Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHÁP CHO KHU KINH TẾ DUNG QUẤT" potx - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
1
ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ
GIẢI PHÁP CHO KHU KINH TẾ DUNG QUẤT
TECHNICAL WORKERS TRAINING - INTERNATIONAL EXPERIENCES AND
SOLUTIONS FOR DUNGQUAT ECONOMIC ZONE

Lê Quang Sơn
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Nguyễn Hồng Tây
Trung tâm Tin học Ngoại ngữ Dung Quất, Khu Kinh tế Dung Quất

TÓM TẮT
Những năm gần đây, Khu Kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi nổi lên như điểm sáng
về thu hút đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp nặng mũi nhọn. Sự phát triển nhanh
chóng này, cùng với sự phát triển không đồng bộ của khâu đào tạo, đã đặt các nhà đầu tư vào
tình trạng thiếu hụt nhân lực, nhất là nhân lực trình độ công nhân kỹ thuật. Bài viết này khai
thác kinh nghiệm đào tạ
o công nhân kỹ thuật ở một số nước, từ đó đề xuất các giải pháp quản
lý đào tạo công nhân kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển Khu Kinh tế Dung Quất trong thời
gian tới. Những giải pháp đề xuất quan trọng nhất là giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách
đào tạo, sử dụng đội ngũ; dự báo nhu cầu và xây dựng chiến lược đào tạo; đổi m
ới nội dung
đào tạo và thiết lập hệ thống thông tin; nâng cao năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo trên
địa bàn; liên kết đào tạo và xã hội hóa công tác đào tạo.
ABSTRACT
In recent years, Dung Quat Economic Zone in Quang Ngai province has appeared as a
beacon to attract developments and investments in key heavy industries. Rapid developments,
together with non-synchronous developments in the training field, have made investors face the
danger of lacking of human resources, especially at the level of technical workers. This article
refers to an analysis of some experiences in the training of technical workers in a number of

Năm 1991, Hội đồng Nhà nước đưa ra “Quyết định về phát triển nghề và giáo dục kỹ
thuật một cách mạnh mẽ” xác định nhiệm vụ và mục tiêu để phát triển dạy nghề. “Đề
cương về cải cách và phát triển giáo dục tại Trung Quốc” do Uỷ ban Trung ương Đảng
Cộng sản và Hội đồng Nhà nước đồng soạn thảo năm 1993 yêu cầu chính quyền địa
phương các cấp nhận thức tầm quan trọng to lớn của GDNN, đề ra những kế hoạch tổng
quát và phát triển GDNN một cách mạng mẽ nhằm động viên mọi sáng kiến của tất cả
các ngành, xí nghiệp, cơ sở và mọi thành phần xã hội cung cấp dạy nghề dưới các hình
thức và trình độ khác nhau. Năm 1996, “Luật dạy nghề” đầu tiên được chính thức thực
hiện, đưa ra cơ sở pháp lý để bảo vệ phát triển và hoàn chỉnh dạy nghề. “Quyết định
tăng cải cách giáo dục và quảng bá chất lượng giáo dục” của Hội đồng Nhà nước năm
1999 nhấn mạnh hệ thống giáo dục áp dụng trong nền KTTT định hướng XHCN. Ngoài
ra, kinh phí cho GDNN được bố trí thông qua nhiều nguồn khác nhau: phân phối ngân
sách của chính phủ, quĩ tự lập của các xí nghiệp, quĩ tài trợ, tiền quyên góp, vốn vay
không lãi, phí tự nguyên do học viên đóng góp Nhà nước quy định bắt buộc dùng
1,5% số tiền phải trả cho công nhân trong xí nghiệp vào việc huấn luyện công nhân.
“Nhân lực là nguồn lực chủ yếu của Trung Quốc và đất nước Trung Quốc phải biến dân
số hùng mạnh của mình thành một nguồn lực lớn với nguồn nhân tài phong phú” - Tổng
Bí thư kiêm Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào nói. Với chiến lược này Trung Quốc đã đạt
những thành tựu đáng kể. Đó là:
 Triển khai nhanh chóng mô hình dạy nghề: trong 15 năm, từ năm 1986 đến năm
2001, tỉ lệ học sinh chính qui cấp 3, trong số học sinh trung học, giảm từ 81%
xuống còn 54,7%, trong khi tỉ lệ học sinh trung học nghề tăng từ 19% lên
45,3%; các cơ sở dạy nghề cấp 2 đã cho tốt nghiệp 50 triệu học sinh, bồi dưỡng
hàng triệu CNKT, nhà quản lý và các lao động khác có trình độ cấp hai và sơ
cấp với tay nghề và kỹ thuật cao;
 Có bước tiến lớn trong cấu trúc đội ngũ giáo viên dạy nghề, về cơ bản đáp ứng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
3
nhu cầu dạy nghề nhiều dạng khác nhau với trình độ khu vực và quốc tế;
 Tăng chất lượng dạy nghề;

