TÍN DỤNG PHI CHÍNH THỨC Ở NÔNG THÔN
MIỀN TRUNG QUA MỘT CUỘC KHẢO SÁT –
NHẬN ĐỊNH VÀ GIẢI PHÁP
A SURVEY ON THE UNOFFICIAL CREDIT IN THE RURAL AREAS
OF CENTRAL VIETNAM
LÂM CHÍ DŨNG
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Thông qua phân tích kết quả khảo sát tín dụng phi chính thức trên các hộ mẫu ở nông thôn
các tỉnh miền Trung bài viết rút ra các nhận định và đề xuất các giải pháp nhằm đạt đồng thời
2 mục đích:
+ Thay thế các giao dịch phi chính thức bằng các giao dịch chính thức, thu hẹp thị phần của
kênh phi chính thức bằng các giải pháp có tính thị trường.
+ Hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường phi chính thức, lành mạnh hoá thị trường này.
ABTRACT
Based on an analysis of the results of the unofficial credit survey in the rural areas of Central
Vietnam, this paper presents some conclusions and solutions to achieve two goals:
- Replacing the unofficial credit with the official credit and curtail the market-share of the
unofficial credit by the solutions of the market mechanism.
- Limiting the negative sides of the unofficial market and improving it. 1. Khái niệm tín dụng phi chính thức được dùng ở đây với nghĩa tương đối, phản
ảnh một thực trạng tài chính rất phức tạp ở nông thôn nước ta hiện nay. Thuật ngữ phi chính
thức thường được dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai (nhiều
trường hợp là công khai) ở đó có một hoặc một số hoặc tất cả các yếu tố vượt ra ngoài khuôn
- Hụi
- Mượn
- Mua chịu
- Vay nóng
- Vay nông sản non
- Vay bình thường
- Vay người thân
11
4
5
13
12
7
2
2572,7
3625,0
1820,0
5630,7
1137,5
2100,0
3000,0
28300
14500
9100
73200
thời hạn, về quy mô món vay, về cách thức giải ngân, về các điều kiện ràng buộc
(ii) Việc khống chế lãi suất cho vay trong một thời gian dài đã làm cho các Ngân hàng
thương mại (NH) gạt ra ngoài những giao dịch tín dụng có độ rủi ro cao hoặc những giao dịch
có chi phí giao dịch cao do quy mô nhỏ và những yếu tố khác
(iii) Chi phí giao dịch tín dụng chính thức thực sự ở một số trường hợp nhất định vẫn
cao hơn chi phí danh nghĩa. Chi phí thực nên được hiểu là những hao phí về thời gian,
công sức, tiền bạc cả những hao tổn tâm lý và không loại trừ chi phí ngầm (ví dụ tiêu cực
phí). Chi phí này cao một phần xuất phát từ nguyên nhân thứ 2 nói ở trên. Ở đây, chi phí giao
dịch cao được hiểu là sự bù đắp phi chính thức để cho những giao dịch vốn khó xảy ra - theo
kiểu chính thức - được tiến hành. Điều đáng nói là những chi phí này đều tồn tại dưới dạng
chi phí ngầm vốn rất tai hại cho hoạt động NH. Điều này dẫn đến trong một số trường hợp chi
phí trên một đồng vốn vay thực tế cao hơn lãi suất danh nghĩa. Đây là nguyên nhân dẫn đến
22% trả lời lý do vay phi chính thức là vì tính toán có lợi hơn như đã đề cập ở trên.
3. Giải pháp
Như vậy, tín dụng phi chính thức ở nông thôn miền Trung chiếm một tỷ trọng đáng
kể. Mặt khác, những yếu tố không lành mạnh vẫn còn tồn tại ở mức cao, nhất là lãi suất cao
hơn rất nhiều so với lãi suất cho vay của NH thương mại cùng thời điểm.
