ĐÀO TẠO TỪ XA - NHÌN MỘT CÁCH TOÀN CẢNH
(Tổng thuật và nhận định)
Lê Nam Hải
Trung tâm Đào tạo Từ xa, Đại học Huế
Hơn 10 năm nay, các cơ sở đào tạo đại học tại Việt Nam đã tiến hành đào
tạo từ xa gần 20 ngành học thuộc các khối ngành Sư phạm, Kỹ thuật, Quản lý
kinh tế và Quản lý xã hội, số học viên đã tốt nghiệp đại học từ xa có được học vị
cử nhân khoảng 60.000 người. Phương thức đào tạo từ xa đã hình thành và phát
huy tác dụng. Tuy vậy, các tài liệu tổng hợp một cách hệ thống về phương thức
đào tạo này ở Việt Nam còn rất ít, ngoài một số bài viết của GS. Nguyễn Cảnh
Toàn, TS. Nguyễn Nhật Quang. PGS. Bùi Tường và một vài tác giả khác có quan
tâm đến phương pháp tự học; các tài liệu nước ngoài còn ít được dịch ở Việt
Nam, các nhà giáo dục Việt Nam đã dịch một vài tài liệu trong khuôn khổ các
văn bản của Dự án Việt - Bỉ "Hỗ trợ học từ xa". Bài viết này nhằm mục đích
cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cảnh: tổng thuật về đào tạo từ xa ở các
nước trên thế giới, ở Việt Nam và một số suy nghĩ chung về phương thức đào tạo
này (chỉ chuyên về đào tạo từ xa ở bậc đại học, đề cập phần nào đến đào tạo từ xa
bậc cao đẳng và trung học).
I. TỔNG THUẬT VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA
I.1: Giáo dục Từ xa ở Hàn Quốc: 6
Hàn Quốc nằm ở phía Nam bán đảo Triều Tiên, có diện tích khoảng
98.484 km
2
, dân số trên 40 triệu người. Trước những năm 50 (thế kỷ XX), Hàn
là chủ yếu tự học và học qua Radio.
- Trường đại học tổng hợp hàm thụ và không trung (Korea Air
Correspondence University: KACU) được thành lập năm 1972, lúc đầu có 5 khoa
cao đẳng, năm 1981 bắt đầu đào tạo chương trình đại học để lấy học vị cử nhân
(bachelor degree hoặc BA). Năm 1982 có 9 khoa, năm 1984 có 13 khoa. Khởi
đầu trường có 12.000 sinh viên, tới 1986 đã có 150.000 sinh viên (10% tổng số
sinh viên Hàn Quốc), điều đó cho thấy KACU đáp ứng cho nhu cầu xã hội.
Trường có 12 trung tâm học tập vùng và 22 trung tâm học tập tại địa phương.
I.2: Giáo dục Từ xa ở Nhật Bản:
Ở Nhật Bản GDTX đa dạng hơn ở Hàn Quốc, nhiều tổ chức phi chính
phủ và các ngành ngoài giáo dục tham gia tiến hành GDTX, có tác dụng hỗ trợ
cho giáo dục chính quy, với nội dung mang lại những lợi ích cho cộng đồng.
Chính phủ Nhật Bản cũng nêu ra, hỗ trợ cho các thử nghiệm, đầu tư các phương
tiện cho GDTX. Đầu tư cho giáo dục cũng được coi là vấn đề làm giàu vốn liếng
cơ bản cho xã hội (Basis social capital). Giáo dục từ xa ở Nhật Bản bao gồm: các
khóa trình hàm thụ đại học chuyên ngành (College), trường đại học tổng hợp
không trung và các khóa trình hàm thụ cao trung.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nước Nhật bắt đầu cải cách giáo dục thời
hậu chiến. Việc thiếu hụt trường lớp, nguyện vọng được học tập, được đào tạo
ngành nghề cho một xã hội kinh tế đã khiến chính phủ Nhật bắt đầu quyết định
việc giáo dục hàm thụ năm 1947. Chương trình học tập hàm thụ trên thực tế 8
giống ở các trường truyền thống. Chính phủ hỗ trợ cho hệ thống giáo dục này
như: giảm giá cước điện thoại, bưu phẩm, giảm giá tàu xe, giảm thuế thu nhập
cho các sinh viên đang làm việc, được tham gia hệ thống học bổng quốc gia,
được trợ giúp tiện nghi khi dự lớp. Năm 1949 đã thành lập hiệp hội hàm thụ đại
học và năm 1972 được cải tổ lại, bao gồm cả loại trường lớp 2 năm và 4 năm.
