Báo cáo nghiên cứu khoa học: " LIÊN KẾT TRONG CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008

101

LIÊN KẾT TRONG CHÍNH SÁCH THU HÚT
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC
ĐỊA PHƯƠNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
MIỀN TRUNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LINKS IN POLICIES ATTRACT INVESTMENT INDUSTRIAL
DEVELOPMENT OF PROVINCES IN THE KEY ECONOMIC AREAS
OF CENTRAL VIETNAM: THE CURRENT SITUATION AND
SOLUTIONS

ĐÀO HỮU HÒA
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 04 tỉnh và 01 thành phố trực thuộc trung ương
trải dài từ Thừa Thiên Huế đến Bình Định đã được Chính phủ phê duyệt năm 2004. Từ
đó đến nay, các địa phương trong Vùng vẫn chưa tìm được tiếng nói chung trong việc
thiết lập các mối quan hệ liên kết để phát huy thế mạnh của vùng nhằm đẩy mạnh phát
triển kinh tế, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH của vùng. Bài báo này đi vào phân tích thực
trạng liên kết của các địa phương trong việc hoạch định chính sách thu hút đầu tư phát
triển công nghiệp và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết trong tương lai.
ABTRACT
The key economic region of Central Vietnam consists of 04 provinces and 01 cities
directly under the direct control of the central government, spreading from Thua Thien-
Hue to Binh Dinh province. It was recognized by the Government in 2004, and since
then, the local area has not yet found a voice in setting up relationships between
promoting the strengths of the region and economic development, implementing the
goal of industrialization and modernization of the region. This article analyzes the

trên cơ sở phân công và hợp tác lao động trong liên minh. Liên kết ở tầm vĩ mô là tiền
đề tốt để thúc đẩy thiết lập và mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế ở tầm vi mô, tầm
doanh nghiệp.
Ở tầm vi mô, liên kết được thực hiện thông qua sự thiết lập các mối quan hệ hợp
tác làm ăn giữa các chủ thể trong nền kinh tế thông qua nhiều hình thức khác nhau như
liên kết ngang (liên kết diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành),
liên kết dọc (liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng một dây chuyền công nghệ sản
xuất), liên kết nghiêng (liên kết giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu công
nghệ), liên kết theo lãnh thổ (liên kết theo vùng địa lý), liên kết hình sao (liên kết mà
trung tâm là một doanh nghiệp chủ đạo và một loạt doanh n ghiệp khác hoạt động xoay
quanh nó), liên hiệp các doanh nghiệp (tổ hợp các doanh nghiệp hoạt cùng hoặc khác
ngành, trong đó có một doanh nghiệp nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các
doanh nghiệp khác về mặt tài chính và chiến lược phát triển), thầu phụ (hợp tác cung
ứng các chi tiết, dịch vụ của các nhà thầu cho công ty mẹ để sản xuất sản phẩm hoàn
chỉnh), hiệp hội ngành nghề (là hình thức liên kết rất đa dạng giữa doanh nghiệp, hộ gia
đình, cá nhân) Việc đẩy mạnh liên kết ở tầm vi mô, đến một mức độ nhất định sẽ tác
động ngược lại đối với liên kết vĩ mô, nó buộc các quan hệ liên kết vĩ mô phải phát
triển, chuyển hóa theo hướng thuận lợi cho liên kết vi mô phát huy tác dụng.
Cho dù ở tầm liên kết nào, thì những lợi ích mà liên kết kinh tế đem lại cho các
bên tham gia cũng rất lớn, thể hiện trên các mặt sau đây:
− Tăng quy mô hoạt động nhằm đạt đến quy mô hiệu quả nhờ có phân công lao
động xã hội;
− Tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên trong việc phát huy thế mạnh;
− Tăng được sức mạnh cạnh tranh chung nhờ phối hợp sử dụng được những ưu thế
riêng biệt của các bên;
− Giảm thiểu các rủi ro nhờ chia cơ chế sẻ trách nhiệm giữa các bên tham gia.
Mặc dù những lợi ích của liên kết kinh tế là rất lớn, tuy nhiên nó cũng tồn chứa
một vài bất lợi nếu không có cơ chế kiểm soát để khắc phục, đó là:
− Có thể tạo ra sự độc quyền, cản trở cạnh tranh làm phương hại đến lợi ích của
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008

