Tinh thần hiếu học - Một giá trị tiêu biểu của văn hoá Bắc Miền Trung potx - Pdf 19

Tinh thần hiếu học - Một giá trị tiêu
biểu của văn hoá Bắc Miền Trung
Lê Văn Tùng
Đặt vấn đề
Bắc Trung Bộ là dãi đất gồm 6 tỉnh[1] trải dài từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế. Đây là một
miền đất có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm và
kiến quốc. Về mặt lịch sử, nơi đây là một trong những cái nôi[2] của dân tộc Việt Nam. Vùng đất
này có tính đa dạng rất cao về thời tiết, địa hình, hệ sinh thái,…Chính vì thế, trải qua quá trình cải
biến thiên nhiên, phòng chống thiên tai, lũ lụt, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đời sống, nhân
dân các tỉnh Bắc Miền Trung đã xác lập được những giá trị văn hóa – truyền thống riêng có của
mình, những giá trị ấy thống nhất hữu cơ với các giá trị văn hóa trong cộng đồng các dân tộc anh
em Việt Nam. Một trong những giá trị đặc sắc đó là tinh thần hiếu học, một truyền thống lưu
chuyển cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc, và đã lắng lưu trong kết cấu giá trị truyền
thống nơi đây như là một hằng số văn hóa. Do đó, tìm hiểu những cơ sở lịch sử xã hội của tinh
thần hiếu học là cần thiết để nhận thức đúng vai trò của truyền thống ấy đối với công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Miền Trung hiện nay.
2. Truyền thống hiếu học ở Bắc Trung Bộ.
Có thể khẳng định rằng, Bắc Trung Bộ là vùng đất sản sinh ra rất nhiều nhân tài cho đất
nước. Ngày nay, đọc lại các chính sách chiêu hiền đãi sĩ của các triều đại phong kiến, hương
ước của các làng, các thể loại văn học dân gian,…chúng ta thấy, nhân dân nơi đây rất coi trọng
việc học. Chúng ta cũng thấy rằng, các triều đại phong kiến phương Bắc luôn nhận định rằng,
những người tài nước Nam là một mối đe dọa cho chính sách bành trướng của họ, cho nên, đã
điều nhiều thầy phong thủy, trong đó có Cao Biền đi khắp đất nước ta để trấn yểm các long
mạch, làm cho nhân dân ta mãi mãi không có người tài, không có anh hùng hao kiệt nhằm dễ bề
cai trị, ý đồ đồng hóa các giá trị truyền thống văn hóa nước ta cũng được áp đặt trong suốt thời
kỳ Bắc thuộc.
Nhưng người tài vẫn xuất hiện trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, phần lớn trong số những
nhân tài ấy đều có xuất thân từ những gia đình lao động vất vả, từ những dòng họ, từ những
làng có bề dày về truyền thống hiếu học, chịu thương, chịu khó[3].
Thiên nhiên không ban tặng cho Bắc Miền Trung những nguồn tài nguyên dồi dào hay khí
hậu thuận lợi. Vùng đất này vừa có những dãi núi cao hiểm trở phía Tây, vừa có bờ biển dài phía

