TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
1
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, SINH VIÊN
VỚI NHU CẦU XÃ HỘI TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
THE RELATIONSHIPS BETWEEN EDUCATIONAL INSTITUTIONS, STUDENTS
AND SOCIAL DEMANDS AT THE UNIVERSITY OF DANANG
Trần Đình Mai
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
“Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không đáp ứng nhu cầu xã hội” là một trong
những cuộc vận động sâu rộng của ngành Giáo dục & Đào tạo ở nước ta hiện nay. Để góp
phần thực hiện cuộc vận động đó, tác giả nêu ra một số quan niệm: nhu cầu xã hội, hàng hóa
sức lao động, thị trường lao động, chất lượng đào tạo, việc chọn ngành ngh
ề của sinh viên;
cùng với những đánh giá một số khía cạnh về mối quan hệ giữa nhà trường, sinh viên với nhu
cầu xã hội. Và từ sự phân tích thực trạng đào tạo gắn với nhu cầu xã hội tại Đại học Đà Nẵng,
tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để giải quyết tốt mối quan hệ trên, nhằm thu hút các
nguồn lực, động lự
c phục vụ cho công tác đào tạo của nhà trường ngày càng đáp ứng được
nhu cầu xã hội.
ABSTRACT
“Say no to the educational programmes that do not meet social standards and
demands” is one of the recent profound propagandas of our country’s education and training
sector. In order to contribute to the implementation of that propaganda, the writer mentions
some concepts such as social demands, sold labour force, labour market, educational quality,
students’ career option and the assessments on some aspects about the relationships among
educational institutions, students and the demands of society. Upon the analysis of an
educational reality in connection with social demands at the University of Danang, the writer
presents some solutions to the relationships in view of attracting more human resources to well
ối đa.
Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo đề ra, nhằm thỏa
mãn yêu cầu của khách hàng. Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo phải xét trong cơ chế
thị trường.
Quan niệm chọn ngành, nghề: Tùy theo năng lực, tố chất, điều kiện của bản thân
và sự biến động của thị tr
ường. Nên “Hướng nghiệp trước, hướng trường sau”.
Muốn cho mối quan hệ, liên kết nói trên phát triển bền vững, trước tiên phải vì
mục tiêu chung, phải đặt nó trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
phải có động lực để cùng phát triển (đó là lợi ích hài hòa của các bên tham gia).
* Quan niệm và những đánh giá về mối quan hệ này
Trong mối quan hệ này, Nhà trường đóng vai trò là nhà sản xuất, cung ứng sản
phẩm, dịch vụ cho xã hội; còn SV là sản phẩm của quá trình đào tạo và tự đào tạo. Thị
trường sức lao động là một trong những thị trường quan trọng nhất của kinh tế thị
trường, nhưng ở nước ta thị trường sức lao động phát triển thấp, chưa có khái niệm mua
bán sức lao động mà còn ảnh hưởng của cơ chế “xin cho”. Sự ảnh hưởng của cơ chế này
dẫn tới người bán, người mua không gặp nhau trên thị trường; người mua họ khai thác
cơ chế “xin cho”, và giá tiền công, tiền lương thấp cho nên họ không nhất thiết phải vội
vả đi mua, hoặc đặt hàng trước. Mặt khác, độ chênh giữa giá cả hàng chất lượng cao với
hàng chất lượng thấp không lớn. Còn đối với SV, họ chỉ lo học nhưng không biết thị
trường cần ở mình những gì, thiếu kỹ năng gì, nói chung họ thiếu thông tin về thị trường
và không có sự cạnh tranh, ít động lực. Thông tin từ xã hội đến với SV, với nhà trường
còn rất ít. Từ đó quan hệ giữa người bán với người mua trong lĩnh vực này gắn kết cũng
không nhiều. Về phía doanh nghiệp chưa thể hiện vai trò của mình trong mối quan hệ
ngược của quan hệ cung cầu. Doanh nghiệp phải đưa ra thông tin, tín hiệu thị trường,
phải có những đơn đặt hàng, phải đầu tư và tái đầu tư (kể cả đầu tư đào tạo lao động),
góp phần thật sự vào quá trình đào tạo của nhà trường. Còn về phía chính phủ, chưa có
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
3
giải pháp tốt để phát triển loại thị trường sức lao động này.
hữu
Thỉnh
giảng
Giáo
sư
Phó
G.Sư
Tiến
sĩ
Thạc
sĩ
Cử
nhân
1 2006 - 2007 66.308 1.036 390 4 42 178 684 517
2 2007 - 2008 69.324 1.136 390 5 46 196 752 526
Theo số liệu trên ta thấy hiện tại ĐHĐN vẫn còn thiếu giảng viên, nhất là giảng
viên có trình độ TS. Do đó theo chiến lược, đến năm 2020 số lượng giảng viên của
ĐHĐN là 2600, trong đó TS là 615 người.
* Quy mô tuyển sinh, chất lượng đầu vào
Quy mô tuyển sinh bình quân tăng hằng năm khoảng 10%. Như vậy nhu cầu của
người học trong xã hội là rất lớn. Nếu chỉ xét về lượng thì quy mô t
ăng nhanh sẽ tăng
mức thỏa mãn nhu cầu xã hội. Về chất lượng đầu vào: Đa số SV vào Đại học Đà Nẵng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
4
(ĐHĐN) đều là những học sinh rất giỏi, ngoan ở bậc học phổ thông. Điểm chuẩn vào
ĐHĐN khá cao so với mặt bằng chung của cả nước.