Tăng tỷ lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước khoảng 5,5% năm 2010 và 6,5%
năm 2020.
Với xuất phát điểm thấp và điều kiện phát triển không thuận lợi, vì vậy để đạt
được mục tiêu trên, đòi hỏi các địa phương trong vùng phải nỗ lực rất lớn, phải tận dụng
hết mọi tiềm năng sẵn có cùng với sự chi viện mạnh mẽ từ trung ương để đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế, trong đó chú trọng đến phát triển công nghiệp, coi đó là tiền đề
để thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.
Do đặc điểm của các địa phương trong VKTTĐMT (trừ Đà Nẵng) đều có điều
kiện phát triển tương tự nhau, do đó nếu mỗi địa phương tự hoạch định chính sách để phát
triển công nghiệp thì khả năng thành công không cao, do phải đối đầu, cạnh tranh với
nhau. Tuy nhiên, nếu các địa phương trong VKTTĐMT liên k ết chặt chẽ với nhau cùng ra
những chính sách chung, có sự phân công và hợp tác trong phát triển công nghiệp thì sẽ
tạo ra được động lực phát triển chung cho toàn vùng. Trong sự liên kết đó, các địa phương
vẫn hoàn toàn có thể phát huy thế mạnh riêng của mình mà không sợ ảnh hưởng đến việc
phát huy lợi thế chung của vùng nhờ có sự phân công lao động hợp lý.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008

104

Rất tiếc, thời gian qua việc liên kết này vẫn chưa thực hiện được. Điều này thể
hiện rất rõ qua thực trạng phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế mở (sau đây gọi
chung là khu công nghiệp: KCN) tại các địa phương VKTTĐMT như sau:
Trong những năm qua, việc đẩy mạnh phát triển các KCN tại VKTTĐMT rất
được các địa phương quan tâm và bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy
nhiên, tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư và thiếu qui hoạch tổng thể trong toàn vùng
đang là vấn đề nan giải. Từng tỉnh, thành có qui hoạch tổng thể phát triển KCN riêng,
nhưng các tỉnh, thành trong Vùng lại không có qui hoạch chung, không có qui hoạch
định hướng của vùng, nên các địa phương “mặc sức” thu hút đầu tư mà không có định
hướng tập trung rõ ràng. Các KCN gần như giống nhau, trong đó chủ yếu phát triển
những ngành nghề truyền thống như chế biến nông, lâm thủy sản, giày dép, dệt may ,


