Đề tài "Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý, quan trắc chất lượng nước tại Huyện Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh Hà tĩnh do Tổ chức Oxfam tài trợ'''' - Pdf 19

1
BÁO CÁO
Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý,
quan trắc chất lượng nước tại Huyện
Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh Hà tĩnh
Nhóm tư vấn thực hiện:
1) Đoàn Thế Lợi, nhóm trưởng
2) Đặng Ngọc Hạnh, thành viên
3) Trần Đức Anh, thành viên
HÀ NỘI: THÁNG 4 NĂM 2011
MỤC LỤC
I. GIỚI THIỆU, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, KẾT QUẢ MONG ĐỢI VÀ PHƯƠNG
PHÁP THỰC HIỆN 2
1.1. Gi i thi uớ ệ 2
1.2. M c tiêu v nhi m v c a Nhóm t v nụ à ệ ụ ủ ư ấ 2
1.3. K t qu mong iế ả đợ 3
1.4. Ph ng pháp th c hi nươ ự ệ 3
II. TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 6
2.1. V kinh t xã h iề ế ộ 6
2.2. Th c tr ng v ngu n n c v s d ng n c cho n u ng v sinh ho tự ạ ề ồ ướ à ử ụ ướ ă ố à ạ 8
2.3. V công tác t ch c th c hi n d án (l m gi ng, b l c, nh v sinh)ề ổ ứ ự ệ ự à ế ể ọ à ệ 11
III. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC MẪU NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI
PHÁP XỬ LÝ PHÙ HỢP 12
3.1. V ánh giá ch t l ng n c v i các m u phân tíchềđ ấ ượ ướ ớ ẫ 12
3.2. Ki n ngh m t s gi i pháp công trình x lý n c:ế ị ộ ố ả ử ướ 13
3.3. xu t các gi i pháp quan tr c ch t l ng n c v x lý ng phó khi có lĐề ấ ả ắ ấ ượ ướ à ử ứ ũ16
IV. CÁC KIẾN NGHỊ VỀ THIẾT KẾ VÀ THI CÔNG GIẾNG, BỂ LỌC, NHÀ VỆ
SINH 17
4.1 Công trình nh v sinhà ệ 17
4.2. V công trình gi ng n c v b l cề ế ướ à ể ọ 17
4.3. V t ch c th c hi nề ổ ứ ự ệ 18

Theo báo cáo của Dự án cứu trợ và Phục hồi Sinh kế sau lũ tại tỉnh Hà Tĩnh do
Oxfam thực hiện, 15 xã thuộc hai huyện Vũ Quang và Hương Khê đã được Oxfam lựa
chọn để cứu trợ khẩn cấp và phục hồi sau lũ (7 xã của huyện Hương Khê là Lộc Yên,
Hương Thủy, Hoà Hải, Phúc Đồng, Hà Linh, Phương Điền và Phương Mỹ và 8 xã của
huyện Vũ Quang là thị trấn Vũ Quang, Hương Minh, Hương Quang, Hương Thọ, Ân
Phú, Đức Lĩnh, Đức Giang và Đức Liên). Để triển khai tiếp các hoạt động trợ giúp xây
dựng nhà vệ sinh, giếng nước theo kế hoạch đã phê duyệt, Nhóm tư vấn thực hiện nhiệm
vụ khảo sát, đánh giá chất lượng nguồn nước, đề xuất giải pháp xử lý và quan trắc chất
lượng nước sinh hoạt của 10 xã theo đề xuất của Oxfam.
Oxfam đã quyết định hỗ trợ:
+ Huyện Hương Khê: 120 giếng nước; 120 nhà vệ sinh (cho các xã Hà Linh,
Phương Điền, Phương Mỹ, Lộc Yên)
+ Huyện Vũ Quang: 150 giếng nước và 150 bể lọc bằng cát; 150 nhà vệ sinh (cho
các xã Đức Liên, Hương Thọ, Đức Giang, Đức Lĩnh và Ân Phú)
Các hộ thuộc diện hỗ trợ chưa có hoặc có giếng nước, nhà vệ sinh bị phá hủy sau 2
trận lũ và thuộc đối tượng hộ nghèo, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. Trong các
hoạt động trợ giúp, Oxfam coi trọng các giải pháp để tối đa hóa việc sử dụng lao động địa
phương và sử dụng vật tư tại chỗ, lao động đổi công để tăng thu nhập cho người dân.
Để triển khai tốt hoạt động trên, bảo đảm tính khoa học và phù hợp với thực tiễn
của địa phương, Nhóm tư vấn có trách nhiệm khảo sát, đánh giá và đề xuất giải pháp tối
ưu để đạt được mục tiêu của dự án. Nhiệm vụ của Nhóm tư vấn đã được nêu trong TOR
và đề cương hoạt động đã được Oxfam chấp thuận. Cụ thể là:
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của Nhóm tư vấn
Mục tiêu 1: Thiết lập cơ sở dữ liệu ban đầu về chất lượng nước sử dụng cho sinh
hoạt trong 10 xã của cả 2 huyện (danh mục các xã xem phụ lục 1)
2
Mục tiêu 2: Đề xuất các giải pháp cần thiết bao gồm cả khía cạnh vận động chính
sách cho Oxfam và các cơ quan đối tác trong việc cải thiện, giám sát chất lượng nước và
quan trắc trong vùng bị ảnh hưởng lũ.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, Nhiệm vụ của Nhóm tư vấn đã triển khai các hoạt

