Báo cáo khoa học: " NHỮNG KHÁC BIỆT CƠ BẢN TRONG SỬ DỤNG GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ CHỈ CÁC QUAN HỆ KHÔNG GIAN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

71
NHỮNG KHÁC BIỆT CƠ BẢN TRONG SỬ DỤNG
GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ CHỈ CÁC QUAN HỆ KHÔNG GIAN
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
MAJOR DIFFERENCES IN THE USE OF ENGLISH AND VIETNAMESE
LOCATIVE PREPOSITIONS DESCRIBING SPACIAL RELATIONS

Trần Quang Hải
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Khi bàn đến nghĩa của giới từ định vị (GTĐV) dùng chỉ các quan hệ không gian động và
tĩnh và những nhân tố ngữ dụng tác động đến sự chọn lựa GTĐV để sử dụng trong các diễn
đạt không gian dựa trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta thấy có nhiều sự khác biệt
giữa hai thứ tiếng. Tuy nhiên, nếu nâng lên tầm khái quát thì chúng ta thấy rằng chỉ có một số
khác bi
ệt cơ bản. Bài viết này, dựa trên những kết quả rút ra được từ đề tài “Nghiên cứu giới
từ định vị theo hướng ngữ dụng (trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt)” của cùng tác giả, đã
đề cập đến 5 khác biệt cơ bản giữa GTĐV tiếng Anh và tiếng Việt, cùng với 4 nguyên nhân có
thể tạo nên những khác biệt đó.
ABSTRACT
On discussing the meanings of locative prepositions which show the static and dynamic
spatial relations as well as the pragmatic factors governing the choice of locative prepostions
based on the data collected from English and Vietnamese, we discover that there seems to be
many differences between the two languages. However, on a generalized basis, these
differences can be condensed to become major categories. Following the findings and
discussions from the doctoral dissertation entitled “An Investigation into Locative Prepositions in
English and Vietnamese: A Pragmatic Perspective” conducted by the same author, this article
mentions the 5 major differences between locative prepositions in English and Vietnamese

lí học tri nhận, và đặc biệt là luận án TSKH được bảo vệ năm 1993 với đề tài “Mô hình
không gian của thế giới: sự tri nhận, văn hóa và tâm lí học tộc người”. Những công trình
đó đã có đóng góp rất nhiều cho việc khởi động hướng nghiên cứu mới này ở Việt Nam.
Việc vận dụng Ngôn ngữ học tri nhận vào nghiên cứu giới từ định vị không gian đã phát
triển rất mạnh trong thập kỷ 90 vừa qua. Sự phát triển của nó không chỉ đơn thuần ở
bình diện ngôn ngữ học thuần túy mà đã có sự phối hợp liên ngành, chẳng hạn, đã có
nhiều công trình nằm ở biên giới giữa Ngôn ngữ học lí thuyết và Trí tuệ nhân tạo. Bài
viết này chủ yếu dựa trên những kết quả đạt được từ những nghiên cứu khi thực hiện
luận án tiến sĩ “Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng” của tác giả được bảo
vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2001.
Dựa trên những phân tích về nghĩa của giới từ định vị (GTĐV) dùng để chỉ các
quan hệ không gian động và tĩnh, cũng như các nhân tố ngữ dụng tác động đến sự lựa
chọn GTĐV để sử dụng trong các diễn đạt không gian được nêu trong luận án [4], sau
đây chúng tôi xin được đề cập đến những khác biệt cơ bản của GTĐV ở hai thứ tiếng
Anh và Việt, nêu lên một số nguyên nhân có thể tạo nên sự khác biệt đó.
3. Những khác biệt cơ bản
Ngoài những khác biệt về cú pháp, khi khảo sát các vấn đề ngữ nghĩa – ngữ
dụng chúng ta có thể nhận thấy có sự khác biệt giữa GTĐV ở tiếng Anh và tiếng Việt
như sau:
a) Khi mô tả quan hệ “trên”, người Anh luôn ý thức đến nét nghĩa có tiếp xúc giữa đối
tượng được định vị (trajector) (ĐTĐV) và đối tượng qui chiếu (landmark) (ĐTQC)
(ví dụ phân biệt “on”/ “above”, “over”). Trong khi đó, người Việt hoàn toàn không
quan tâm đến khía cạnh nghĩa này (chỉ sử dụng một từ duy nhất: “trên”).
b) Khi mô tả quan hệ “trên” và “dưới”, người Anh luôn ý thức đến sự phân biệt ĐTĐV
có nằm trong vùng quy chiếu thẳng đứng trong vùng của ĐTQC hay không. Trong
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

