Giáo trình hướng dẫn sự hình thành nền cạnh tranh kinh tế như hiện nay và sự cần thiết hội nhập vào thị trường thế giới phần 3 pot - Pdf 19

Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
15

của năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm tơng tự nh năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia:
Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế
thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: năng cạnh tranh của một quốc gia là
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đợc và duy trì mức
tăng trởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tơng đối và các
đặc trng kinh tế khác.
Nh vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây
dựng một môi trờng cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu
quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trởng cao, bền vững. ở Việt
Nam năng lực cạnh tranh cấp quốc gia còn thấp đứng thứ 65 trên 80 nớc
(năm 2002), tăng 5 bậc so với năm 2001 (là 60/75 nớc).
2.2.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá:
Một sản phẩm hàng hoá đợc coi là có năng lực cạnh tranh khi nó
đáp ứng đợc nhu cầu của khách hàng về chất lợng, giá cả, tính năng, kiểu
dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thơng hiệu, bao bì hơn hẳn so với
những sản phẩm hàng hoá cùng loại. Nhng năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hoá lại đợc định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp.
ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng
hoá và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. đó là hai phạm trù khác nhau
nhng có quan hệ hữu cơ với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có
đợc do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra; nhng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá
quyết định mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, năng lực

sản phẩm. Trong cơ chế thị trờng doanh nghiệp nào cung cấp hàng hoá,
dịch vụ với chất lợng tốt nhất mà giá thành rẻ nhất thì sẽ chiến thắng. Chính
vì vậy, cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp chi phí cao trong sản xuất
kinh doanh và khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có chi phí
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
17

thấp vơn lên.
Để tham gia vào thị trờng doanh nghiệp phải tuân thủ quy luật đào
thải chon lọc. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự nâng cao chất
lợng của chính mình, nâng cao trình độ kiến thức về kinh doanh. Do đó,
cạnh tranh là điều kiện rất tốt để đào tạo ra những nhà kinh doanh giỏi.
Cạnh tranh là động lực cơ bản nhằm kết hợp một cách tối u nhất lợi
ích của các doanh nghiệp, lợi ích của ngời tiêu dùng và lợi ích của xã hội.
Trớc đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cạnh tranh đợc coi là
cá lớn nuốt cá bé, do đó không đợc khuyến khích. Song hiện nay, cạnh
tranh đã đợc nhìn nhận theo xu hớng tích cực, tác dụng của nó đợc thể
hiện rất rõ ở sự phá sản của một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả
và sự phát triển vợt bậc của các doanh nghiệp khác biết sử dụng hiệu quả
các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Tóm lại, cạnh tranh là động lực phát triển của hệ thống doanh
nghiệp nói chung và của từng DNVVN nói riêng, là công cụ hữu hiệu của
Nhà nớc để điều tiết các hoạt động kinh doanh trên thị trờng.
4. Các chiến lợc cạnh tranh cơ bản:
Đôi khi một doanh nghiệp có thể theo đuổi rất nhiều chiến lợc và
coi tất cả các chiến lợc đó là mục tiêu cơ bản của mình, mặc dù điều này rất
hiếm có khả năng thực hiện. Vì việc thực hiện bất cứ một chiến lợc nào
cũng đều đòi hỏi tâm huyết của toàn doanh nghiệp và những sắp xếp, tổ chức
hớng vào thực hiện nó rất dễ bị phân tán nếu doanh nghiệp cùng một lúc

của các sản phẩm, dịch vụ khách hàng Tuy nhiên, chiến lợc này không
cho phép doanh nghiệp bỏ qua yếu tố chi phí, mặc dù chi phí không phải là
mục tiêu chiến lợc cơ bản.
Khác biệt hoá sản phẩm, nếu đạt đợc, sẽ là chiến lợc tạo khả năng
cho doanh nghiệp thu đợc tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân bởi vì nó
tạo nên một vị trí chắc chắn cho doanh nghiệp trong việc đối phó với các lực
lợng cạnh tranh khác. Khác biệt hoá tạo nên sự tin tởng của khách hàng
vào nhãn hiệu, dẽ dẫn đến khả năng ít biến động hơn về giá cả. Nó làm tăng
tỷ lệ lợi nhuận vì thế tránh đợc sự cần thiết phải tạo ra mức chi phí thấp. Dễ
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
19

