Báo cáo nghiên cứu khoa học: " THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ" doc - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009 TH
ỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PH
Ố HUẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
Lê Th Th o
Tr
ng i h c Khoa h c, i h c Hu
TÓM TẮT
ng ký kinh doanh và qu n lý ho t ng ng ký kinh doanh là m t trong nh ng n i
dung tr
ng y u trong vi c c i cách hành chính trong giai o n hi n nay các t nh, thành ph
nh
m m b o quy n t do kinh doanh và phát huy hi u qu trong ho t ng kinh doanh c a
các ch
th u t và khai thác h p lý ti m n ng kinh t - xã h i c a t n c. Qu c H i ã ban
hành Lu
t u t n m 2005, Lu t Doanh nghi p n m 2005 t o môi tr ng và v th c nh tranh
cho các doanh nghi
p trong và ngoài n c ã ánh d u m t b c ti n m i trong ho t ng
ng ký kinh doanh cho các doanh nghi p trên lãnh th Vi t Nam nói chung và trên a bàn
thành ph
Hu nói riêng. Trên c s ánh giá th c tr ng ho t ng ng ký kinh doanh và th c
tr
ng qu n lý ho t ng kinh doanh, bài vi t a ra m t s gi i pháp ki n ngh nh m n ng cao
hi
u qu công tác qu n lý ng ký kinh doanh nói chung và trên a bàn thành ph Hu nói
riêng.
1. Mở đầu

ĐKKD là thủ tục pháp lý bắt buộc đối với việc thành lập doanh nghiệp. Với việc chuyển
đổi nền kinh tế thị trường đảm bảo quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến
pháp n
ăm 1992, cơ chế “xin - cho” trong hoạt động ĐKKD bị xóa bỏ, để thừa nhận tính
h
ợp pháp cho sự tồn tại của doanh nghiệp, các chủ thể phải làm thủ tục pháp lý bắt buộc
để hợp pháp hóa sự ra đời của mình và cũng được sử dụng với thuật ngữ ĐKKD.
Nh
ư vậy, ĐKKD là một thủ tục hành chính hợp pháp hóa sự ra đời của doanh
nghi
ệp thông qua đó nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho doanh nghiệp các quyền và lợi
ích h
ợp pháp trong quan hệ kinh doanh và ghi nhận về mặt pháp lý sự tồn tại độc lập
c
ủa một chủ thể kinh doanh.
Kh
ởi sự cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các chủ thể đầu tư phải
ti
ến hành ĐKKD theo trình tự pháp luật quy định về hồ sơ đối với từng loại hình doanh
nghi
ệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005: doanh nghiệp tư nhân (Điều 16), công
ty h
ợp danh (Điều 17), công ty trách nhiệm hữu hạn (Điều 18), công ty cổ phần (Điều 19)
và lu
ật cũng quy định về nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh tại
Vi
ệt Nam.
Khi cho phép s
ự tồn tại của các chủ thể kinh doanh, ĐKKD thì cũng chính là mục
tiêu c

ệu đồng. Trong đó, số lượng doanh nghiệp đăng ký năm 2007 là 420 doanh
nghi
ệp tăng 102,4% so với năm 2006 với tổng số vốn đăng ký là: 1.969.865 triệu đồng. Ở
thành ph
ố Huế, số lượng doanh nghiệp cũng tăng lên trong thời gian từ năm 2005. Tính
đến thời điểm tháng 12 năm 2007, trên địa bàn thành phố Huế có 799 doanh nghiệp.
Trong
đó, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp là 84 doanh nghiệp, xây
dựng là 89 doanh nghiệp, thương nghiệp khách sạn nhà hàng là 486 doanh nghiệp, giao
thông v
ận tải là 70 doanh nghiệp, các ngành khác là 70 doanh nghiệp [8].
Tình hình ho
ạt động cấp giấy chứng nhận ĐKKD trong thời gian qua có những
thành t
ựu đáng kể. Theo số liệu thống kê từ Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế,
tính
đến thời điểm từ năm 2005 đến tháng 12/2008, đã cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho
1.354 doanh nghi
ệp trên địa bàn thành phố Huế với tổng số vốn đăng ký lên đến
4.697.502 tri
ệu đồng, cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động 277 chi nhánh và 41 văn
phòng
đại diện. Trong
đó, chỉ tính riêng năm
2005, trên
địa bàn
thành ph
ố đã làm thủ
t
ục cấp 305 giấy chứng