dục là nhân tố chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chính sách về giáo
dục luôn được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế. Chính phủ Hàn Quốc đưa
ra một chiến lược tham gia toàn diện vào quá trình toàn cầu hoá vào giữa thập kỷ 1990,
mà quan trọng nhất là hệ thống giáo dục phải được cải thiện triệt để, để đào tạo một số
lượng đủ những công dân trẻ, sáng tạo và dám làm, những nhà lãnh đạo tương lai của
đất nước. Trong bản báo cáo của Chính phủ về giáo dục mang tên “Hình ảnh Hàn Quốc
trong Thế kỷ 21” đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo phải hướng tới mục tiêu bồi
dưỡng tính sáng tạo, tinh thần kỷ luật tự giác, tính cạnh tranh, phát triển khả năng và
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
4
nhân cách bảo vệ, phát huy sức mạnh, ý chí dân tộc, năng lực trí tuệ của người Hàn
Quốc lên những trình độ cao nhất, đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia có vai trò chủ
chốt trong các vấn đề của thế giới”. Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngân sách chi cho
giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc luôn ở mức 18 – 20%. Hướng tới tương lai đó là mục
tiêu của nền giáo dục Hàn Quốc hiện đại. Cùng với sự phát triển kinh tế, người dân Hàn
Quốc đang cố gắng tạo ra những điều kiện tốt nhất có thể cho việc đào tạo thế hệ trẻ.[2]
[9]
Ngay từ khi mới thành lập, Singapore đã đề ra chính sách phát triển giáo dục,
đào tạo và chủ trương là xây dựng nền giáo dục mang nét đặc trưng của dân tộc. Chính
phủ Singapore luôn coi việc khai thác và sử dụng nguồn lực là nội dung quan trọng của
chiến lược phát triển kinh tế. Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu đã nói: “Biến tài năng
trời phú của một dân tộc thành kỹ năng chuyên môn là nhân tố trọng đại quyết định
thành tựu phát triển đất nước”. Vào thập kỷ 1980, ngân sách dành cho giáo dục của
Singapore mỗi năm tăng trung bình khoảng 30%. Mức chi cho giáo dục và đào tạo chỉ
đứng thứ hai sau ngân sách quốc phòng, đã vượt các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản
v.v… vào thập niên 1990. Việc không ngừng tăng cường đầu tư cho con người, tích cực
thúc đẩy cải cách và điều chỉnh giáo dục chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh
tế Singapore phát triển nhanh chóng. [2] [10]
3. Phân tích bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
3.1. Những điểm tương đồng