3
- Phương pháp phân tích chất lượng,
- Phương pháp so sánh, đánh giá, tính toán, thiết kế.
Phương pháp thực hiện được mô tả ở khung logic nghiên cứu như sau.
4
Khung logic nghiên cứu:
Đánh giá các mẫu giếng và công trình lọc nước do đơn vị tư vấn thiết kế lập cho
Oxfam, kiến nghị các giải pháp chỉnh sửa, bổ sung (nếu có)
Xử lý số liệu, kiến nghị về kế công trình, lập báo cáo, xây dựng tài liệu tập huấn ,
báo cáo kết quả và tập huấn tại hai huyện
Thảo luận nhóm
có sự tham gia
của cộng đồng,
chuyên gia, cán
bộ quản lý ở địa
phương gồm
nhân viên đại
diện của Oxfam,
cán bộ quản lý
chuyên môn của
huyện, xã để xác
định các vấn đề
- Các nguồn nước sử dụng, thông tin sơ bộ về các
nguồn nước, xác định các nguồn nước trọng tâm
- Các thông tin cơ sở về tập quản xử lý và sử dụng
nguồn nước,
- Biểu hiện của một số loại bệnh có khả năng do nguyên
nhân sử dụng nước thiếu vệ sinh
- Thông tin về các loại công trình khai thác, công trình
xử lý tốt, chưa tốt, bị phá huỷ trong lũ

II. TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1. Về kinh tế xã hội
a) Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng dự án.
+ Huyện Hương Khê: Hương khê là huyện miền núi của Hà tĩnh, phía Tây giáp
Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp huyện Cẩm Xuyên và Thạch Hà,
phía Bắc giáp huyện Vũ Quang và Can Lộc. Địa hình nhiều đồi núi, cao nhất là núi Rào
Cỏ (2.235 m). Sông Ngàn Trươi chảy qua địa bàn xuống đổ vào sông Ngàn Sâu. Tổng
diện tích tự nhiên là 1278,09 km², dân số: 107.996 người (tháng 1/2009) gồm các dân tộc:
Thổ, Thái, Kinh,Chứt, nhưng dân tộc Kinh chiếm đa số. Hương Khê có 22 đơn vị hành
chính trực thuộc. Sản suất nông nghiệp là kế sinh nhai chủ yếu của nhân dân trong huyện.
Đất canh tác ít, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống của đại đa số hộ gia đình còn thấp,
tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Huyện Vũ Quang: Vũ Quang là huyện miền núi của Hà tĩnh, cách thành phố Hà
Tĩnh 70 km về phía Tây, có 42 km đường biên giới tiếp giáp với Lào, địa hình nhiều đồi
núi đặc biệt có vườn quốc gia Vũ Quang. Huyện Vũ Quang có diện tích tự nhiên là
62.284 ha, dân số 35.877 người (tháng 1/2009) gồm 12 đơn vị hành chính trực thuộc là
Thị trấn Vũ Quang và các xã: Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang,
Ân Phú, Hương Thọ, Hương Minh, Hương Điền, Hương Quang và Sơn Thọ. Đất canh tác
ít, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống của đại đa số hộ gia đình còn thấp, tỷ lệ hộ
nghèo còn cao.
Các xã thuộc diện được Oxfam trợ giúp đều là các xã nghèo trong huyện, Hộ
nghèo chiếm tỷ lệ rất cao (55,38 % ở huyện Hương Khê và 50,27 % ở Huyện Vũ Quang).
Cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong khi đất đai lại rất
ít, ở Hương khê bình quân một hộ chỉ đạt 0,34 ha/hộ và ở Vũ Quang là 0,29 ha /hộ. Đất
đai ít, chủ yếu là đất trồng màu, tỷ lệ đất canh tác được một vụ lúa rất thấp (Hương khê là
43 % và Vũ Quang là 49 %). Trong năm, chỉ canh tác được một vụ ăn chắc (vụ xuân),
còn vụ mùa rất bấp bênh do ngập lũ hàng năm. Lũ lụt hàng năm đã gây nhiều khó khăn
cho bà con nông dân như mất mùa, thiếu lương thực, bệnh tật…. (xem Bảng 1)
Bảng 1: Diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo
TT Xã Số hộ Số khẩu Tỷ lệ Hộ