Xét về phương diện thực tiễn vẫn cần phải thừa nhận những yếu tố tích cực nhất định
của thị trường tín dụng phi chính thức. Nó bù đắp cho các thiếu hụt vốn của các kênh chính
thức cũng như đáp ứng những nhu cầu giao dịch tín dụng đa dạng về quy mô, về thời hạn, về
điều kiện ràng buộc, về mức độ rủi ro mà trong khuôn khổ của những thể chế hiện hành, các
TCTDCQ chưa thể đáp ứng đầy đủ. Sự tồn tại của thị trường này phản ảnh những nhu cầu về
dịch vụ tài chính chưa được đáp ứng từ kênh chính thức và vì vậy nó mang lại lợi ích cho thị
trường. Chừng nào mà những giao dịch này vẫn còn tồn tại thì không nên đặt vấn đề ngăn
cấm bằng các biện pháp có tính hành chính mà chỉ nên đặt vấn đề hạn chế các mặt tiêu cực,
không lành mạnh của các quan hệ loại này.
Do đó, cần có những giải pháp nhằm đạt đồng thời 2 mục tiêu cơ bản có liên quan với
nhau:
+ Thay thế các giao dịch phi chính thức bằng các giao dịch chính thức, nói cách khác
các kênh tín dụng chính thức phải chiếm lĩnh những phân khúc thị trường còn bỏ ngỏ, thu hẹp
23
23
50
44
Nguồn: KSHM
Số liệu cho thấy các nhóm hộ có trình độ học vấn càng thấp có số vốn vay trên thị
trường chính thức càng ít, ngược lại họ càng có xu hướng tìm kiếm tài trợ từ thị trường phi
chính thức. Tương tự, các hộ càng có thu nhập thấp càng có xu hướng tiếp cận vốn từ thị
trường phi chính thức hơn là những hộ có thu nhập cao hơn. Có đến 61% hộ trong nhóm có
trình độ học vấn thấp nhất vay vốn từ thị trường phi chính thức, trong khi đó đối với nhóm
trình độ cấp 3 chỉ có 20% và trên phổ thông là 0%. Trong tương quan với thu nhập, giữa hộ
giàu với hộ khá chênh lệch về tỷ lệ vay vốn trên thị trường phi chính thức không đáng kể,
thậm chí nếu tính mức vay bình quân/ hộ trên thị trường này, nhóm hộ giàu còn có xu hướng
cao hơn.
Phân tích cụ thể cho thấy nhóm hộ giàu thường tìm kiếm những nguồn tài trợ ngắn
hạn gọi là vay nóng với quy mô tương đối lớn nhằm tài trợ cho những nhu cầu vốn kinh
doanh có tính đột xuất. Khi được hỏi lý do phải vay nóng trên thị trưòng phi chính thức, câu
trả lời chung là họ không thể vay được khoản vốn như thế từ NH. Điều này, thực ra cũng dễ
lý giải vì với phương thức cho vay hiện nay của các chi nhánh NH hoạt động trên địa bàn
nông thôn khó có thể đáp ứng ngay tức thì một nguồn vốn lớn. Đáng chú ý là nhóm hộ trung
bình và nghèo tỷ lệ hộ vay theo kênh phi chính thức chiếm từ 44% đến 50%, trong đó nhóm
hộ trung bình có tỷ lệ cao hơn 6% so với hộ nghèo. Có thể là vì các hộ nghèo đã được nhận
một phần tài trợ từ NH người nghèo. Ngoài ra, mức vốn vay trung bình của nhóm hộ này rất
nhỏ, lãi suất lại rất cao.