cao hơn nhiều so với cách đây hơn ba thập kỷ.
 Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang tập trung ưu tiên cho chiến lược
NNL nên đã gây ra những khó khăn rất lớn trong cạnh tranh để phát triển và sử
dụng NNL. Như vậy, áp lực phát triển NNL ở Việt Nam hiện nay không chỉ do
các yếu tố chủ quan bên trong như đói nghèo, kém phát triển mà còn do các
yếu tố từ bên ngoài của trào lưu phát triển NNL nói chung trên thế giới.
Tuy nhiên, xét về toàn cục, sự thuận lợi trong việc phát triển NNL ở Việt Nam
hiện nay so với các nước trong khu vực trước đây là lớn hơn. Lý do là: thứ nhất, xu thế
phát triển của toàn cầu và của nền kinh tế tri thức đã tạo cơ hội lớn hơn trong việc sử
dụng tri thức vào mục đích phát triển của quốc gia; thứ hai, hiệu ứng lan tỏa kiến thức
hiện nay là rất lớn so với trước đây (do sự bùng nổ thông tin, tốc độ xử lý và truyền tải
thông tin hiệu quả hơn, cũng như xu hướng mở cửa và giao lưu kiến thức giữa các nước
ngày càng tăng). Điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc tiếp thu các công nghệ
và kinh nghiệm giáo dục từ các nước khác; thứ ba, mặt bằng công nghệ và tri thức cao
hơn nên nó vừa là thách thức song cũng là cơ hội đối với Việt Nam hiện nay.
4. Đề xuất cho Khu Kinh tế Dung Quất
4.1. KKT Dung Quất - tiềm năng và yêu cầu lao động CNKT
Khu Kinh tế Dung Quất nằm ở khu Đông huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi,
nằm sát đường quốc lộ 1A, đường sắt Xuyên Việt, rấ
t gần sân bay Chu Lai, cách Thành
phố Quảng Ngãi 40km về phía Bắc, cách Thành phố Đà Nẵng - điểm cuối của hành
lang Kinh tế Đông - Tây khoảng 130km, cách Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh khoảng 860km và có cảng biển nước sâu Dung Quất với 3 cụm cảng (cảng trung
chuyên container, cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng) đủ khả năng tiếp nhận tàu tải trọng
50.000DVT; là đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, là cầu nối kinh tế đối với tiểu vùng
sông MêKông và thế giới bên ngoài, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng. KKT Dung
Quất là KKT tổng hợp, phát triển đa ngành, đa lĩnh vực: trọng tâm là công nghiệp lọc
dầu, hoá dầu, hoá chất, công nghiệp cơ khí, đóng mới và sửa chữa tàu biển, luyện cán
thép và một số ngành dịch vụ, công nghiệp mũi nhọn, có qui mô lớn và lợi thế đầu tư,
khai thác hiệu quả cảng nướ

7 May công nghiệp 2.000 150 50 2.200
8 Chế biến gỗ 2.500 100 30 2.630
9 Quản lý kinh tế 500 880 1.380
10 Dịch vụ 1.500 950 130 2.580
11 Lao động phổ thông 4.000 4.000
Tổng cộng 6.000 14.000 9.750 2.250 32.000
(Nguồn: Ban Lao động Văn xã-Ban Quản lý KKT Dung Quất)
Bảng 1 cho thấy nhu cầu trong bốn lĩnh vực then chốt của KKT Dung Quất là
công nghiệp lọc hóa dầu, công nghiệp luyện cán thép, công nghiệp đóng tàu, công
nghiệp cơ khí và thiết bị nặng cần khoảng 15.660 người, chiếm 48,9% tổng nhu cầu giai
đoạn 2008-2010 và 100% số lao động này phải qua đào tạo. Về cơ cấu lao động theo
trình độ, nhu cầu lao động có trình độ sơ cấp và trung cấp chiếm đến 74% tổng nhu cầ
u,
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
7
gấp hơn 10,5 lần nhu cầu đối với trình độ cao đẳng đại học. Đây là con số cần được
quan tâm trong công tác định hướng nghề nghiệp ở những năm tiếp theo. “Nhu cầu
NNL cho sự phát triển KKT Dung Quất đến năm 2010 là 32.000 người, năm 2012 là
50.000 người, năm 2015 là 80.000 người và năm 2020 sẽ là 100.000 người; trong đó do
tính chất phát triển công nghiệp là trọng tâm nên yêu cầu lao động phải qua đào tạo, với
tỉ lệ tối thiểu là 60-70% và yêu cầu số lao động phải qua được đào tạo tương ứng từng
giai đoạn như sau: năm 2010 là 20.000 người, năm 2012 là 30.000 người, năm 2015 là
50.000 người, năm 2020 là 60.000-70.000 người. Trong đó xác định khả năng đào tạo
các trường trên địa bản tỉnh Quảng Ngãi cũng chỉ tương ứng 50%” - Ông Trần Lê
Trung, Trưởng Ban quản lý KKT Dung Quất nói tại Hội nghị “Nguồn nhân lực cho sự
phát triển KKT Dung Quất trong thời kỳ hội nhập” tổ chức vào tháng 10/2008 tại KKT
Dung Quất. [1]
Biểu đồ 1. Nhu cầu lao động
giai đoạn 2008-2010
theo cơ cấu ngành nghề