Lũ lụt tàn phá tài sản của nhân dân và phá hủy hoa màu đã ảnh hưởng trực tiếp tới
sản xuất và đời sống của người dân, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, môi trường sinh
thái như: mất mùa; trôi nhà cửa, đồ đạc; bệnh dịch bùng phát; môi trường ô nhiễm; cở sở
hạ tầng hư hỏng…. . Do sống chung với lũ từ nhiều năm nay nên người dân cũng như
chính quyền địa phương chủ động thực hiện rất tốt công tác phòng chống lũ, góp phần
giảm thiểu các thiệt hai do lũ gây ra. Các xã đều xây dựng phương án phòng chống lũ rất
sớm (xong trước tháng 4). Phương án đã đều đề cập các tình huống có thể xảy ra và cách
ứng phó như công tác sơ tán và bố trí dân cư về các điểm tập kết Hơn nữa tinh thần
phòng chống lũ của người dân trong vùng rất tốt. Trước mùa lũ, họ đã chuẩn bị chu đáo
các vật dụng cần thiết cho gia đình như thuyền, bè; sơ tán trâu, bò vật nuôi (gửi nhờ các
hộ ở trên cao) khi có dự báo lũ trước 1 đến 3 ngày .Vì vậy các ảnh hưởng của lũ cũng
được hạn chế, đặc biệt ít xảy ra tổn thất về người.
d) Về công tác phòng chống lũ tại địa phương
Chính quyền các cấp rất coi trọng công tác phòng chống lũ và thiên tai, các tổ
chức đoàn thể của địa phương như hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh phối hợp
với chính quyền xây dựng phương án phòng chống lũ lụt. Công việc này đã thu hút sự
quan tâm của hầu hết các thành viên là cán bộ chủ chốt cũng như các đoàn thể ở địa
7
phương tham gia. Khảo sát tại 10 xã vùng lũ, nhóm tư vấn nhận định công tác phòng
chống lũ được thực hiện rất nghiêm túc và hiệu quả cụ thể:
- Phương án chống lũ và thiên tai đều được xây dựng xong trước tháng 4 hàng
năm. Tổ chức họp phổ biến, triển khai phương án đến tận các thôn, xóm, khu dân cư, các
hộ gia đình đều biết.
- Phương án đã đề cập khá chi tiết, đầy đủ các tính huống khi có lũ như :
+ Thiết kế những khu tập kết dân để sơ tán dân (khi cần), các điều kiện sinh hoạt
cần thiết nếu lũ xảy ra.
+ Các phương án về thông tin liên lạc, thuyền đi lại ở bộ phân chỉ huy (thường ở
trụ sở UBND).
+ Phân công nhiệm vụ cho từng thôn, xóm, đặc biệt là việc xen ghép các hộ thấp
và hộ trên cao đảm bảo tính cộng đồng rất cao khi có lũ xảy ra.

lượng nguồn nước ở các xã trong vùng dự án cơ bản tốt, có thể sử dụng để ăn uống và
sinh hoạt. Đặc điểm nhận biết về chất lượng nguồn nước tốt xấu, theo kinh nghiệm của
người dân là khi bơm lên nước trong, không có mùi, đem nấu nước chè xanh cho nước
xanh, thơm và uống ngon. Khi lấy mẫu ở các giếng nước này đi phân tích thường đáp ứng
đủ điều kiện vệ sinh môi trương theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế. Trừ một số giếng khi đào
gặp phải mạch nước không tốt, có dấu hiệu ô nhiễm (thường gặp với giếng khoan trên
20m) như có mùi tanh, có váng và tạo cặn sau khi bơm lên. Nếu nguồn nước bị nhiễm sắt
khi nấu chè xanh cho nước đỏ thẩm, không còn mùi thơm. Tuy vậy, các dấu hiệu ô nhiễm
này không nghiêm trọng đến sức khỏe, chỉ cần xử lý thông thường là có thể sử dụng được
như phơi nắng và lọc qua bể lọc cát… .Hiện tại các hộ dân cũng đã áp dụng hình thức xử
lý như dùng bể lọc cát .v.v. nhưng do làm không đúng kỹ thuật nên hiệu quả xử lý nước
chưa tốt (ảnh 2, ảnh 3, ảnh 4, ảnh 5 phụ lục 2).
Dù chất lượng nguồn nước tốt, nhưng tập quán sinh hoạt của dân cư địa phương có
phần ảnh hưởng đến vệ sinh nguồn nước sinh hoạt như các bể chứa nước không có nắp
đậy dễ bị nhiễm bẩn và làm chổ để muỗi sinh sản (Ảnh 2 phụ lục 2) hoặc các hộ gia đình
thường bố trí chuồng trâu bò, gia súc ở phía trước nhà, gần nhà bếp và giếng nước, đây là
tập quán không tốt dễ gây ô nhiễm cho nguồn nước. Có hộ bố trí giếng nước cách chuồng
trâu chỉ khoảng 3-5m và nguy cơ ô nhiễm vi sinh rất cao.
c) Mô tả, đánh giá và dự báo khả năng bị ảnh hưởng bởi chất ô nhiễm khi lũ xảy ra
và các giải pháp nguồn nước và vệ sinh môi trường trong những trường hợp khẩn cấp:
Sống trong vùng thường xuyên xảy ra lũ lụt, các hộ gia đình thường có chuẩn bị
dụng cụ tích trữ nước dể dùng khi có lũ xảy ra. Trừ khi có lũ lớn kéo dài, hết nguồn nước
tích trữ thì các hộ thường dùng thuyền đến lấy nước từ các khe, suối trong núi hoặc lấy
từ các hộ ở trên cao (có giếng không ngập). Đây là kinh nghiệm sống chung với lũ của
người dân địa phương để có nước sạch trong mùa lũ (trừ các hộ không có phương tiện
hoặc lũ qúa lớn, nước chảy mạnh không thể dùng thuyền bè đi lại). Vì vậy việc sử dụng
nước ô nhiễm khi lũ xảy ra là ít có khả năng xảy ra. Đây cũng là vấn đề cần xem xét khi
tiến hành các hoạt động cứu trợ.
Nhìn chung, sau các trận lũ các giếng nước bị ngập và thường bị ô nhiễm do nước
lũ chảy vào giếng và người dân chưa biết biện pháp phòng chống giếng bị nhiễm bẩn khi