73
khi đó, người Việt không cần quan tâm đến khía cạnh này. Người Việt chỉ cần chia
cắt không gian thành hai vùng: bên trên và bên dưới ĐTQC (hoặc bộ phận trội của

mô tả các quan hệ không gian. Tuy nhiên, người Việt còn có một cách lựa chọn ĐTQC
khác mà người Anh hoàn toàn không có. Đó là cách cùng một cấu trúc bề mặt nhưng
diễn đạt hai quan hệ không gian khác nhau. Cách thứ nhất giống cách mô tả của người
Anh khi GTĐV biểu thị quan hệ không gian của tham tố trước và sau nó được sử dụng
với tư cách là ĐTĐV và ĐTQC. Cách thứ hai là GTĐV biể
u thị quan hệ không gian của
tham tố ngay sau nó với một ĐTQC ngầm định khác. ĐTQC này có thể là vị trí của
người nói hoặc là một đối tượng ngầm định khác đã trở thành quy ước trong nhận thức
của người Việt. Cách mô tả này hoàn toàn không thấy có trong tiếng Anh.
Dưới đây là bảng tóm tắt những khác biệt cơ bản về giá trị thông báo giữa
GTĐV trong tiếng Anh và tiếng Việt (bảng 1):
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

74
Bảng1. Sự khác biệt cơ bản về giá trị thông báo giữa GTĐV Anh – Việt
Biểu thị
nghĩa gốc
Thông báo
thông tin
thứ hai
(+vị trí
ĐTĐV)
Có cấu trúc
x, y R (z)
(*)
Khái niệm

Giới từ
tiếng Anh
Giới từ

atop
trên

+ + - + - +
“DƯỚI”
under
underneath
beneath
below
dưới
+

+

-

sau

+ + - + - +
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

75

“BÊN”
“GIỮA”
by, near, next to,
close to, beside,
alongside, to the


-

-

-
(*) Xem: Trần Quang Hải (2001) “Dich các giới ngữ chỉ quan hệ vị trí trong không gian từ tiếng
Việt sang tiếng Anh và ngược lại: khó mà dễ”, T/c Ngôn ngữ số 1/2001 [3]
(**) Việc tạm xếp các từ này vào cột “giới từ” là một việc làm còn khiên cưỡng. Theo quan niệm
của nhiều nhà Việt ngữ học, những từ trên là những “thực từ” chính danh hiện đang trong quá trình hư
hoá để có thể đảm nhận chức năng như giớ
i từ định vị trong một số trường hợp.
4. Nguyên nhân
Có thể nêu lên một số lí do đã dẫn đến sự khác biệt này ở hai ngôn ngữ. Đó có
thể là do:
a) Tác động của quan niệm triết học về chia cắt không gian
Bằng ngôn ngữ chúng ta đã chia cắt không gian theo cách chúng ta nhận thức.
Và vì vậy, sự chia cắt đó không thể hoàn toàn giống nhau. Đây là một ví dụ: Khi nghiên
cứu về cách diễn đạt mối quan hệ “tiếp xúc” (contact), “nâng đỡ” (support), và “bao
chứa” (containment), Landau (1996) (dẫn theo [8]) đã làm thí nghiệm với các người
Anh, người Tây Ban Nha, người Hàn Quốc và người Đức để tìm hiểu cách nhận thức
của họ bằng các giới từ định vị và kết quả được thể hiện như sau (hình 1).
en (Tây Ban Nha)
in (Anh) on (Anh)

)