2
, dân số 52 triệu người (1986), tương đối đồng nhất
về dân tộc và ngôn ngữ. Hệ thống giáo dục hiện nay của Thái Lan bao gồm:
- Giáo dục tiền học đường: khuyến khích khu vực tư nhân và địa phương.
Nhà nước chỉ chiếm <7% các trường, trung tâm này.
- Giáo dục tiểu học: 6 năm, không mất tiền, năm 1986 đã phổ cập tiểu học.
- Giáo dục trung học: 6 năm (3+3), hiện nay đang đẩy mạnh giáo dục hướng
nghiệp để phân luồng đào tạo, chuẩn bị cho thị trường lao động có học vấn.
- Giáo dục đại học (hoặc giáo dục bậc 3: tertiary education) gồm 16 trường
Đại học tổng hợp quốc gia, 200 trường đại học chuyên ngành, 20 trường đại học
chuyên ngành đặc biệt (Cảnh sát, Phật giáo, Quân sự ), 01 trường đại học Quốc
tế (AIT), 01 trường đại học Mở, 21 trường đại học tư thục.
Hệ thống giáo dục KCQ ở Thái Lan rất phát triển, được coi là một phần
không thể thiếu của hệ thống giáo dục quốc dân. Năm 1979 thành lập Vụ giáo
dục KCQ trong Bộ Giáo dục (thực chất như một Tổng cục với rất nhiều cơ sở).
Năm 1970 thành lập Đại học Mở Ramkhamhaeng. Năm 1978 thành lập Đại học
Mở Sukhothai Thammathirat chuyên giảng dạy từ xa thông qua nhiều phương
tiện, nhằm mở rộng cơ hội cho những người tốt nghiệp trung học được học lên
đại học. 10
Khởi thủy đào tạo từ xa ở Thái Lan là đại học Ramkhamhaeng. Năm 1979
số tuyển sinh mới lên đến 110.000 người. Ngoài đại học trên còn có hàng loạt các
đại học khác mở đào tạo từ xa với tổng số sinh viên từ xa gần 750.000 người học.
Trong các trường còn có đại học mở Sukhothai Thammathirat, Băngkok (STOU)
có một hệ thống quy trình về đào tạo từ xa rất hiện đại, thu hút rất đông số người
học, là thành viên chính thức của Hội đồng giáo dục từ xa châu Á (Distance
Education Council for Asia).
I.5: Giáo dục Từ xa ở Ốt-xtrây-li-a:
dụng hàng loạt các thành tựu và tiến bộ của khoa học công nghệ vào giáo dục,
nhất là giáo dục từ xa. Hiệp hội giáo dục mở Bắc Kinh gồm 22 trường phía Bắc
đất nước đang đào tạo cho 2.500.000 sinh viên học từ xa. Đại học truyền hình
Thượng Hải (The Education TV Shangshai) có 3 trung tâm điều hành chính, 6
trường quay hiện đại (lớn hơn trường quay S9 của VTV3 Đài truyền hình Việt
Nam), 49 trường thành viên (cơ sở đào tạo), một trung tâm học liệu điện tử, hiện
đang đào tạo cho hơn 2.000.000 sinh viên từ xa qua công nghệ truyền hình và
công nghệ thông tin, xuống tận đảo Hải Nam trong Vịnh Bắc Bộ.
I.7: Giáo dục Từ xa ở một số nước thành viên tổ chức OECD:
Tổ chức OECD là tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển của các nước
thuộc Cộng đồng Châu Âu, một nước Châu Á là Nhật và hai nước châu Mỹ là
Mỹ và Canada (Organisation for Economic Cooperation and Development:
OECD). Phần lớn các trường đại học từ xa được thành lập trong các thập kỷ 70
và 80 nhằm trước hết là cung cấp cơ hội học đại học cho những người lớn do
nhiều điều kiện không theo học ở các trường truyền thống.
- Ở Pháp có Trung tâm Quốc gia dạy hàm thụ là một trung tâm lớn cung
cấp các khóa trình học ở mọi trình độ; 18 trường đại học ở Pháp có các trung tâm
dạy từ xa bằng các phương tiện nghe nhìn. 12
- Ở CHLB Đức có Viện đại học từ xa, nằm ở trường đại học Turbingen,
có các khóa trình đào tạo ở nhiều mức.
- Ở Ai-len có Viện Quốc gia giáo dục đại học tiến hành giáo dục từ xa.
