tức là mặt hình thức), còn đối với các bài viết sau đó nên tập trung vào ý tưởng
(tức là mặt nội dung). Quá trình giảng dạy sinh viên nước ngoài từ năm 2001 đến nay
cho chúng tôi thấy, các bài viết của sinh viên nên được nhận xét theo hướng mở [13] là
thuận lợi hơn và tốt hơn cho sinh viên. Nhận xét của giảng viên suy cho cùng là để phục
vụ mục đích sư phạm trực tiếp nhiều hơn là để chấm điểm đối với một sản phẩm cuối
cùng. Hơn nữa, viết là một phương tiện, qua đó sinh viên được đánh giá không những
về trình độ tiếng mà còn về vốn hiểu biết, hay nói cách khác là phông nền tri thức của
họ về một vấn đề cụ thể.
4. Ngôn ngữ sử dụng trong nhận xét phải chuẩn mực, rõ ràng
Nhận xét của giảng viên, trong thực tế rất đa dạng: có thể chỉ vài cụm từ, một vài
câu và có thể là cả một đoạn văn. Bất luận độ dài ngắn của nhận xét, giảng viên nên lựa
chọn ngôn ngữ và văn phong phù hợp đảm bảo sinh viên hiểu đúng những điều mình
mong muốn.
Để sinh viên hiểu đúng, nhận xét của giảng viên cũng nên tránh các mẫu câu
phức tạp, câu văn cầu kỳ mà muốn hiểu được, sinh viên cần phải có một vốn ngôn ngữ
cao hơn. Nếu nhận xét của giảng viên quá phức tạp, sinh viên không những mất thời
gian luận giải mà còn có thể gây cảm giác thiếu tự tin, thậm chí tự ti. Kết quả là sinh
viên có thể chấp nhận giải pháp đơn giản là cắt bỏ luôn phần đó để tránh rắc rối.
Tóm lại, nhận xét của giảng viên không chỉ thuần tuý mang tính cung cấp thông
tin mà xét trên phương diện sư phạm nó còn có chức năng khích lệ phát triển kỹ năng
viết cho sinh viên. Giảng viên thường phải áp dụng nhiều cách nhận xét khác nhau tùy
thuộc vào loại bài tập yêu cầu sinh viên, trình độ tiếng của họ sao cho họ hiểu đúng và
vận dụng được những lời nhận xét đó. Nhận xét của giảng viên cũng không đơn thuần là
kênh thông tin phản hồi về bài viết của sinh viên mà nó còn là một tương tác trong toàn
bộ quá trình học tập, qua đó tạo lập một mối quan hệ liên nhân hữu ích giữa người dạy
và người học.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
6
3. Kết quả khảo sát tại Trường ĐH Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
- Chúng tôi vui vẻ lắm hôm ấy. (4) trong bài viết "Ngày nhà giáo Trung Quốc"
của SV Trần Vinh Lâm, khoá 2005-2006.
Phải viết là: Hôm ấy chúng tôi vui vẻ lắm.
3.2.2. Sai về dùng từ
Khung cửi thường được đặt giữa các cột nhà về đây là là chỗ mát mẻ, không bị
nắng để làm việc. (5) trong bài viết về "Nói về một nghề truyền thống của Lào" c
ủa SV
Uthay, khoá 2006-2007.
Phải viết là: Khung cửi thường được đặt giữa các cột nhà vì đây là chỗ mát mẻ,
không bị nắng khi làm việc.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
7
Tóm lại, mắc lỗi khi học ngoại ngữ là chuyện đương nhiên. Điều quan trọng là
người học ngoại ngữ phải biết được các lỗi mình mắc phải để khắc phục. Muốn biết lỗi
của mình ở mức độ nào thì chỉ bằng cách qua nhận xét của người thầy.
Khảo sát các loại lỗi khác mà sinh viên người nước ngoài, bao gồm SV
CHDCND Lào, SV Trung Quốc, sinh viên Nhật, Tây Đức, Hàn Quốc mắc phải qua 570
bài viết luận, chúng tôi nhận thấy rằng, tỷ lệ mắc lỗi về chính tả là 199 bài/35%, về ngữ
pháp (dùng từ sai - 97 bài/17%, sai vị trí-trật tự từ - 80 bài/14%, dùng sai từ nối - 114
bài/20%, hành văn lủng củng - 51 bài/9% và các lỗi khác - 29 bài/5%). Có thể biểu thị
điều đó bằng sơ đồ sau:
Biểu đồ. Các loại lỗi sinh viên người nước ngoài mắc phải
tại Trường ĐHSP, ĐHĐN từ năm 2005 đến 2007
4. Kết luận
Chúng ta cần phải quan niệm rằng, dạy tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài tại
Đại học Đà Nẵng phải như là một ngoại ngữ. Sinh viên nước ngoài họ học tiếng Việt
nhằm lấy tiếng Việt là phương tiện để họ học các chuyên ngành khác tại ĐHĐN, chứ
không phải họ về nước học dạy tiếng Việt cho đồng bào của họ. Chính vì thế mà trong
quá trình dạy tiếng Việt cần phải sử dụng các phương pháp dạy ngoại ngữ như đã trình
[7] Góp thêm ý kiến hoàn thiện quy trình đào tạo cán bộ ngoại ngữ, PGS. Bùi Hiền,
Tạp chí Đại học & Giáo dục chuyên nghiệp, số 5/1999.
[8] Một vài suy nghĩ về vấn đề lỗi trong phương pháp dạy học ngoại ngữ, Lê Thị Thu
Thuỷ, Tạp chí Giáo dục, 2003/5, số 57.
[9] Phương pháp dạy ngoại ngữ của thầy cô, Dương Kỳ Đức, Ngôn ngữ và Đời sống,
số 5(31)/1998.
[10] Nguyễn Hoàng Thân, Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trong
quá trình giảng dạy tiếng Trung cho sinh viên Khoa Trung văn Trường ĐHSP -
Huế, đề tài NCKH SV, Huế, 2001.
[11] Tự học tiếng Lào, Nxb Giáo dục, 1997.
[12] Sách tự học Tiếng Lào cấp tốc, Nxb CHDCND Lào, 2001.
[13] Nguyễn Văn Trào, Nhận xét của giáo viên đối với các bài tập viết của sinh viên,
Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, 10/2007.
[14] Lalande J., (1982), Reducing composition errors: An experiment, Modern
Language Journal, 66.2.