dàng giảm bớt quyền lực của ngời mua vì họ thiếu những điều kiện để so
sánh. Sự khác biệt hoá sản phẩm sẽ thuận lợi hơn khi phải đơng đầu với sản
phẩm thay thế.
Thực hiện chiến lợc khác biệt hoá sản phẩm đôi khi có thể loại trừ
khả năng đạt đợc thị phần cao vì tính riêng biệt không đi liền với thị phần
cao. Tuy nhiên thực hiện chiến lợc này nhiều khi đã thực hiện sự đánh đổi
về chi phí nếu chiến lợc này yêu cầu những hoạt động đòi hỏi chi phí cao.
- Chiến lợc trọng tâm hoá:
Chiến lợc trọng tâm hoá là sự tập trung vào một nhóm ngời cụ thể,
một bộ phận trong các loại hàng hoá hoặc một vùng thị trờng nào đó. Chiến
lợc này khác hai chiến lợc trên ở chỗ nó đợc xây dựng xoay quanh việc
phục vụ thật tốt một thị trờng mục tiêu và những chính sách kèm theo đều
đợc phát triển theo t tởng này. Chiến lợc dựa vào tiền đề cho rằng doanh
nghiệp có thể phục vụ một thị trờng chiến lợc hẹp của mình một cách tích
cực và hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh. Kết quả là doanh nghiệp có thể đạt
đợc sự khác biệt hoá qua việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu của một đối tợng cụ
thể hoặc đạt đợc mức chi phí thấp hơn hoặc đạt đợc cả hai.

Hiểu biết đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa quan trọng đối
với các doanh nghiệp vì sự xuất hiện của các đối thủ mới, đặc biệt khi các
đối thủ này có khả năng mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thị phần, sẽ làm
cạnh tranh trở nên khốc liệt và không ổn định. Để hạn chế sự đe doạ các đối
thủ tiềm ẩn, các doanh nghiệp thờng duy trì và không ngừng nâng cao các
hàng rào bảo vệ hợp pháp, đặc biệt là về công nghệ. Trong quá trình hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay, các công ty xuyên quốc gia hoặc
các công ty nớc ngoài có tiềm lực tài chính và công nghệ đáng kể thực sự là
đối thủ nặng ký đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong nớc là những
doanh nghiệp có tiềm lực rất hạn chế và sức cạnh tranh thấp.
5.3. Quyền lực thơng lợng hay khả năng ép giá của ngời mua:
Đối với các doanh nghiệp thì mọi việc chỉ có ý nghĩa khi tiêu thụ đ-
ợc sản phẩm và có lãi. Chính vì vậy, sự tín nhiệm của khách hàng luôn là
tài sản có giá trị quan trọng của doanh nghiệp và doanh nghiệp có đợc là do
doanh nghiệp biết cách thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
21

hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác. Ngời mua luôn muốn trả giá thấp
vì vậy sẽ thực hiện việc ép giá, gây áp lực đòi chất lợng cao hơn hoặc đòi đ-
ợc phục vụ nhiều hơn đối với doanh nghiệp khi có điều kiện, điều này làm
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp . Để hạn chế bớt quyền thơng lợng của
ngời mua, các doanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng hiện tại và t-
ơng lai cùng với các nhu cầu và thị hiếu của họ làm cơ sở định hớng cho
kế hoạch marketing và chiến lợc kinh doanh nói chung.
5.4. Quyền lực thơng lợng hay khả năng ép giá của ngời cung ứng:
Ngời cung ứng các yếu tố đầu vào luôn muốn thu nhiều lợi nhuận,
vì vậy họ có thể đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lợng sản phẩm đặt mua,
nhằm làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp khi họ có điều kiện, ví dụ trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status