Quất, được thành lập trên cơ sở Dự án tài trợ của Tổ hợp Nhà thầu TECHNIP (Nhà thầu
chính của Dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất). Trung tâm được xây dựng trên diện tích
10 ha tại Khu đô thị mới Vạn Tường. Trung tâm được Tổ hợp Nhà thầu TECHNIP tài
trợ máy móc thiết bị hiện đại, đồng bộ, đảm bảo khả năng đào tạo thợ hàn đạt trình độ
quốc tế từ 2G-6G (Chuẩn tay nghề quốc tế). Quy mô đào tạo hàng năm Trung tâm Đào
tạo thợ hàn KTC Dung Quất: 300 chỉ tiêu hệ Sơ cấp nghề; 200 chỉ tiêu hệ Kỹ thuật cao
(được cấp chứng chỉ quốc tế). Đối với hệ Kỹ thuật cao, Trung tâm tổ chức thi tuyển từ
các thợ hàn có bậc nghề 3/7 hoặc tương đương, sau đó Trung tâm tổ chức đào tạo liên
tục từ 1,5 đến 2 tháng để đạt trình độ theo chuẩn nghề nghiệp quốc tế.
Kết quả điều tra khảo sát và trưng cầu ý kiến (bằng bảng 16 câu hỏi, được tiến
hành đầu năm 2009) về công tác đào tạo và quản lý đào tạo nguồn nhân lực tại KKT
Dung Quất, do nhóm tác giả nghiên cứu này tiến hành, cho thấy:
 Năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo cho doanh nghiệp thuộc KKT Dung Quất
còn thấp so với nhu cầu. Từ nay đến năm 2015, chỉ tính riêng doanh nghiệp đã
hoạt động và chuẩn bị hoạt động sẽ cần đến 50.000 công nhân và cán bộ kỹ
thuật. Tuy nhiên, toàn bộ số công nhân hiện có và cả số người “dự định đào tạo”
của Quảng Ngãi cũng chỉ đáp ứng được khoảng 50%.
 Cơ cấu ngành, nghề đào tạo vẫn chưa thật phù hợp với cơ cấu ngành, nghề của
thị trường lao động; chưa bổ sung các nghề đào tạo mới theo yêu cầu của thị
trường lao động; một số ngành nghề
rất cần hiện nay như hàn kỹ thuật cao, gia
công chính xác, điều khiển điện tự động, luyện cán thép lại không được đào
tạo hoặc đào tạo với số lượng quá ít so với nhu cầu. Một số ngành đang có dấu
hiệu thừa thì lại được đào tạo với số lượng ngày càng nhiều như chế biến gỗ, hàn
điện, kỹ thuật đ
iện, xây dựng Điều này cho thấy, khả năng đáp ứng thợ chuyên
nghiệp cho các ngành công nghiệp nặng tại KKT Dung Quất còn quá yếu và
ngày càng lộ rõ khi các dự án lớn, dự án trọng điểm quốc gia sắp đi vào hoạt
động.
 Chất lượng đào tạo nhìn chung vẫn còn thấp, nội dung chương trình, giáo trình