Các giải pháp có thể thực hiện nhằm cải thiện năng lực tiếp cận vốn từ kênh chính
thức của các nhóm không có ưu thế nói trên bao gồm các giải pháp định hướng đối tượng như
sau:
- Ưu tiên xúc tiến chương trình nâng cao trình độ học vấn cho các đối tượng văn hoá
thấp (cấp 1) và chương trình tập huấn các hiểu biết cũng như kỹ năng vay vốn từ các cơ quan
+ Lợi thế quy mô lớn và tính chuyên nghiệp cho phép giảm tối thiểu chi phí
+ Khả năng chịu đựng rủi ro cao hơn nhờ vào lợi thế quy mô lớn nói ở trên và năng
lực phân tán rủi ro nhờ đa dạng hoá đầu tư trên nhiều lĩnh vực và trên một danh mục khách
hàng vô cùng đông đảo.
+ Khả năng cung cấp kết hợp với các dịch vụ khác cũng sẽ là một lợi thế vô cùng quan
trọng xét về phương diện chi phí cũng như phương diện thu hút khách hàng bằng cách tạo
thuận lợi hơn cho khách hàng khi giao dịch.
Thứ hai, như nhận định của nhiều NH đây là cơ hội tốt để mở rộng cho vay vùng sâu,
vùng xa, cho vay nhỏ lẻ, cho vay tiêu dùng Nói chung, chen chân vào các thị trường bán lẻ
tín dụng món nhỏ đến rất nhỏ ở nông thôn vốn rất đa dạng về nhu cầu và bù đắp chi phí đa
dạng hoá bằng lãi suất cao hợp lý.
Điếu cần thiết là các chi nhánh NH trong khu vực phải có quyết tâm cao để tận dụng
cơ hội này và triển khai các chương trình hành động từng bước khắc phục những nhược điểm
trong cách thức cung cấp dịch vụ và trong quan điểm về thị trường (đã hình thành khá lâu dài
và không dễ thay đổi trong một sớm một chiều).
(iv) Hạn chế đến mức tối thiểu khoảng cách giữa chi phí thực và chi phí danh nghĩa
mà người vay phải trả cho các NH và các cơ quan tài trợ khác.
Trong tiểu mục 2, (iii), bài viết đã phân tích về các khái niệm này và nhận định chi phí
thực cao là một nguyên nhân dẫn đến việc người vay lựa chọn tín dụng phi chính thức như là
một giải pháp có lợi hơn theo họ. Những phân tích đó dẫn tới các ý tưởng có tính giải pháp
sau:
+ Cải tiến quy trình, thủ tục, chủ động đưa hoạt động NH về các địa bàn cư trú, cải
tiến cung cách phục vụ nhằm tối thiểu hoá chi phí thời gian, công sức và tạo sự thuận tiện,
cảm giác thoải mái, thân mật, tự nhiên nói chung là môi trường tâm lý của giao dịch phải
được cải thiện sao cho có thể giảm đáng kể chi phí giao dịch. Những cư dân nông thôn ở
những vùng mà các quan hệ thị trường, có tính thương mại chưa thâm nhập sâu vốn không có
kỹ năng giao tiếp, thương lượng (mà chỉ quen với những quan hệ thân tình) việc tạo ra một
môi trường tâm lý giao tiếp thích hợp là vô cùng quan trọng (không như nhiều người vẫn nghĩ
là chuyện nhỏ, là tiểu tiết). Khảo sát cụ thể cho thấy trong khá nhiều trường hợp, chính xu
hướng tìm kiếm cảm giác thoải mái, tự tin trong giao dịch đã đẩy những người vay ở nông
Cuối cùng từ tất cả những điều nói ở trên có lẽ nên sử dụng thuật ngữ tín dụng phi
chính quy thay cho thuật ngữ phi chính thức vẫn thường hay dùng. Điều chỉnh này là cần thiết
vì nó phản ảnh đúng thực chất hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ngân hàng thế giới, Việt Nam - Đánh giá sự nghèo đói và chiến lược, Vụ Khu vực 1,
1995.
[2] Mạnh Quân, “Cởi trói để các tổ chức tín dụng mạnh dạn vay vốn”, Báo Thanh niên số
ra ngày 31/5/2002.
[3] Ngân hàng Nhà nước, QĐ 546/2002/QĐ - NHNN ngày 30/5/2002.