- Ở Ý có thành lập tổ hợp (Consortium) các trường đại học và trường khác
có dạy từ xa.
- Ở Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, Canada, Mỹ, Thụy Điển, Nam Tư, Nga
đều có các trường đại học từ xa.
Tiêu biểu là một số trường sau:
* Trường đại học mở Anh quốc (United Kingdom Open University:
* Không giống như Châu Âu và Nhật Bản, tại Mỹ giáo dục từ xa dựa trên
cơ sở công nghệ (Technology based) rất phân tán và có phần lộn xộn. Giáo dục
từ xa được các cơ sở đại học Mỹ tổ chức như kiểu hiệu thuốc và quán ăn nhanh.
Để đưa hơn 3000 trường đại học ở Mỹ vào việc phát triển công nghệ mới đã
thành lập Trung tâm học tập và Viễn thông trong Hiệp hội các trường đại học
Mỹ, nhằm hướng dẫn hoạt động và cung cấp những thông tin cần thiết mà các
nhà giáo dục còn thiếu. Từ năm 1981, có 800 trường đại học phối hợp với Ban
học tập của người lớn của cơ quan phát thanh và truyền hình và các đài địa
phương, tuyển được khoảng 250.000 sinh viên. Chính phủ Liên bang chi cho một
dự án 150 triệu đôla (15 năm) để sản xuất những học liệu qua truyền hình chất
lượng cao. Một tổ chức gọi là Mạng lưới hội nghị từ xa các trường Đại học Tổng
hợp quốc gia đã liên kết 100 trường đại học để cung cấp dịch vụ hội nghị từ xa
cho các thành viên. Nó cung cấp các chương trình giáo dục thường xuyên,
chương trình phát triển nghề nghiệp và các dịch vụ khác. 14
Mặc dù có xu hướng tập trung hóa để nâng cao hiệu quả giáo dục của việc
dùng các công nghệ hiện đại nhưng vẫn có những trường hoặc bang phát triển
những chương trình dựa trên công nghệ riêng, đáp ứng yêu cầu của những cộng
đồng. Ví dụ:
- Ở Detroit (Bang Mi - chi - gân), trường đại học Wayne đã mở đại học
cuối tuần (Weekend College) dùng truyền hình, seminar tổ chức ngay tại nơi
làm việc và các "Hội nghị cuối tuần" tại trường để phù hợp với cộng đồng trên.
Mô hình này hiệu quả đến nỗi đã phát triển ra hàng chục nơi khác.
- Trường đại học cộng đồng Queens Borough ở New York đã tổ chức
"Chương trình học tại gia đình" cho phép những người không có điều kiện đến
lớp, ở xa hoặc tàn tật theo học nhờ thiết bị điện thoại có loa và truyền hình.
- Trường đại học Wisconsin mở rộng có cầu âm thanh (điện thoại) liên kết
hơn 200 lớp học ở nhiều nơi trong bang với hơn 35.000 người học.
thiết, còn thiếu thì thiếu những cái rất cần.
Trong bối cảnh đó, ngành giáo dục cần phải có thêm những cách làm mới,
những con đường giáo dục mới, không thể chỉ dựa vào những việc đã làm. Phải có
thêm một loại hình đào tạo mới phù hợp với số đông người của xã hội cần phải học
tập nhưng không có thời gian tập trung, cần phải đào tạo thêm và đào tạo lại hàng
loạt cán bộ các ngành, cần phải đào tạo thêm và bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên
(trên 650.000 người) ở các cấp phổ thông, cần phải đưa giáo dục đại học tới những
vùng sâu và vùng xa xôi, khó khăn của đất nước, cần phải dũng cảm canh tân giáo
dục, lấy người học làm trung tâm Giáo dục từ xa là giải pháp tối ưu mà thế giới 16
đã lựa chọn và chúng ta cũng đã đưa vào thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc
dân.
Trong rất nhiều bài viết của lãnh đạo các cấp, các nhà khoa học giáo dục
nghiên cứu về GDTX, đều nêu lên những khó khăn khách quan và chủ quan của
nền giáo dục hiện nay ở nước ta mà giáo dục truyền thống đang phải đương đầu,
các biện pháp tháo gỡ còn lúng túng. Và ĐTTX đã xuất hiện như một giải pháp
bổ trợ, một mũi giáp công và đã đạt được những thành tích và hiệu quả rõ ràng.