địa bàn với mức vốn
đăng ký lớn nhất là 50
t
ỷ đồng và mức thấp
nh
ất là 500 triệu đồng.
Các doanh nghi
ệp đã
đóng hơn 40% tổng sản
ph
ẩm nội địa của thành
ph
ố, giải quyết việc
làm cho h
ơn 12.332 lao
Bi u : So sánh doanh nghi p và t ng s v n KKD hàng n m
c
a Thành ph Hu t 2005 - 2008
(Ngu n: Báo cáo c a S K ho ch - u t
t
nh Th a Thiên Hu n m 2008)

Bi u : So sánh s l ng Doanh nghi p c c p v n GCN KKD c a
t
nh Th a Thiên Hu và Thành ph Hu t 2005 - 2008
(Ngu n: Báo cáo c a S K ho ch - u t
t
nh Th a Thiên Hu n m 2008)
động Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2008, con số doanh nghiệp được cấp giấy chứng
nh

v
ốn để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp.
Th
ực sự hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố Huế chưa phát huy hết
ti
ềm năng kinh tế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn. Việc áp dụng cơ chế
m
ột cửa liên thông trong ĐKKD để khai sinh cho doanh nghiệp cũng gây không ít trở
ng
ại cho doanh nghiệp và chưa phát huy hết hiệu quả của cơ chế này. Các doanh nghiệp
còn m
ất nhiều thời gian trong các thủ tục trước khi được cấp giấy chứng nhận ĐKKD.
S
ự lạc hậu về cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ quan ĐKKD và trình độ chuyên môn
nghi
ệp vụ của các cán bộ làm công tác ĐKKD còn nhiều hạn chế, gây nhiều phiền hà
cho nhà
đầu tư; chưa áp dụng được các tiến bộ khoa học công nghệ trong việc cấp giấy
cuch
ứng nhận ĐKKD cho các chủ đầu tư. Vì vậy, cần cập nhật thường xuyên các thông
tin, các bi
ểu mẫu, các chính sách ưu đãi, trình tự thành lập doanh nghiệp, các dự án đầu
t
ư… trên trang web hiệp hội doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành để thuận
ti
ện cho các nhà đầu tư có điều kiện tiếp cận thông tin nhanh nhất và thuận tiện nhất.
3.1. Về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Ngày 03/5/2007 U
ỷ ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã triển khai cơ chế “Một
c

ản lý được việc đặt tên cho các doanh nghiệp gây nhầm lẫn và trùng lắp ở các
địa bàn sẽ gây ảnh hưởng đến chủ thể kinh doanh, nhà đầu tư mà còn gây ảnh hưởng
đến người tiêu dùng. Nguyên nhân của thực trạng trên là do thiếu hệ thống tra cứu tên
doanh nghi
ệp. Các doanh nghiệp, các nhà đầu tư không biết tìm ở đâu để kiểm tra tên
doanh nghi
ệp của mình có bị trùng hay nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã
đăng ký hay chưa khi lập hồ sơ ĐKKD.
Hiện nay, tại địa bàn thành phố Huế, việc quản lý vấn đề đặt tên cho doanh nghiệp
thu
ộc thẩm quyền và trách nhiệm của Sở Kế hoạch Đầu tư. Tuy nhiên, Sở chỉ quản lý các
doanh nghi
ệp trong phạm vi địa bàn của Tỉnh. Hiện nay, chưa có mạng lưới để cung cấp
thông tin m
ột cách có hệ thống và tránh trùng lắp ở các tỉnh thành khác nhau trên phạm vi
c
ả nước. Trong khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không chỉ bó hẹp trong phạm vi
c
ủa một tỉnh thành mà có thể tìm kiếm thị trường, có các quan hệ với các đối tác, cũng
nh
ư mở rộng hoạt động của mình dưới hình thức thành lập chi nhánh và văn phòng đại
di
ện tại các tỉnh khác. Mặt khác, một khó khăn của cơ quan ĐKKD ở Việt Nam là chưa
qu
ản lý được tên doanh nghiệp một cách đồng bộ, hiệu quả và hậu quả là đã xảy ra nhiều
tranh ch
ấp về tên doanh nghiệp. Cơ quan có thẩm quyền còn gặp nhiều khó khăn trong
vi
ệc quản lý đăng ký kinh doanh khi các doanh nghiệp đặt tên doanh nghiệp… không có
các thông tin h