Người Tây Ban Nha chỉ dùng một từ duy nhất “en” để biểu thị cả 4 trường hợp.
Người Anh dùng từ “on” để chỉ hai trường hợp không có bao chứa và dùng “in” để chỉ
hai trường hợp ĐTĐV được bao chứa (ít nhất là một phần) trong ĐTQC. Người Đức lại
phân biệt hai loại tình huống mà người Anh chỉ dùng một từ “on” để diễn đạt: từ “auf”
khi ĐTQC ở phía dưới ĐTĐV và “an” khi ĐTĐV được đính vào mặt thẳng đứng của
ĐTQC. Người Hàn Quốc lại phân biệt các tình huống bao chứa, có tiếp xúc hay không
tiếp xúc. Nếu ĐTĐV nằm khít bên trong ĐTQC thì họ dùng “sok”, nếu ĐTĐV không bị
bao chặt thì dùng “ahn”. Trong trường hợp này chúng ta thấy tiếng Việt lại có cách mô
tả như tiếng Anh với hai từ tương ứng: “trên” và “trong”.
b) Tác động bởi thói quen về nơi cư trú
Lí do này
đã từng được Lý Toàn Thắng [65] lưu ý khi ông đưa ra ví dụ về cách
nói “hầm đào trong giường” và cho rằng “trong” ở đây không thể dịch thành “in” của
tiếng Anh được. Ông lí giải vấn đề này như sau: “Để hiểu cách dùng của trong, phải có
tri thức về bản đồ không gian của ngôi nhà truyền thống “một gian hai chái” của người
Việt, trong đó chái thường được dùng làm “buồng trong” kín đáo cho vợ chồng và để
cất gi
ữ thóc gạo v.v… “Hầm đào trong giường” nghĩa là hầm được đào ở phòng trong –
nơi kê giường – và thường là ở phía dưới giường, để tiện lên xuống trú ẩn khi có máy
bay địch”. Vấn đề này cũng được Nguyễn Đức Dân [14] nhắc đến như là một quan niệm
truyền thống đã ăn sâu vào nhận thức của người Việt trong sự sắp xếp quan hệ không
gian. Ông đã dẫn ra mô hình của người Việt quan niệm về quan hệ không gian từ mở tới
khép, từ hẹp đến rộng như sau:
“đường > ngõ > vườn > sân > nhà > buồng…” [14,tr.336]
c) Tác động bởi địa hình và phương hướng bầu trời.
Đó là quan điểm của Nguyễn Lai [38] khi nghiên cứu về các từ chỉ hướng vận
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010


về địa hình theo tri nhận của ng
ười bản ngữ vào nghĩa gốc, nghĩa cơ bản. Điều này tạo
nên sự độc đáo của GTĐV tiếng Việt nhưng cũng là nỗi khổ tâm của người nước ngoài
khi học sử dụng GTĐV tiếng Việt. Qua phân tích những dị đồng về GTĐV ở tiếng Anh
và tiếng Việt có thể nhận thấy rằng sự khác biệt cơ bản của GTĐV giữa hai thứ tiếng
này không nằm ở hình thái từ hay cú pháp mà chính là vấn đề ngữ nghĩa và quan niệm
qui chiếu.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

78

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgích và tiếng Việt, nxb. Giáo dục
[2] Trần Quang Hải (2000) “Giới từ định vị - phương tiện biểu đạt quan hệ không gian:
ngữ nghĩa”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học về nghiên cứu và giảng dạy ngoại ngữ,
Trường ĐHSP-ĐH Đà Nẵng, tháng 5/2000
[3] Trần Quang Hải (2001), ‘Dịch các giới ngữ chỉ quan hệ vị trí trong không gian từ
tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại: khó mà dễ”, T/c Ngôn ngữ số 1/2001
[4] Trần Quang Hải (2001) Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng, Luận án
tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội
[5] Nguyễn Lai (1990), Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, tủ sách
ĐHTổng Hợp Hà Nội
[6] Nguyễn Lai (1984), “Về mối quan hệ giữa phạm trù ngữ nghĩa và ngữ pháp trong
tiếng Việt”, Một số vấn đề ngôn ngữ học hiện đại, nxb. KHXH
[7] Lý Toàn Thắng (1994) “Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian” T/c Ngôn ngữ
4/1994


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status