ống bê tông, trừ các giếng đào từ hàng chục năm trước đây (khoảng 10-15 năm) thì
thường là giếng đất, phía gần mặt đất trở lên thành giếng được xây bằng gạch khoảng 1m.
Tuy nhiên, qua nhiều lần ngập lũ về cơ bản các giếng vẫn tồn tại, chỉ rất ít giếng bị sạt lở,
trôi vì có luồng cát, nước xoáy (Ảnh 8, ảnh 9). Khảo sát các giếng đào trong khu vực
cho thấy rằng, địa chất ở khu vực tương đối tốt, giếng đào sâu tới 7-8m không cần thành
giếng mà vẫn tồn tại hàng chục năm nay. Các hộ đào giếng sau này thường dùng ống bi
làm thành giếng để bảo đảm vệ sinh nguồn nước, ngăn không cho nước mặt thấm vào
giếng. Kinh nghiệm đào giếng thường thực hiện vào mùa khô, khi đó nền đất cứng ổn
định hơn, và nếu trong mùa khô giếng đủ nước là đảm bảo đủ cấp nước quanh năm.
- Giếng khoan: Trong những năm gần đây, một số hộ đã sử dụng giếng khoan.
Giếng khoan thường do thợ khoan giếng vì họ có phương tiện, kinh nghiệm. Hơn nữa họ
có kinh nghiệm phát hiện nguồn nước ngầm. Tuy nhiên giếng khoan có xác suất gặp nước
nhiễm sắt nhiều hơn.
10
f) Về các công trình xử lý nước. Phần lớn các hộ có nguồn nước khá tốt, nên sử
dụng ngay sau khi bơm lên do đó cũng không cần có công trình xử lý nước. Thông
thường nước bơm vào bể chứa, rồi sử dụng cho nấu ăn và sinh hoạt. Trừ một số giếng bị
nhiễm sắt có mùi tanh, nước đục hoặc nước bơm lên để có váng, ngả màu vàng thì mới
xử lý trước khi sử dụng. Phương pháp xử lý thông dụng hiện nay là lọc bằng bể cát và
phơi nắng trước khi sử dụng. Các bể lọc cát thường làm theo tập quán và hầu hết không
đúng kỹ thuật nên chất lượng xử lý nước chưa tốt.
Trong quá trình khảo sát, nhóm tư vấn thấy hộ nhà chị Hằng, Anh Thành (xóm 8,
xã Hà Linh, số điện thoại 0393874402) xây dựng làm bể lọc tương đối tốt, dù nước bị
nhiễm sắt nhưng sau khi lọc bằng cảm quan và trải nghiệm của gia đình là rất tốt (Ảnh 10
phụ lục 2). Hỏi gia đình về cách làm, gia đình cho biết họ học cách xử lý nước thông qua
đọc báo. Nếu làm các bể lọc đúng kỹ thuật thì có thể xử lý được cả nước mặt, nước lũ
đọng lại trong các giếng để sử dụng mà không cần phải chờ thau rửa. Nếu có hướng dẫn
kỹ thuật lọc nước thì hiệu quả và khả năng áp dụng vào thực tế rất cao bởi vì đại đa số
người dân rất quan tâm đến chất lượng nước sinh hoạt (Ảnh 3, ảnh 4, ảnh 5 phụ lục 2).
Hơn nữa với phương pháp lọc thông thường (lọc cát), thì các loại vật liệu lọc như