là đối tượng thuộc hộ di dời giải tỏa để xây dựng KKT Dung Quất.
4.3.2. Giải pháp về dự báo nhu cầu và xây dựng chiến lược đào tạo
 Đẩy mạnh công tác khảo sát, phân tích và dự báo nhu cầu NNL về trình độ, cơ
cấu ngành nghề, lĩnh vực… tại các doanh nghiệp trong Khu Kinh tế; theo dõi
thường xuyên sự biến động (tăng, giảm) từ đó xác định nguyên nhân để tìm giải
pháp cụ thể, thiết thực.
 Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển NNL cho KKT Dung Quất: tư vấn
hướng nghiệp, định hướng nghề nghiệp đúng đắn phù hợp với chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của KKT Dung Quất; làm tốt công tác phân luồng học sinh ở bậc
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
10
Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
4.3.3. Giải pháp về đổi mới nội dung đào tạo và thiết lập hệ thống thông tin
 Xây dựng nội dung đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Cụ thể là, cơ sở đào
tạo phải cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp dạy học:
chuyển mạnh từ hướng đào tạo các ngành nghề “cơ sở đào tạo có” sang hướng
đào tạo các ngành nghề “doanh nghiệp cần”; gắn bó phát triển cơ sở đào tạo với
chiến lược phát triển của KKT Dung Quất; dựa trên nội dung đào tạo xây dựng
và áp dụng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng với các chuẩn cụ thể, rõ ràng,
với những thang giá trị nhất định để có thể đánh giá được chất lượng. Chuẩn
chất lượng phải xuất phát từ yêu cầu của sản xuất/dịch vụ, của thị trường lao
động.
Các tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm đào tạo phải đánh giá được năng
lực thực hiện của người học sau khi học xong một chương trình đào tạo. Năng lực thực
hiện mà người học đạt được còn được gọi là năng lực chuyên môn nghề nghiệp hoặc
năng lực hành nghề, được thể hiện qua bộ 3 các tiêu chí:
 Kiến thức (Knowledge)
 Kỹ năng (Skills)
 Thái độ/Hành vi (Traits)
Để đánh giá năng lực thực hiện theo 3 bộ tiêu chí nêu trên cần dựa vào các

tạo ngoài nước, đưa các học sinh sinh viên xuất sắc, giáo viên, cán bộ quản lý
học tập, tu nghiệp ở các trường đại học, viện nghiên cứu quốc tế có uy tín.
5. Kết luận
Sự phát triển nhanh chóng của KKT Dung Quất đã đặt các nhà đầu tư vào trong
tình trạng thiếu hụt nhân lực trầm trọng, cả về số lượng, cơ cấu ngành nghề và chất
lượng lao động. Trước thực tiễn này, nhằm đảm bảo cho thu hút đầu tư và phát triển
KKT Dung Quất trong thời gian tới, chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp là một giải pháp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh thu
hút đầu tư. Đây là giải pháp có tư duy hết sức mới mẻ: cạnh tranh bằng nguồn nhân lực.
Nếu công tác đào tạo nghề và quản lý đào tạo được thực hiện tốt, nguồn nhân lực cho sự
phát triển KKT Dung Quất đủ về số lượng, đảm bảo về cơ cấu ngành nghề, phù hợp với
yêu cầu chất lượng của doanh nghiệp. Khi đó, KKT Dung Quất tiếp tục dẫn đầu cả nước
về phát triển công nghiệp lọc hoá dầu, công nghiệp nặng và dịch vụ cảng, hướng tới
việc phát triển Khu Kinh tế Dung Quất sau năm 2015 thành hạt nhân tăng trưởng, trung
tâm công nghiệp - đô thị - dịch vụ của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và là động
lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế miền Trung tương xứng với hai đầu đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Quản lý KKT Dung Quất (2008) - Kỷ yếu Hội nghị nguồn nhân lực cho sự
phát triển Khu Kinh tế Dung Quất trong thời kỳ hội nhập, NXB Lao động-Xã hội.
[2] Nguyễn Duy Dũng (2008), Đào tạo và quản lý nhân lực-Kinh nghiệm Nhật Bản,
Hàn Quốc và những gợi ý cho Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
[3] Tạ Văn Doanh cùng Hội đồng biên soạn (2006), Giáo dục nghề nghiệp TP.Hồ Chí
Minh – Nguồn nhân lực cho hội nhập và phát triển, NXB Tổng hợp, Tp.Hồ Chí Minh.
[4] Nguyễn Minh Đường (2002), “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực với phương
pháp tiếp cận hệ thống trong điều kiện mới”, Nghiên cứu con người - đối tượng và
những hướng chủ yếu, niên giám nghiên cứu số 1 (in lần thứ 2), Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status