Thực trạng các mô hình rừng phòng hộ trên cát di động ở ven biển miền trung
Đặng Văn Thuyết
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Diện tích đất cát và cồn cát ven biển Việt Nam có khoảng 502.045 ha, chiếm 1.4%
diện tích tự nhiên toàn quốc (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1980), tạo
thành các dải đất cát chạy dọc theo bờ biển, phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng ven
biển miền Trung, bao gồm các đụn, cồn cát di động, cồn và bãi cát bán di động,
bãi cát cố định và bãi ẩm thấp. Đây là một vùng sinh thái khắc nghiệt, hiểm hoạ
cát di động uy hiếp mạnh mẽ các khu dân cư, ruộng vườn, đường sá và trở thành
khu vực rất xung yếu.
Phi lao đã được nhập nội, trồng rừng ở Việt Nam từ năm 1896 và tỏ ra là một loài
cây thích hợp nhất với vùng cát ven biển. Qua hơn một thế kỷ gây trồng rừng, tính
đến năm 1995 Việt Namđã trồng được 80.000 ha rừng phi lao (Midgley và cộng
sự). Nếu tính cả số lượng cây phi lao trồng phân tán trên đất thổ cư thì diện tích
rừng phi lao đã trồng ở Việt Namđến năm 1996 lên tới 120.000ha (Hà Chu Chử và
Lê Đình Khả, 1996). Hơn 10 năm gần đây các loài keo, bạch đàn, đào lộn hột,
cũng được trồng trên các lập địa thích hợp với quy mô nhỏ.
Về thành quả trồng rừng ở vùng cát, cơ bản đã thành công trên các đối tượng cát
bán di động và cố định. Bài viết này sơ bộ đánh giá kết quả các mô hình trồng
rừng trên cát di động ở Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận và Bình Thuận.
1. Mô hình rừng phi lao từ hạt
Trên các đụn cát cao, dốc, đang di động hầu hết chưa được trồng rừng. Một phần
nhỏ diện tích ở chân hoặc sườn đụn cát chỉ được trồng phi lao từ hơn 20 năm nay
nhưng tỷ lệ số cây còn tồn tại không đáng kể. Qua quá trình di động của đụn cát,
các cây phi lao bị vùi lấp và mọc thành các cụm phi lao gồm nhiều chồi trên cát
trắng. Rừng phi lao 21 tuổi trồng trên sườn đụn cát ở Ninh Thuận tồn tại các cụm
phi lao gồm 4-6 hoặc tới 10 chồi mọc cao 10-12m, D
1,3
chồi 6-8cm, với đường
kính tán của cả cụm 6-8m hoặc tới 10m, mật độ 300 cụm/ha nhưng vẫn bảo đảm
độ tàn che tới 50 % và tạo nên một lớp thảm khô, mục dày 2-5cm.
năng sinh trưởng gấp 2 lần. Nhìn chung tỷ lệ sống hiện tại đạt trên 80%. Đặc điểm
ưu việt là cây phát triển xanh tốt hơn so với phi lao trồng từ hạt, tán cây ở dạng
hình tháp, đỉnh vươn cao, không mọc loà xoà, cành phân thấp ngay sát mặt cát,
chịu được cát vùi lấp nên bước đầu thấy phi lao hom Trung Quốc có triển vọng
gây trồng trên cát còn di động hơn phi lao trồng bằng hạt thông thường.
3. Mô hình trồng thử nghiệm keo chịu hạn.
Ba loài keo chịu hạn A. torulosa, A. difficilis, A. tumida đã được trồng thử nghiệm
3 ha vào tháng 12 năm 1999 trên cồn cát trắng tương đối bằng ở Quảng Bình. Sau
9 tháng tuổi đường kính gốc đạt 1,5cm, chiều cao đạt 0,8m, mỗi cây có bình quân
4-5 nhánh. Cành lá xanh tốt tỏ ra tồn tại và phát triển được trên cồn cát trắng.
Điểm trồng thử nghiệm trên cồn cát vàng di động ở Bắc Bình - Bình Thuận năm
1998. Tỷ lệ cây sống đạt trên 90%, loài A. tumida đạt chiều cao bình quân 1,4m,
loài A. difficilis đạt chiều cao 2 - 2,5m. Điều đáng chú ý là keo chịu hạn có khả
năng chịu được cát vùi lấp (phần gốc, cành cây bị vùi lấp sâu 50 - 60cm). Keo chịu
hạn cũng được trồng mở rộng năm 1999 trên bãi cát trắng cố định ở Tuy Phong,
sau 1 năm tuổi cây đạt Do = 2 -3cm, H = 1,5m, D tán = 1,5m, cây phát triển xanh
tốt. Trong khi đó keo tai tượng được trồng trên dạng lập địa tương tự chỉ đạt Do =
1,5 -2cm, H = 0,8m, D tán = 1m, lá có màu úa vàng, chứng tỏ các loài keo chịu
hạn có triển vọng mọc trên bãi cát trắng tốt hơn keo tai tượng.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã trồng khảo nghiệm 8 xuất xứ của 3 loài
keo chịu hạn nói trên trên bãi cát trắng cố định ở Tuy Phong - Bình Thuận. Kết
quả đo đếm sau 2 năm thấy:
Loài A. tumida đạt D
1,3
="3,4-4cm" Hvn = 3m
D tán = 4-5m Hdc = 0,2m.
Loài A. difficilis đạt D
1,3
= 3-4cm Hvn = 4-5 m
D tán = 4-5m Hdc = 0 m
nghiệp Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
3. Lâm Công Định, 1977. Trồng rừng phi lao chống cát di động ven biển. Nxb
Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh.
Present conditions of protection forest models on shifting sand area
in coastal Central Viet Nam
Summary:The coastal sand area of Viet Namrepresents 1.4% of the natural area of
the whole country, mainly concentrates in the coastal Central Viet Nam. Main
successes of forest planting on sandy area have been achieved with fixed and
semi- fixed sand dunes. As regards shifting sand-dune, although trials of
protection forest against shifting sand have also been established but many
problems do remain, relating to trial plantings with Casuarina equisetifolia from
seed and from cuttings (produced by China) and with drought- resistant Acacia.
There must be research on filling planting holes with grasses and wasted plant
materials before planting, planting bushes in bands as wind - breaks, maintaining
soil moisture for the planted trees to survive dry season.