đình già yếu mặc dù đã cam kết, nhưng tính khả thi cũng không cao, vì họ không có tiền.
c) Một số vấn đề phát sinh cần nghiên cứu xem xét:
- Dù các hộ rất phấn khởi với sự giúp đỡ của Oxfam, nhưng họ cho rằng mức hỗ
trợ chưa thật phù hợp giữa các công trình khác nhau. Chẳng hạn nhà vệ sinh với mức hỗ
trợ (200 USD, khoảng 4,2 triệu), mức này là tương đối đủ để xây dựng công trình mà hộ
hưởng lợi không cần đóng góp thêm; nhưng với giếng với mức hộ trợ (100 USD, khoảng
2,1 triệu đồng) thì hộ hưởng lợi phải đóng góp thêm khá nhiều. Theo các hộ dân cho biết,
để làm một giếng khoan hoàn chỉnh với độ sâu từ 25-30m có giá khoảng 3,5 triệu, như
vậy gia đình phải đóng góp thêm 1,5 triệu. Nếu làm 1 giếng đào hoàn chỉnh (phải thuê
thợ đào) theo mẫu thiết kế với độ sâu 15-20m thì giá thành trong khoảng 5-7 triệu đ/giếng
thì mức đóng góp còn cao hơn. Mức đóng góp này đối với hộ nghèo trong giai đoạn này
(trong mùa giáp hạt) là khó thực hiện nhất là hộ già yếu, neo đơn. Nếu điều chỉnh mức hộ
trợ theo hướng bù trừ cho nhau giữa nhà vệ sinh và giếng nước (bình quân 150 USD/công
trình) thì có lẽ sẽ tốt hơn.
Trong quá trình xem xét lựa chọn các hộ được trợ giúp, Ban quản lý xã vẫn dựa
vào bình bầu của bà con (theo tiêu chi của Huyện) mà chưa xem xét kỹ điều kiện của
từng hộ, những thuận lợi, khó khăn và mong muốn cụ thể của từng hộ nên vẫn còn có
những bất hợp lý, ví dụ hộ ông Nguyễn Đình Chính
1
xóm 9 -Hà Linh hiện đã có giếng
sâu 12 m mà vẫn trong diện được hỗ làm giếng, trong khi bể lọc chưa có, nhà chị Phan thị
Hồng xóm 8 - Hà Linh hộ nằm ở vùng thấp đang thuộc diện di chuyển lên vùng cao.
III. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC MẪU NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI
PHÁP XỬ LÝ PHÙ HỢP
3.1. Về đánh giá chất lượng nước với các mẫu phân tích
a) Phương pháp đánh giá: Đánh giá chất lượng nước dựa vào kết quả phân tích ở
phòng thí nghiệm do Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Hà tĩnh (theo chỉ tiêu của Bộ y tế) và
theo kinh nghiệm thực tế ở địa phương đối với nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt
b) Đánh giá chung về chất lượng nước ở các xã thuộc dự án:
Từ kết quả phân tích mẫu nước và thực tế khảo sát kiểm tra tại xã có thể rút ra các

tanh, có váng màu vàng và nước đục, cấu tạo bể lọc (xem hình 1). Hệ thống lọc gồm 2
phần, phần lọc và phần chứa. Các giếng có mùi tanh cần xử lý theo phương pháp này.
+ Phần lọc là một ống bê tông đường kính trong 50-60 cm. Bên trong rải các lớp
vật liệu lọc gồm: Lớp trên cùng là lớp cát, có chiều dày khoảng 45-65 cm, căn cứ vào
chất lượng nước sau khi lọc có thể tăng hoặc giảm bớt chiều dày lớp cát lọc cho phù hợp.
Cát lấy từ sông Ngàn Sâu về cần sàng loại bỏ các tạp chất trước khi sử dụng. Lớp tiếp
theo là sỏi nhỏ có chiều dày khoảng 10-15 cm. Ở những nơi có điều kiện có thể bố trí
thêm một lớp than củi xen giữa lớp cát và sỏi dày 10-15 cm. Sỏi lấy từ sông, suối về được
rửa sạch và loại bỏ các tạp chất trước khi cho vào bể lọc. Ở những hộ có nồng độ sắt cao
khi đưa vào bể lọc nên cho chảy qua vòi hoa sen để tăng tốc độ ôxi hóa của sắt như hình
2.
Hình 1 Sơ đồ lọc chậm áp dụng tại huyện Vũ Quang
13
Hình 2.

+ Phần bể chứa dùng để chứa nước sau khi lọc. Bể chứa đựơc đúc bằng bê tông
như bản vẽ.
14
Các hộ đã có bể lọc nhưng làm chưa đúng kỷ thuật có thể tham khảo kết cấu này để
điều chỉnh lại cho phù hợp.
b) Phương pháp lọc nhanh
Trong mùa lũ, khi các giếng nước và các bể lọc đều bị ngập mà không thể tiếp cận
được với các nguồn nước sạch khác có thể vận dụng một số phương pháp lọc nước đơn
giản như sau để có nước sử dụng.
 Lọc bằng xô chậu:
+ Chuẩn bị dụng cụ:
- Xô nhựa hoặc xô tôn.
-Vòi nước (vòi nhựa hoặc bằng ống tre tự tạo).
- Cát , sỏi.
+ Cách làm:

- Lấy vỏ chai nhựa nước khoáng loại 500ml cắt bỏ
đáy chai.
- Đục thủng nắp chai để cắm ống nhựa dẻo để cho
nước chảy ra.
- Bỏ vật liệu lọc như hình vẽ.
3.3. Đề xuất các giải pháp quan trắc chất lượng nước và xử lý ứng phó khi có lũ
1. Trước khi lấy nước sử dụng cần phải được kiểm tra kỹ. Theo kinh nghiệm, nước
được coi là sạch khi nó không có màu, không mùi, không vị. Trong suốt, không vẩn đục,
không có tạp chất lạ lắng đọng và không có vi trùng và các chất gây bệnh. Các nguồn
bơm lên có màu vàng, bị vẫn đục nhất thiết phải xử lý trước khi sử dụng như lọc cát
(theo hướng dẫn). Trước khi uống phải đun sôi.
2. Khí có lũ về cần bịt kín miệng giếng để tránh nguồn nước nhiễm bẩn chảy vào.
Mỗi hộ nên may sẵn tấm bịt miệng giếng bằng tấm vải bạt dứa, có rút dây thừng hoặc dây
chun để thuận lợi trong triển khai nhanh công tác bịt giếng (không dùng vải mưa, ninon
để vì dễ bị bung khi nước ngấm vào giếng do không khí không thoát được)
3. Để không cho nước ô nhiễm chảy vào giếng, khi có lũ nên hứng nước mưa cho
đầy miệng giếng (hứng từ mái nhà, hoặc làm bạt hứng, trừ mái nhà lợp bằng tấm
proximăng) sau đó bịt kín miệng giếng. Phương pháp này rất đơn giản hiệu quả, dể thực
hiện.
Đối với giếng khoan, phần ống nhựa giếng nhô lên khỏi mặt đất phải bịt kín ống
giếng và đóng cọc định vị xung quanh để ngăn các vật trôi nổi va chạm vào ống làm gẫy
ống
4. Các bể lọc nước cần bịt kín phần miệng. Những vị trí có khả năng có dòng nước
lũ chảy mạnh, dòng nước xoáy cần phải chằng, chống tránh bị trôi.
5. Các hộ gia đình cần chuẩn bị sẵn các phương tiện, công cụ trước mùa lũ để ứng
phó khí lũ về, như:
- Chuẩn bị các dụng cụ trữ nước như can, xô chậu… và các dụng cụ hứng nước
mưa để ăn uống, sinh hoạt trong những ngày ngập lũ.
16
- Chuẩn bị các vật tư vật liệu để xử lý nước như xô chậu, phèn chua, thuôc sát

được điều chỉnh cho phù hợp, nhưng kinh phí xây dựng cho từng bể lọc không thay đổi
(xem hình 1 & 2 trang 14 và ảnh minh họa ở phần cuối báo cáo này).
17
4.3. Về tổ chức thực hiện
- Với các hộ tự đào giếng, cần khuyến cáo quy trình và biện pháp đào để bảo đảm
an toàn trong quá trình đào. Nhất là các hộ cải tạo, sửa chữa… tránh sụt, sạt, lở đất gây
nguy hiểm đên tính mạng người đào.
- Một số hộ quá nghèo, không có khả năng đóng góp kinh phí, chính quyền xã
hoặc các tổ chức đoàn thể tìm cách trợ giúp như cho vay trả dần…
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- Nhóm tư vấn đã hoàn thành các nội dung đề ra theo TOR và bản đề cương thực
hiện đã được Oxfam chấp thuận.
- Báo cáo đã đáp ứng đủ các kết quả mong đợi. Kết quả nghiên cứu rút ra từ khảo
sát, phân tích mẫu nước và đúc rút từ thực tế, kinh nghiệm có tính khoa học cao. Các đề
xuất của nhóm tư vấn đều được lãnh đạo, các tổ chức đoàn thể và nhân dân ủng hộ.
- Báo cáo của nhóm tư vấn đã giúp ích tốt cho Ban quản lý dự án huyện, Ban cứu
trợ xã triển khai thực hiện tốt các nội dung của dự án. Bảo đảm công trình do Oxfam tài
trợ phát huy hiệu quả tốt, thiết thực phục vụ lợi ích của người nghèo và phù hợp với đặc
điểm sinh hoạt của nhân dân. Kết quả thực hiện dự án là mẫu hình tốt để nhân rộng ra các
hộ khác (ngoài các hộ được trợ giúp) và các thôn xã khác trong huyện.
Kiến nghị: Đề nghị Oxfam tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát để đôn đốc
các Ban quản lý dự án huyện hoàn thành đúng tiến độ.
Đề nghi Ban quản lý dự án huyện nghiên cứu giải pháp hỗ trợ những hộ quá nghèo
không đủ khả năng đóng góp thêm chi phí xây dựng công trình (giếng nước).
Nhóm chuyên gia xin cảm ơn sự hợp tác, phối hợp với tinh thần trách nhiệm cao
của các cán bộ thuộc tổ chức Oxfam, các Ban quản lý dự án huyện, lãnh đạo chính quyền,
các tổ chức xã hội và bà con nhân dân các xã trong vùng dự án tham gia giúp đỡ, cung
cấp thông tin cho Nhóm tư vấn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Thay mặt nhóm tư vấn
Đoàn Thế Lợi