Bên cạnh những thuận lợi, cũng có một số khó khăn tồn tại: Đối với những
ngành có số lượng thí sinh dự thi đông, nhu cầu xã hội lớn, ĐHĐN vẫn không thể tuyển
vào nhiều vì đội ngũ giảng viên và điều kiện cơ sở vật chất có hạn, hầu hết đều đã quá
Đào tạo cán bộ đại học hệ cử tuyển, quản lý nhà nước cấp huyện, xã của tỉnh
Kon Tum; Đào tạo liên thông và hoàn chỉnh kiến thức cho nhiều đơn vị; Liên kết đào
tạo Sau đại học với Trường Đại học Tây Nguyên, Học viện Hải quân (Nha Trang),
Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Trường Đại học Quảng Nam, ; Đào tạo ngắn hạn và
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
5
bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật (cho CT Thép ĐN, CT điện lực 3, Tổng CT Sông Đà 2, CT
Ô-tô Trường Hải, Schlumberger, CT Cosevco), cán bộ quản lý kinh tế (quản trị tài
chính, quản trị dự án, marketing, ngân hàng…).
Liên kết với các doanh nghiệp tổ chức các sự kiện để cùng quảng bá thương hiệu
và trao học bổng cho SV, tổng số tiền tài trợ hằng năm từ 600 triệu đến 01 tỷ đồng.
Về đầu tư cho HSSV: Ngoài ngân sách nhà nước và gia đình cấp, HSSV cũng
vay từ tín dụng ưu đãi của nhà nước, kể từ tháng 9/2007 đến tháng 9/08, HSSV ở
ĐHĐN vay được trên 120 tỷ đồng.
Ngoài ra ĐHĐN còn liên kết với nước ngoài như: với trường Đại học
Washington (Mỹ), Towson, ĐH Queensland (Anh) và một số trường Đại học của Pháp
để đào tạo Kỹ sư, Cử nhân; Thạc sỹ: Quản trị doanh nghiệp FNEGE, Quản trị truyền
thông; với Công ty Donogo, công ty Horizons - Nhật Bản mở các lớp bồi dưỡng tiếng
Nhật miễn phí; Đào tạo và cấp bằng ngoại ngữ TOEFL, IELTS, BEC
Quan hệ liên kết để tăng cơ sở vật chất: ĐHĐN đã và đang triển khai nhiều dự
án từ nguồn vốn ODA của Ngân hàng Thế giới, của tổ chức Atlantic Philanthropies –
Hoa Kỳ (4 triệu USD), của chính phủ Áo (5,2 triệu EURO), dự án TRIG của Ngân hàng
Thế giới (6 triệu USD) …
Nhìn chung, thực trạng mối quan hệ trên ở ĐHĐN đã được thiết lập nhưng mới
chỉ là bước đầu, đang trong quá trình phát triển, liên kết và hội nhập.
4. Một số giải pháp về sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu
doanh nghiệp tại Đại học Đà Nẵng
4.1. Về công tác tuyển sinh và kiểm định chất lượng
Tăng chỉ tiêu những ngành đào tạo có nhu cầu lớn; giảm chỉ tiêu tuyển sinh hoặc
tuyển sinh gián đoạn những ngành đào tạo không còn phù hợp, nhu cầu ít; mở thêm
làm, để tạo cơ hội cho SV tìm được việc làm phù hợp với ngành nghề của mình.
Hằng năm nhất là vào mùa thực tập tốt nghiệp, các trường phải triển khai “Tuần
giáo dục công dân cuối khóa”, giới thiệu về nơi thực tập, về đạo đức nghề nghiệp
Đồng thời tìm kiếm các doanh nghiệp có nơi thực tập phù hợp và qua đó doanh nghiệp
tạo điều kiện cho SV thực tập, từ đó có thể lựa chọn một số SV vào làm việc.
4.6. Các đề xuất, kiến nghị
Bộ GD&ĐT cần định hướng một số "chuẩn đào tạo" nào đó, để làm thước đo và
đánh giá kết quả của cuộc vân động "nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp
ứng nhu cầu xã hội";
Qua xét duyệt các vấn đề có liên quan đến đào tạo và phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh
hằng năm của Bộ cho từng trường nên tính đến nhu cầu xã hội.
Nếu coi nhà trường như là một doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm, thì ngoài
việc đầu tư, tái đầu tư còn cần phải có chiến lược kinh doanh…, phải luôn đổi mới
phương pháp và công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội.
Đề nghị tăng kinh phí cho các đề tài NCKH của SV có khả năng ứng dụng vào
thực tiễn, hoặc có những ý tưởng mới có thể áp dụng được.
Đề nghị nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho SV quan hệ với các doanh
nghiệp trong việc thực tập, NCKH, thực hiện các thí nghiệm, trao đổi thông tin
5. Kết luận
Trên đây là một số ý kiến về mối quan hệ giữa nhà trường, SV với những chủ
thể sử dụng sản phẩm của nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội tại một đơn vị cụ
thể như Đại học Đà Nẵng. Hy vọng rằng mối quan hệ này ngày càng tốt hơn để góp
phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C. Mác và Ph. Ăngghen. Nxb chính trị QG Hà Nội, 1993, T23, tr 66 -75.
[2] Paula. Samuenson và Wiliam D. Nordhaus. Nxb sách McGRAW- HILL New