Tuy nhiên, còn không ít khó khăn cho GDTX do một thời gian quá dài ta chỉ
quen với cách làm giáo dục truyền thống, toàn bộ cơ chế, cách làm, quan niệm
đều "truyền thống hóa", nay thêm một cái "cũ người, mới ta" thì thay đổi đầu
tiên là nhận thức đã là rất khó khăn, chưa nói đến các cách thức thực hành. Các
bài viết trên đều đặc biệt nhấn mạnh những khó khăn nội tại do chính quan niệm
và dư luận tạo ra về chất lượng của các loại hình đào tạo khác khiến cách nhìn về
GDTX không được đúng đắn cho lắm. Ngay việc tranh luận để có được sự thống
nhất về thuật ngữ "Phương thức" hay là "Hình thức" đào tạo từ xa cũng vẫn còn
có những bất cập. Phương thức thì bao hàm cả nội dung và hình thức, còn hình
thức ý giữ nguyên nội dung, nhưng thật ra trong đào tạo từ xa nội dung cứng thì
vẫn giữ nguyên nhưng các phần khác đã phải thay đổi theo để phù hợp với hình
chính quy về nội dung và cách thức đào tạo) để tăng thêm thu nhập cho cơ sở và
cho cán bộ.
- Cách đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn với bộ công cụ (bảng hỏi -
anket) và các nghiệm viên đi tiến hành khảo sát cần phải được xây dựng kỹ hơn,
phù hợp với đối tượng thăm dò, khảo sát và phải được tập huấn kỹ thì kết quả thu
được sẽ chính xác và khách quan hơn. Các nghiệm thể phải được giải thích kỹ
mục đích, yêu cầu và khách quan độc lập khi trả lời, tránh bị những yếu tố khách 18
quan (những tác động tâm lý trong quá trình học và thi, quan niệm xã hội và lãnh
đạo ngành giáo dục địa phương đối với bằng cấp GDTX) và chủ quan ảnh hưởng
đến kết quả trả lời? (độ ứng nghiệm của một khảo sát thực nghiệm?).
- Yếu tố khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội chung ảnh hưởng đến
chất lượng quá trình tự học: cơ cấu độ tuổi người học, điều kiện kinh tế người
học, điều kiện xung quanh người học: lý do cần học, cơ sở kiến thức khi bắt đầu
học, điều kiện làm việc và sinh sống, môi trường xung quanh (văn hóa khu vực
cao - trung bình - thấp, vùng sâu, vùng xa, có truyền hình, video hay computer,
điện thoại, phương tiện đi lại và đường sá, khoảng cách đến địa điểm học tập ).
II. TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA - ĐẠI HỌC HUẾ
10 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN:
Trung tâm ĐTTX - Đại học Huế được thành lập theo quyết định số
359/GĐDT ngày 24 tháng 01 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT. Trung tâm
là một đơn vị hành chính sự nghiệp Nhà nước, có con dấu và tài khoản riêng, trực
thuộc Đại học Huế, hoạt động đào tạo đa ngành theo cơ chế tự hạch toán không
hưởng ngân sách nhà nước cấp. Số lượng cán bộ Trung tâm từ 03 người: 01
PGS.TS, 01 Ths, 01 CN năm 1994 đến nay là 78 cán bộ, trong đó có 9 cán bộ
biên chế, 69 cán bộ hợp đồng dài hạn với 01 PGS.TS, 03 TS, 03 ThS, 68 CN và
03 CĐ - THCN.
Sau 10 năm hoạt động, từ 1071 học viên năm 1994, 17.000 học viên năm
Việt Nam đến năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Chính phủ (Hà Nội tháng
10 năm 2000) đã khẳng định rõ vị thế của Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại học Huế:
"Nâng cấp Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại học Huế thành Trung tâm GD Từ xa khu 20
vực (thuộc Đại học Huế) và đóng vai trò Trung tâm vệ tinh chính về GD Từ xa ở
khu vực miền Trung và vùng phụ cận trong mạng lưới GD từ xa của cả nước".
III. MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ
CÁCH LÀM GDTX Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, khác hơn
về chất và lượng so với 10 năm trước nên có những điều kiện thuận lợi để tổ chức
GDTX:
- Mức sống đã được nâng cao một bước và do nhu cầu đòi hỏi học tập của
người dân tăng khá lớn, người ta chịu bỏ tiền ra để học tập và cải thiện đời sống.
- Hệ thống đường sá, điện, bưu điện, viễn thông, điện thoại khá phát triển.