Thành
Xóm 8 Hà
Linh
Nước giếng khoan sau khi lọc cát, than, sỏi (dày 60-
70cm). Khi chưa lọc nước có màu vàng, mùi tanh,
không dùng được ngay. Sau khi lọc gia đình đánh giá
chất lượng nước tốt.
5 14 Nguyễn
Văn Kính
Tân
Đình
Lộc
Yên
Đại diện giếng đào có độ sâu từ 8-12m hiện đang sử
dụng để ăn uống
6 15 Giếng dùng
chung
Xóm 1 Phúc
Đồng
Đại diện giếng gần ruộng canh tác (không có thành
bảo vệ, dễ bị nước ô nhiễm bên ngoài chảy xuống,
nhất là trâu bò đi lại trên đường). Về mùa khô khoảng
30 hộ sử dụng giếng này để ăn uống và sinh hoạt
7 01 Nguyễn
Tuấn Huế
Xóm 2 Phúc
Đồng
Đại diện cho các giếng đào phổ biến đang được sử
dụng ở trong xã có độ sâu từ 8-14m
b) Các mẫu tại huyện Vũ Quang

Thôn
11
Hương
Thọ
Nước giếng sau lọc cát sỏi 30cm, chưa đúng kỹ thuật,
cảm quan chưa đảm bảo
5 7 Nguyễn Thị
Quế
Xóm 2 Ân Phú Đại diện giếng đào sâu từ 8-12m (phổ biến ở các thôn
1, 2, 3). Nước hơi đục, chưa tốt
6 8 Nguyễn Thị
Quế
Xóm 2 Ân Phú Giếng đào có mùi tanh và đã lọc (cát, sỏi, than 30cm).
7 9 Trần Thanh
Phúc
Xóm 2 Ân phú Đại diện cho nước giếng khoan có bị ô nhiễm chưa
qua xử lý
8 10 Sông Ngàn
Sâu
Thôn 2 Đức
Giang
Đại diện nguồn nước mặt, sông suối
19
Phụ lục 2:
Bảng tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá chất lượng các mẫu nước
I. Tại Huyện Hương Khê
TT Tên hộ, thôn xã, nguồn
nước
Chất lượng nước Các ảnh hưởng nếu
sử dụng trực tiếp

2 Phạm văn Bảy, Xóm 1,
Xã Phương Điền Đại
diện nước giếng đào
nước bơm lên để ngả
màu vàng, có váng trên
mặt
- Có 16/18 chỉ tiêu
đạt yêu cầu
- 2/18 chỉ tiêu chưa
đạt là sắt và mùi dễ
xử lý.
- 2 chỉ tiêu vi sinh
đạt nhưng ở mức
hơi cao.
Các chỉ tiêu không
đạt ít tác động tới
sức khoẻ, sử dụng
để nấu ăn dễ bị mất
mùi thực phẩm như
mất mùi chè
- Nên lọc qua bể lọc
chậm (như đề xuất
của tư vấn) trước khi
sử dụng
- Nên khử trùng
bằng Cloramin B
hoặc đun sôi trước
khi uống
3 Lê văn Hải, xóm 10, xã
Phương Điền; Đại diện

- 1/18 chỉ tiêu chưa
đạt (hàm lượng sắt
hơi cao hơn mức
bình thường )
Chỉ tiêu không đạt
không tác động tới
sức khoẻ.
Nên chỉnh sửa bể
lọc theo mẫu của tư
vấn đề xuất
5 Nguyễn Văn Kính,
Xóm Tân Đình, Xã
Lộc Yên (Là nguồn
- Có 14/18 chỉ tiêu
đạt yêu cầu
- 4/18 chỉ tiêu chưa
Chỉ tiêu không đạt
không tác động tới
sức khoẻ. Sử dụng
- Nên lọc qua bể lọc
chậm (như đề xuất
của tư vấn) trước khi
20
chủ yếu trong xã) đạt là màu sắc, mùi
vị, độ đục và sắt
để nấu ăn dễ bị mất
mùi thực phẩm như
mất mùi chè
sử dụng
6 Giếng đất làng, Xóm 1,

độ đục, mùi vị, và
hàm lượng sắt
Cảm giác nước
không ngon. sử
dụng để nấu ăn dễ bị
mất mùi thực phẩm
như mất mùi chè
- Nên lắng và phơi
nắng trước khi sử
dụng.
- Tốt nhất nên lọc
qua bể lọc chậm như
đề xuất của tư vấn)
trước khi sử dụng
II. Huyện Vũ Quang
TT
Tên hộ, thôn xã,
nguồn nước
Chất lượng nước Các ảnh hưởng nếu
sử dụng trực tiếp
Khuyến cáo biện
pháp xử lý (đặc biệt
sau lũ)
1 Nguyễn Thế Kỷ,
Thôn Hội Trung, Xã
Đức Liên. Nước
giếng khoan, giếng
đào bơm lên có
váng, mùi hơi tanh
- Có 15/18 chỉ tiêu