105

các địa phương đang áp dụng. Các thông tin từ trang web của các KCN cho thấy, tất cả
các địa phương đều sử dụng công cụ thu hút đầu tư tương tự nhau, đó là: ưu đãi thuế
nhập khẩu các yếu tố đầu vào; miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp với các mức độ
khác nhau; miễn giảm tiền thuê đất; hỗ trợ đào tạo và các dịch vụ ưu đãi khác. Với
chính sách thu hút đầu tư như vậy nên chủ đích cũng chỉ là lôi kéo được càng nhiều các
dự án đầu tư về địa phương mình hoặc là để “lấp đầy” các KCN (thực tế là tỷ lệ này rất
thấp), rất khó để có một định hướng đầu tư rõ ràng.
Ví dụ, khu công nghiệp Phú Bài thành lập từ năm 1998, nhưng đến nay mới có
17 dự án đầu tư đi vào hoạt động với diện tích sử dụng 20%. Khu Kinh tế Dung Quất có
tổng diện tích trên 10.000 ha (đến năm 2010) được thành lập từ năm 2000 nhưng đến
nay cũng mới chỉ có 94 dự án đăng ký đầu tư (thực sự đã đầu tư mới có 25); sử dụng
chưa đến 1.000 ha, chiếm dưới 10%.
Tình trạng chung của các KCN trong vùng hiện nay là “đói dự án” dẫn đến việc
các KCN phải tìm mọi cách để thu hút đầu tư đủ loại, bất cứ dự án nào có nhu cầu cũng
đều được chấp nhận. Do động cơ như vậy nên các chính sách thu hút đầu tư thường
cũng chỉ là những giải pháp ngắn hạn, chưa đi vào giải quyết những vấn đề cốt lõi bên
trong giúp cho các nhà đầu tư đó là chi phí sản xuất mà quan trọ ng là đảm bảo các đầu
vào ổn định, chất lượng cao, chi phí hạ cho nhà đầu tư. Vì vậy, rất nhiều dự án đầu tư
vào KCN chỉ nhằm mục đích lợi dụng các ưu đãi đầu tư của các địa phương để thu lợi
trong ngắn hạn chứ chưa quan tâm đến mục tiêu dài hạn. Chính điều này đã dẫn đến
tình trạng ngay trong mỗi khu công nghiệp, khu kinh tế, quan hệ kinh tế và liên kết hỗ
trợ với nhau của các doanh nghiệp trong nội bộ hầu như không được thiết lập.
Các kết quả nghiên cứu trên có thể cho phép kết luận rằng, quan hệ liên kết giữa
các địa phương trong chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở vùng
KTTĐMT hiện nay hầu như chưa được quan tâm thiết lập. Vì vậy, chưa tạo được sự hỗ
trợ lẫn nhau giữa các khu công nghiệp, các địa phương với nhau để phát huy lợi thế
chung của vùng trong phát triển kinh tế.

thực hiện.
− Việc tạo ra sự “vượt trội” so với các địa phương khác đang được xem là tiêu chí
quan trọng để đánh giá “năng lực” lãnh đạo. Vì vậy, điều quan tâm của lãnh đạo
địa phương là tìm mọi cách để lôi kéo được nhiều dự án đầu tư về địa phương
mình, bất kể hiệu quả cũng như hậu quả lâu dài. Ví dụ, việc đồng ý cho tập đoàn
công nghiệp thép Posco xây dựng nhà máy luyện thép lớn nhất Việt Nam ở vịnh
Vân Phong có thể mang lại lợi ích nhất thời cho tỉnh Khánh Hòa, những hậu quả
lâu dài về môi trường đối với vịnh biển này chắc chắn là rất lớn nhưng chưa
được tính toán cụ thể.
− Do bản tính cục bộ, địa phương của người miền Trung rất mạnh nên động cơ
phải cạnh tranh để vượt trội đã phần nào làm cản trở tư duy hợp tác, liên kết với
các địa phương khác trong khu vực.
4. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh liên kết giữa các địa phương vùng KTTĐMT
trong việc hoạch định chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế
4.1. Đổi mới công tác quy hoạch các khu công nghiệp
Để tránh tình trạng các địa phương chạy theo lợi ích cục bộ địa phương làm tổn
hại tới lợi ích chung của vùng, của cả nước. Trong thời gian đến công tác quy hoạch
phát triển các KCN cần đổi mới theo hướng sau đây:
− Chính phủ cần thống nhất quy hoạch phát triển KCN chung cho cả nước chứ
không riêng quy hoạch cho vùng hay khu vực. Các tỉnh, thành phố sẽ không tiến
hành quy hoạch tổng thể mà chỉ tiến hành quy hoạch phát triển trên cơ sở quy
hoạch tổng thể cả nước đã được công bố. Việc triển khai thực hiện quy hoạch
phát triển khu công nghiệp phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội
của từng địa phương theo hướng kết hợp hài hoà giữa phát triển công nghiệp với
quy hoạch vùng, quy hoạch các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008