ho
ạt động đăng báo công khai cũng như chưa quy định cơ quan nào có trách nhiệm
ki
ểm tra, giám sát hoạt động trên của các doanh nghiệp. Để đảm bảo quyền lợi cho
ng
ười tiêu dùng, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp và cũng tăng cường sự quản lý của
nhà n
ước tạo trật tự trong kinh doanh đòi hỏi phải có những thông tin công khai, minh
b
ạch, công khai hóa sự ra đời và tồn tại của một doanh nghiệp.
3.4. Thông tin về các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh liên quan đến ngành
ngh
ề dự định đầu tư kinh doanh
Các ch
ủ thể gặp nhiều khó khăn khi muốn có một thông tin tổng quát về ngành
ngh
ề dự định đầu tư để có quyết định đầu tư vào địa bàn nào đó với bao nhiêu doanh
nghi
ệp đã tồn tại đang hoạt động, có bao nhiêu chi nhánh, quy mô hoạt động của các
doanh nghi
ệp đó thế nào để quyết định đầu tư. Đây cũng chính là một rào cản lớn để kêu
g
ọi đầu tư từ phía các nhà đầu tư vì họ khó có thể nắm bắt nhiều về địa bàn kinh doanh
c
ũng như mất nhiều thời gian cho công việc này và thông tin nhiều khi không được chính
xác. V
ề phía các cơ quan quản lý nhà nước cũng khó trong việc hoạch định các chính sách
cho các doanh nghi
ệp và cũng như triển khai áp dụng các cơ chế tài chính đối với các
doanh nghi


Thực trạng quản lý hệ thống được cấp giấy chứng nhận ĐKKD của các doanh
nghi
ệp trên địa bàn thành phố Huế vẫn còn rời rạc và chưa hệ thống về cả các loại hình
doanh nghi
ệp kinh doanh lẫn lĩnh vực kinh doanh. Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh trên
địa bàn được quản lý chỉ thông qua hệ thống hồ sơ đăng ký hay thông tin
trên m
ạng lưới máy tính nội bộ, với các dữ liệu thông tin được cung cấp dàn trải không
được mã hóa. Đây chính là lý do gây khó khăn cho công tác xác định vị trí địa lý, sự phân
b
ố không gian và truy cập tìm kiếm thông tin chung của từng doanh nghiệp, của cơ quan
qu
ản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp. Hơn thế nữa, trong tiến trình hội nhập quốc tế,
chúng ta c
ần phải xây dựng một hệ thống kiểm soát phát triển kinh tế và hệ thống quản lý
doanh nghi
ệp trên mọi phương diện để giúp cho các nhà quản lý có định hướng sát thực
trong xây d
ựng và quản lý hệ thống doanh nghiệp.
Trong th
ời gian qua, thực tế quản lý hoạt động ĐKKD ở trong phạm vi toàn
qu
ốc nói chung và địa bàn thành phố Huế nói riêng chỉ thực hiện với phương thức thủ
công,
độc lập giữa các cơ quan liên quan. Trong thời gian gần đây, Chính phủ triển khai
t
ổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính từ trung ương đến địa phương, trong đó có
c

ước đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin liên tỉnh và phương thức để tra cứu cũng
nh
ư cập nhật thông tin thuận tiện nhằm tạo điều kiện cho chủ thể đầu tư và là cơ sở cho
c
ơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý. Với việc ứng dụng công nghệ GIS (xây
d
ựng cơ sở dữ liệu bản đồ) vào hoạt động quản lý đạt tên cho doanh nghiệp sẽ giúp cho
nhà qu
ản lý biết được có sự trùng lắp hay không, thậm chí các doanh nghiệp có tên đó
nh
ưng đã tuyên bố giải thể rồi thì có thể dùng tên đó đặt tên cho các doanh nghiệp khác.
- Xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp giữa các tỉnh thành trong phạm vi
c
ả nước tạo điều kiện thuận tiện cho các doanh nghiệp trong quá trình mở rộng quy mô
ho
ạt động kinh doanh trên các địa bàn khác cũng như các nhà đầu tư có cái nhìn tổng
quan v
ề các hoạt động đầu tư kinh doanh, bảo vệ được thương hiệu, bảo hộ quyền về
tên doanh nghi
ệp trong quá trình hoạt động kinh doanh. Thông qua hệ thống quản lý
b
ằng GIS và hệ thống quản lý ĐKKD nối mạng giữa các tỉnh thành thì việc đặt trùng
tên c
ũng như trong cùng loại hình kinh doanh sẽ khắc phục một cách hiệu quả.
4.2. Quy
định về mã ngành nghề kinh doanh và mã số thuế
Để quản lý hiệu quả hoạt động kinh doanh và quản lý sau kinh doanh; cung cấp
các c
ơ sở dữ liệu cho các cơ quan cũng như công khai thông tin các cơ quan, các bộ
ngành