3
-
)
và, mùi tanh.
Các chỉ tiêu không
đạt ít tác động tới
sức khoẻ
Nên sửa lại bể lọc
(như đề xuất của tư
vấn )
Nguyễn Văn
Bường, xóm 10, xã
Hương Thọ; Nguồn
nước giếng đào gần
- Có 16/18 chỉ tiêu
đạt yêu cầu
- 2/18 chỉ tiêu chưa
Dễ gây ra các bệnh
đường ruột; Sử
dụng để nấu ăn dễ
bị mất mùi thực
- Nên lọc qua bể lọc
chậm (như đề xuất
của tư vấn) kết hợp
21
3 chuồng trại gia xúc
(3m)
đạt là Nitrat (NO
3
-

mất mùi chè
Nên sửa lại bể lọc
(như đề xuất của tư
vấn)
5
Nguyễn thị Quế,
Xóm 2, Xã Ân Phú;
Đại diện giếng đào
có độ sâu từ 8-12m
của hầu hết các
giếng thôn 1, 2, 3
(trước khi lọc)
- Có 14/18 chỉ tiêu
đạt yêu cầu
- 4/18 chỉ tiêu chưa
đạt màu sắc, độ đục,
mùi vị, sắt .
- Có dấu hiệu nhiễm
vi sinh
Dễ gây ra các bệnh
đường ruột; Sử
dụng để nấu ăn dễ
bị mất mùi thực
phẩm như mất mùi
chè
- Nên lọc qua bể lọc
chậm (như đề xuất
của tư vấn ) trước khi
sử dụng
- Nên khử trùng bằng

đạt, màu sắc, độ
đục, mùi vị, sắt
Các chỉ tiêu không
đạt không ảnh
hướng lớn tới sức
khoẻ. Sử dụng để
nấu ăn dễ bị mất
mùi thực phẩm như
mất mùi chè do
hàm lượng sắt cao
- Nên lọc qua bể lọc
chậm (như đề xuất
của tư vấn ) trước khi
sử dụng
8
Nước Sông Ngàn
sâu (thôn qua Thôn
2, xã Đức Giang).
Thường sử dụng khi
giếng không còn
nước vào mùa khô
- Có 15/18 chỉ tiêu
đạt yêu cầu
- 3/18 chỉ tiêu chưa
đạt là màu sắc,
Nitrat (NO
3
-
) và sắt
(nhưng ở mức thấp)

khuyến cáo sử dụng và xử lý
1 Màu sắc TCU 25 15 K. đạt
1) Đánh giá chung so với tiêu
chuẩn Việt nam về nước sinh
hoạt:
- Có 16/18 chỉ tiêu phân tích
đạt theo Tiêu chuẩn cho phép
- 2/18 tiêu chuẩn chưa đạt, tuy
nhiên nếu được lắng thông
thường thì các chỉ tiêu như màu
sắc, mùi vị sẽ được xử lý; đồng
thời hàm lượng sắt mằc dù
không vi phạm tiêu chuẩn xũng
sẽ được xử lý từ thể hoà tan di
động về trạng thái kết tủa và
lắng
2) Nếu không xử lý thì nhìn
chung ít tác động tới sức khoẻ,
sử dụng để nấu ăn dễ bị mất
mùi thực phẩm như mất mùi
chè nguyên nhân chính do
vẫn còn sắt ở dạng hòa tan di
động.
3) Nếu có thể cần phải khuyến
cáo giải pháp xử lý như thế
nào:
- Cần phải lắng, phơi nước
trước khi sử dụng
2 Mùi vị (lúc vừa
lấy mẫu)

-
)
tính theo N
mg/l 0,415 1,0 Đạt
14 Nitrit (NO
2
-
) tính
theo N
mg/l 0,02 1,0 Đạt
15 Sunphát (SO
2
-
) mg/l 5,0 400 Đạt
16 Ðộ ô xy hoá mg/l 0,38 4 Đạt
17
Coliform Col/
100ml
0 50 Đạt
18 E-Coli F.c/10
0ml
0 20 Đạt
Ghi chú: So sánh với QCVN 02 : 2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt.
.
23
Mẫu số: 2 (mã số mẫu 11):
Loại nước giếng khoan: Đại diện nước giếng đào các thôn 1, 2, 3 nước bơm lên để ngả màu
vàng, có váng trên mặt, chất lượng được người dân đánh giá cảm quan là chưa tốt
Địa điểm mẫu: Phạm văn Bảy, Xóm 1, Xã Phương Điền - Hương Khê
TT Tên chỉ tiêu Ðơn

chính do chỉ tiêu hàm lượng sắt
cao hơn TCCP.
3) Nếu có thể cần phải khuyến
cáo giải pháp xử lý như thế nào:
- Nên khử trùng bằng Cloramin
B theo hướng dẫn của Bộ Y tế
hoặc đun nấu chín sôi kỹ.
- Cần lắng trong bể trước khi
dùng. Về lâu dài vẫn cần lọc
chậm
2 Mùi vị (lúc vừa
lấy mẫu)
hơi
tanh
K. có
mùi, vị lạ
K. đạt
3 Ðộ đục NTU 0,35 5 Đạt
4 pH
(a)
7,07 5,5-8,5 Đạt
5 Ðộ cứng mg/l 95 350 Đạt
6 Tổng chất rắn hoà
tan (TDS)
mg/l 112 1500 Đạt
7 Amoni, tính theo
(NH
4
+
)

17 50 Đạt
18 E-Coli F.c/10
0ml
5 20 Đạt
Ghi chú: So sánh với QCVN 02 : 2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status