chuyện về đức hy sinh cho con cái, cho chồng, cho con rễ, cho người đầy tớ ham học về chuyện
ăn học, công danh. Dân gian có thể bảo học trò nghèo nhưng không bao giờ khinh dẻ, dè bĩu họ,
vẫn có những cụ đồ nghèo mở lớp dạy tư với một tâm nguyện duy nhất là đời sau sẽ có những
đồ đệ hơn mình, thi đỗ đạt làm quan, “hậu sinh khả úy”
Như vậy, tinh thần hiếu học chính là sản phẩm phản ánh quá trình các cá nhân, xã hội
trong những giai đoạn lịch sử đề cao việc học và con đường tiến thân bằng học vấn. Và cùng với
những đứa con ưu tú của nó đã thêu dệt nên truyền thống hiếu học nơi đây, một biểu hiện của
sự khát khao tri thức rất tự nhiên của con người, là ham thích, coi trọng việc học, là một trong
những đức tính cao quý nhất của con người[5]
Có lẽ vì thế, nhìn vào các tiểu khu văn hóa Bắc Trung Bộ, chúng ta dễ nhận thấy, ở hầu hết
các địa phương đều có nhiều hiền tài được sử sách ca ngợi bao đời. Vùng quê Thanh Hóa (xứ
Thanh) nổi lên với những nhân sĩ tài ba như, Lê Văn Hưu (tác giả của Đại Việt sử ký), Nhữ Bá Sĩ
(tác giả Việt sử tam bách vịnh), Đào Duy Từ (tác giả Hổ trướng khu cơ), Đinh Thì Trung, ; vùng
Hà Tĩnh với những anh hùng lỗi lạc như Mai Hắc Đế, Đặng Dung, Cao Thắng, Phan Đình Phùng,
Trần Phú, Lý Tự Trọng, Lê Hữu Trác, Phan Huy Ích, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ,… đặc biệt là
Nghệ An, vùng đất của địa linh nhân kiệt như Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Lê Hồng
Phong, Hồ Chí Minh,…
Chúng ta cũng thấy có nhiều làng, nhiều dòng họ có truyền thống hiếu học đã được sử sách
và gia phả lưu danh tương truyền. Thậm chí, có những làng còn có hương ước khuyến khích
việc học của các con em trong làng, như hương ước của làng Dã Lê Thượng (xã Thủy Phương,
huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế) quy định cụ thể sô tiền thưởng, ruộng đất cho người
đỗ đạt, hay làng Dương Phố (huyện Thanh Chương), làng Quỳnh Đôi (Nghệ An), làng Câu Hoan
(xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị)[6], dòng họ Nguyễn Quốc (xã Nghi Diên, huyện
Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), dòng họ Nguyễn Đức (xã Nghi Trung, huyện Nghi lộc, Nghệ An), họ
Phan Huy (Thạch Châu, Lộc Hà, Hà Tĩnh và phủ Đức Quang, Nghệ An), họ Trần Huy (Diễn
Phong, Diễn Châu, Nghệ An), họ Nguyễn Cảnh (Đô Lương, Nghệ An), họ Đinh Xuân (Thanh
Chương, nghệ An), đáng chú ý là họ Hồ (Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nghệ An và huyện Nghi Xuân,
Hà Tĩnh), một dòng họ được lịch sử ca ngợi rất nhiều về thành tích hiếu học “trạng bố - trạng
con, trạng ông – trạng cháu”[7], … những dẫn liệu này cho phép chúng ta hình dung ra truyền
thống học hiếu học bề dày của nhân dân khu vực Bắc Miền Trung. Truyền thống ấy lại không

Thanh Hóa), với chí ham học mới 17 tuổi đã đỗ Bảng nhãn (năm Đinh Mùi 1247), sau làm tới
chức Thượng thư Bộ Binh (đời vua Trần Thái Tông), Lâm viện học sĩ, kiêm Quốc Sử viện Giám
tu (đời vua Trần Thánh Tông), và là thầy giáo của Thượng tướng Trần Quang Khải, một danh
tướng của cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên –Mông.
Đào Duy Từ (1572 – 1634, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ngày nay),
ngay từ tấm bé , kẻ “trăn châu anh hùng” đã đam mê sách vỡ, hiểu biết rất rộng nhưng do xuất
thân của gia đình thấp nên không được cho đi thi cử nhân dù đã đổi họ để đi thi (đổi từ họ Đào
sang họ Vũ), về sau ông quyết chí vào Đàng Trong lập nghiệp với Chúa Nguyễn Phúc Thuần.
Đào Duy từ đã được cất giữ nhiều chức vị quan trọng như Tán trị dực vận công thần, Lộc Khuê
hầu, Hoằng Quốc công, ông là tác giả của Lũy Trường Dục và Lũy Thầy, hai phòng thủ quan
trọng để Chúa Nguyễn ngăn chặn sự tấn công của Chúa Trịnh (Đàng Ngoài), tác giả của nhiều
tập thơ lục bát và ông tổ của nghệ thuật hát Tuồng Việt Nam. Sử sách dân tộc đã hết lời ca ngợi
ông là người có chí lớn, vượt qua khó khăn gian khổ, một tấm gương sáng về lập thân, lập
nghiệp và hiếu học.
Nguyễn Thiếp (1723 – 1804, người làng Nghiệt Ao, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), đậu
hương cống (đời Lê), được người đương thời suy tôn là La Sơn phu tử. Ông là người phê phán
gay gắt lối học tầm chương trích cú cầu danh lợi, kêu gọi chấn hưng lại nền “chính học” nhằm
đào tạo ra những con người có tài năng, đức độ, đem cái sở học giúp ích cho đời. Về sau,
Nguyễn Thếp đã được vua Quang Trung mời ra giúp việc cho triều đình.
Nguyễn Du (1766 – 1820, người làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh), 12 tuổi đã mồ côi cả
mẹ lẫn cha, sống nhờ vào người khác nhưng tính kiên trì học tập nên đến năm 17 tuổi thi đậu Tú
tài, 36 năm sau được phong làm Tri huyện Phù Dung, rồi tri phủ Thường Tín, được nhà vua tin
cậy cử đi sứ nhiều lần sang Tàu, và cất nhấc giữ nhiều chức vị quan trọng như Đông Các học sĩ,
Cai bạ tỉnh Quảng Bình, Cần chánh điện Học sĩ, Tham tri Bộ Lễ.
Lê Quát (còn gọi là Trạng Quét, sống vào đời vua Lê Nhân Tông, người làng Phủ Lý, huyện
Đông Sơn, Thanh Hóa) mồ côi cha từ nhỏ, dựng lều sống với mẹ ở chợ và sống bằng nghề quét
rác, ban đầu ông học rất dốt, nhưng do chí khí vững bền, lại được vợ động viên cho nên đã
chăm chỉ học tập và thi đỗ Thái học sinh, sau này làm quan tới chức Thượng thư hữu bật. Có lúc
ông tự trào về mình rằng “Ta lúc bé đọc sách, chỉ muốn bắt chước cổ kim, từng hiểu qua đại
thánh để giáo hóa mọi người, mà cuối cùng chửa được một hương nào tin. Thường du lãm non