- Máy vi tính đã khá phổ biến và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đã
được cải thiện rất nhiều: đường truyền, các trạm, vật tư và con người.
- Đào tạo Từ xa đã được Luật hóa thành một phương thức đào tạo bên
cạnh và song hành cùng đào tạo chính quy trong hệ thống giáo dục Quốc dân, đã
có những thay đổi nhất định về quan niệm, về đánh giá ĐTTX từ người dân đến
cấp cao nhất trong bộ máy công quyền Nhà nước.
Mười năm với những thành tích bước đầu, những kinh nghiệm tích lũy
được về đào tạo từ xa, chúng tôi có một vài suy nghĩ sau về phương hướng và
cách làm ĐTTX:
III.1: Về mô hình tổ chức:
Nên làm cả hai hình thức, các trường có điều kiện nên mở rộng ĐTTX. 21
không cần chặt như thế, điều kiện nhập học rộng rãi hơn.
III.4. Về chương trình và quy trình đào tạo:
Với hai loại đối tượng theo học như trên thì cũng phải xây dựng hai loại
chương trình đào tạo. Loại chương trình đào tạo có cấp bằng thì theo chương
trình chuẩn (phần cứng) của hệ chính quy, kết quả đào tạo phải đạt được một
chuẩn tương đương theo quy chế của ngành, chỉ linh động phần mềm.
III.5. Về thi, kiểm tra đánh giá chất lượng:
Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng để đạt được hiệu quả trong
giảng dạy, học tập từ xa. Phải nhanh chóng xây dựng những phương pháp và
công nghệ tiên tiến, khoa học, khách quan, công bằng và chính xác, không thể
chỉ kêu gọi sự tự giác của thầy và trò. Phải tách quá trình đào tạo làm 02 phần:
phần học tập và phần khảo thí, thành lập các bộ phận khảo thí chuyên trách độc
lập với ngân hàng đề thi, cách thức thi đa dạng, chấm bằng máy đối với loại đề
trắc nghiệm.
III.6. Về phương tiện học tập:
So với đào tạo truyền thống, tài liệu và phương tiện dạy học từ xa được
coi là khâu then chốt, là điều kiện tiên quyết để có thể tiến hành mở ĐTTX được
hay không. Tài liệu giáo khoa in ấn vẫn là phương tiện chủ yếu nhất nên phải lựa
chọn, tập trung chất xám và kinh phí để biên soạn riêng giáo trình, tài liệu hướng
dẫn học tập, tài liệu tham khảo cho ĐTTX. Tích cực xây dựng và triển khai rộng
rãi việc sản xuất và sử dụng các loại học liệu khác một cách thích hợp với điều 23
kiện của ta. Ngành Giáo dục nên có chủ trương phối hợp với các cơ quan chức
năng khác để sử dụng hệ thống truyền thanh, truyền hình, điện thoại để phát
các chương trình dành riêng cho GDTX (kinh nghiệm của Trung Quốc, Australia
và nhiều nước khác là sản xuất các loại Radio bán dẫn 1,2 băng giá rẻ bán cho
người học từ xa).
III.7. Về đầu tư:
Bài viết cung cấp những tài liệu cần thiết về giáo dục từ xa ở các nước
trên thế giới, từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển (10 quốc gia)
và giáo dục từ xa tại Việt Nam trong 10 năm qua (1994 - 2004), đặc biệt là số
liệu thực tế 10 năm xây dựng và phát triển của Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại
học Huế. Tác giả đã cố gắng phân tích những mặt mạnh, yếu, mặt cần phải bổ
khuyết từ chính sách Nhà nước đến cách làm đào tạo từ xa tại các cơ sở đang
đào tạo. Phần cuối tác giả nêu lên một số suy nghĩ về phương hướng và cách làm
Giáo dục từ xa ở Việt Nam hiện nay.
DISTANCE TRAINING : A PANAROMA LOOK 25
(GENERAL REVIEW AND COMMENT)
Le Nam Hai
DistanceTraining Centre, Hue University
SUMMARY
The study provides necessary documents on distance training programs of
ten countries (ranging from developing to developed) and those in Vietnam in the
past 10 years (1994-2004), as well as the practical data about the ten-year
building and development history of Hue University Distance Training. The author
made a great effort in his analysis of the strengths and weaknesses. He points out
what to be added to and to improve the State’s policy and the training activities
carried out at the Center’s training units. In the last part of the study, he gives his
opinions about the current directions and ways of work of the distance training
programs in Vietnam.