ạt động và cũng như thông báo các thông tin cần thiết cho cơ quan quản lý về sự ra
đời của các doanh nghiệp trên thực tế.
4.4. Quy định về quản lý sau đăng ký kinh doanh
C
ần có hệ thống thông tin cập nhật kịp thời về thay đổi vốn điều lệ, người đại
di
ện theo pháp luật của doanh nghiệp, trụ sở kinh doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện.
Pháp lu
ật quy định về vấn đề này nhưng thực tiễn thì chưa có biện pháp hữu hiệu để
th
ực hiện, chỉ thực hiện thông qua việc kiểm tra, thanh tra trực tiếp của các cơ quan có
th
ẩm quyền và báo cáo tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Với phương thức này
ch
ưa có giải pháp kịp thời đánh giá, nắm bắt tình hình để hỗ trợ cho các doanh nghiệp
c
ũng như triển khai các chính sách và dự án đầu tư. Mặt khác, công tác quản lý doanh
nghi
ệp sau ĐKKD trong thời gian qua hầu như chưa được quan tâm ở hầu hết các địa
bàn trên c
ả nước tạo nên một cơ chế thả nổi, tự bươn chải của các doanh nghiệp chứ
chưa có sự phối kết hợp cũng như biện pháp kích cầu cho các nhà đầu tư trong quá trình
kinh doanh.
4.5. V
ề công tác quản lý và tổ chức triển khai thực hiện
-
Điều chỉnh, hoàn thiện, bổ sung quy chế một cửa về ĐKKD được triển khai
đồng bộ và hiệu quả ở các cơ quan quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư
trong vi
ệc đăng ký kinh doanh và nắm bắt các cơ hội kinh doanh. Xây dựng quy chế

- Ti
ếp tục tạo điều kiện cho các hiệp hội ngành nghề hoạt động, tổ chức gặp gỡ
doanh nghi
ệp. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể nắm bắt được
thông tin trong ho
ạt động kinh doanh, xác định được vị thế kinh doanh của mình, đồng
th
ời thông qua hiệp hội các doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp mình khi
có hành vi vi ph
ạm hoặc hành vi cạnh tranh bất hợp pháp.
4.6. Về phía nhà đầu tư và doanh nghiệp
B
ản thân các nhà đầu tư phải tích cực trong việc phối hợp, cộng tác với các cơ
quan qu
ản lý trong việc cung cấp các thông tin của doanh nghiệp cũng như những biến
động và thay đổi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, để các nhà đầu tư
và các doanh nghi
ệp tiếp cận được các thông tin và các chính sách ưu đãi đầu tư, các cơ
quan nhà n
ước cần có những thông tin cập nhật cho các doanh nghiệp thông qua trang
tin hi
ệp hội doanh nghiệp hoặc bằng các hình thức tuyên truyền, hội thảo, gặp gỡ trực
ti
ếp và đối thoại với các doanh nghiệp thường xuyên hoặc khi có chính sách, kế hoạch
m
ới và có những thông tin để cập nhật mã hóa trên bản đồ thông tin dữ liệu về doanh
nghi
ệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. B K ho ch u t , Thông t liên t ch 03/2006/TT-BKH ngày 19/10/2006 - H ng

7. Chính Ph
, Ngh nh s 88/2006/N -CP ngày 29/8/2006 v KKD.
8. S K ho ch u t t nh Th a Thiên Hu , Báo cáo tinh hình ng ký kinh doanh t
2005-2008, 2008.
9. T
p th chuyên gia t i n h c và Lu t h c, T i n Lu t h c, NXB T i n bách khoa,
1999.
10. Vi
n khoa h c xã h i Vi t Nam, K y u h i ngh qu c t v chính sách i v i các n n
kinh t
chuy n i 2004. Hà N i, 2004.
11. Website:
12. Website: , Vietnamnet, ngày 22/9/2006, C
ch m t c a tr
cho
KKD.
13. Website:
, Vietnamnet, ngày 25/01/2008, Không có chuy n
ti
n nhi u tiêu khó. THE CURRENT SITUATION ON THE MANAGEMENT OF REGISTERING
BUSINESS IN HUE CITY AND THE SOLUTIONS AIMING AT IMPROVING
THE EFFECTS OF MANAGEMENT IN REGISTERING BUSINESS
Le Thi Thao
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
To register business and active manage the registering is one of the important issues in
administrative reform in the present stage in order to guarantee free trade and promote effects


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status