ông, còn phụ nữ thì không được coi trọng, ngày nay nam nữ bình đẳng nhu cầu học tập chính
đáng là quyền và nghĩa vụ của mọi người. Đâu đó, đã xuất hiện tình trạng người khác họ, khác
làng, khác tỉnh ghanh đua, tranh quyền đoạt lợi bất chấp, khôi phục truyền thống nhưng lại đào
sâu sự khác biệt, sự hằn thù của quá khứ, mua quan bán chức, chạy việc, chạy tội, chạy chức
quyền,….làm cho thuần phong mỹ tục bị biến dạng, thật giả lẫn lộn, người tài bị thành kiến, chèn
ép, trù dập, cái cổ hủ trá hình hoành hành ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, đây là những trở ngại cần
sớm được khắc phục trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Miền Trung.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần đẩy mạnh hơn nữa các cuộc vận động, các phong trào: gia đình hiếu học,
dòng họ hiếu học, làng hiếu học. Gắn tiêu chí hiếu học với những tiêu chí liên quan khác như,
không vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội,… Cần kêu gọi sự đóng góp nhiều hơn nữa của các bậc
mạnh thường quân, của nhân dân để hỗ trợ và tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều được đi
học. Chú ý đến sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền được học tập. Cần ưu tiên, tạo điều kiện
cho con em các dân tộc ít người, vung cao, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn được đi
học.
Thứ hai, đối với những đền, miếu thờ các bậc trạng nguyên, tiến sĩ, các dòng họ hiếu học
trước đây nếu còn cơ sở cần được tu sửa và chỉnh trang. Nếu chúng ta không làm sớm công tác
này, về sau đô thị hóa sẽ nuốt hết các di tích, lúc đó rất khó phục hồi. Do đó, trước hết, cần tiến
hành khảo sát lại địa điểm, vị trí, giá trị xã hội và truyền thống của các đền, miếu hiện còn để có
kế hoạch tu sửa chỉnh trang.
Thứ ba, cần chú trọng giải quyết công ăn việc làm nhiều hơn nữa cho những con em đã tốt
nghiệp. Có chính sách thỏa đáng để thu hút nguồn nhân lực, kêu gọi người tài ở lại phục vụ cho
việc phát triển kinh tế địa phương. Ngày nay, người tài là nguồn lực quan trọng nhất, mà ở Bắc
Miền Trung lại có nhiều người tài, có truyền thống hiếu học, do đó, phát huy và sử dụng hiệu quả
được nguồn lực này thì sẽ phát triển và khởi sắc được cái bản sắc của Bắc Miền Trung.
Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng, cũng như bao giá trị truyền thống khác, tinh thần hiếu học
cần được quan tâm và xử lý trên tinh thần khoa học một cách biện chứng để hướng tới một xã
hội học tập. Cần chú ý là, tinh thần hiếu học không mâu thuẫn với đổi mới giáo dục đào tạo hiện
đại, với thiên hướng xây dựng các cộng đồng học tập, các cá nhân học tập suốt đời, vì ở đâu,
bao giờ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên

nhận là Dòng họ khuyến học.

[4] Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Hội văn nghệ dân gian
Nghệ An (1997), Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr
118.
[5]Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, tr 305 – 323.
[6]Nguyễn Thế Long (2006), Truyền thống gia đình và bản sắc dân tộc Việt Nam, truyền thống
hiếu học & tôn sư trọng đạo, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr 9 – 30.
[7]Vũ Ngọc Khánh, Đoàn Khôi, Phan Kiến Giang (2002), Truyện Trạng Việt Nam, Nxb Thanh
Hóa, tr 32 – 34.
[8] Nguyễn Văn Năm (2007), Đạo học với truyền thống tôn sư, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 225 –
227.

[9] Nguyễn Văn Năm (2007), Đạo học với truyền thống tôn sư, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 21.
[10] Ban Tuyên giáo Trung Ương, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng, Những mẫu chuyện về
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 30 – 31.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status