107

− Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp sau khi được phê duyệt sẽ là căn cứ

− Thành lập các đoàn kiểm tra của Chính phủ để kiểm tra tình hình ban hành chính
sách tại các địa phương nhằm phát hiện và loại bỏ những văn bản đã ban hành
trước đây nhưng trái với quy định chung. Đối với các chính sách đã áp dụng tại
các địa phương, tùy từng trường hợp cụ thể mà quy định thời gian được phép
tiếp tục áp dụng hoặc phải loại bỏ ngay.
− Khi ban hành chính sách phát triển cho vùng, Chính phủ cần phải có tham vấn từ
tất cả các địa phương trong vùng, tránh trường hợp các chính sách tạo ra lợi thế
cho địa phương này nhưng gây bất lợi cho địa phương khác.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008

108

− Có chính sách ưu đãi cho các ngành công nghiệp mũi nhọn cần ưu tiên phát triển
trong vùng trên cơ sở quy hoạch phát triển chung đã phê duyệt, trong đó cần chỉ
rõ địa phương nào được ưu tiên phát triển lĩnh vực gì, sản phẩm gì.
− Cần xóa bỏ tình trạng các địa phương tranh thủ “xin xỏ” trung ương để được hỗ
trợ cho các chính sách ưu đãi riêng.
4.3. Xúc tiến thành lập “Hội đồng vùng”
Mặc dù Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển vùng KTTĐMT nhưng về
mặt quản lý lại không có một cơ cấu nào để điều hành nó. Để giải quyết vấn đề này, từ
năm 2005, Chính phủ đã lập ra Ban chỉ đạo các VKTTĐ do Phó thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng (nay là Thủ tướng) phụ trách. Mặc dù những nỗ lực của Chính phủ cũng đem lại
những tác động nhất định, nhưng “vẫn chưa tạo ra sự kết nối mang tính tự giác của
vùng. Một cơ chế chính sách tạo sự nối kết toàn vùng vẫn đang thiếu. Ban chỉ đạo vùng
thỉnh thoảng cũng có họp, nhưng cụ thể các vấn đề liên kết thế nào, làm cái gì, địa
phương làm gì, trung ương làm gì thì chưa rõ”[4].
Vì vậy, để việc phối hợp giữa các địa phương trong vùng được thuận tiện và
hiệu quả, theo chúng tôi Chính phủ cần thành lập tại mỗi vùng KTTĐ một cơ cấu điều
hành dưới dạng “Hội đồng vùng”.
Thành phần của Hội đồng này bao gồm lãnh đạo cao nhất của các địa phương,

cũng cần phải được cải tiến theo hướng đa dạng hoá nguồn tuyển dụng. Nên dành một
tỷ lệ nhất định cho người từ địa phương khác tham gia vào các chức vụ lãnh đạo và cán
bộ chủ chốt tại mỗi địa phương, tránh chỉ sử dụng người địa phương trong các chức vụ
trọng yếu tại địa phương mình thông qua áp dụng chính sách luân chuyển cán bộ trong
toàn vùng chứ không chỉ trong từng tỉnh, huyện như hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Dương Đình Giám, Về vấn đề liên kết kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Thời báo Kinh
tế Việt Nam, ngày 17/07/2003.
[2] Phương Thảo, Vai trò của công nghệ thông tin trong việc liên kết phát triển KT-XH
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Báo Đầu tư, 22/06/2005.
[3] Ngô Đình Lập, Gia nhập WTO doanh nghiệp cần sự liên kết , Vietnamnet, ngày
13/05/2006.
[4] Trung tâm Đầu tư nước ngoài phía Nam (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam có liên kết mới phát triển, Hội nghị bàn về phát triển
kinh tế tại vùng KTTĐ phía Nam, Tp Hồ Chí Minh ngày 08/12/2006.
[5] Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg Về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã
hội vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status