đào tạo
66
tạp chí luật học số
7/2010 Trơng Hồng Quang *
1. Nhng li ớch ca vic tham gia hot
ng nghiờn cu khoa hc i vi sinh viờn
Nhng hot ng nghiờn cu khoa hc
(nghiờn cu khoa hc) sinh viờn cú th k ra
nh: Cỏc dng bi tp tớn ch theo mụn hc,
cỏc din n lut hc, ni san, tp san, cỏc
cuc thi Olympic cỏc mụn hc, cỏc bui tho
lun chuyờn , hi tho, cỏc cõu lc b hc
thut,
(1)
cuc thi sinh viờn nghiờn cu khoa
hc hng nm do B giỏo dc v o to t
chc Cú th nờu ra ngn gn mt s li ớch
ca sinh viờn khi tham gia hot ng nghiờn
cu khoa hc núi chung v cuc thi sinh viờn
nghiờn cu khoa hc núi riờng nh sau:
Th nht, vic tham gia cỏc hot ng
nghiờn cu khoa hc giỳp sinh viờn cú ni
thoi mỏi trỡnh by ý kin cỏ nhõn ca mỡnh
(m ụi khi trờn lp khụng cú mụi trng
th hin) vi cỏc sinh viờn khỏc v cú th
hc hi, b sung ln nhau mt cỏch hiu qu.
Cỏc hot ng ny va mang li kin thc
chuyờn mụn va giỳp cho sinh viờn lut t
tin hn vi nhng k nng cn thit c rốn
luyn qua tng ngy.
Th ba, tham gia nghiờn cu khoa hc
c bit l cuc thi sinh viờn nghiờn cu khoa
hc hng nm s giỳp sinh viờn rốn luyn k
nng vit, phõn tớch, tng hp ti liu thụng
qua vic thc hin ti nghiờn cu. c bit
vi k nng vit - mt trong nhng im yu
ca sinh viờn núi chung v sinh viờn lut
hin nay thỡ hiu qu mang li t hot ng
nghiờn cu khoa hc l khụng th ph nhn.
Bt c k nng, kinh nghim no cng cn
c rốn luyn thng xuyờn v cú phng
phỏp nht nh cho nờn vic tham gia nghiờn
* Vin khoa hc phỏp lớ, B t phỏp đào tạo
tạp chí luật học số
7/2010
67
cu, vit liờn tc s giỳp cho sinh viờn nhn
tp tớn ch, cỏc cuc thi Olympic cỏc mụn
hc, cỏc bi bỏo khụng phi l nghiờn cu
khoa hc;
- Nghiờn cu khoa hc l hot ng ch
dnh cho nhng sinh viờn gii hay nhng
nh nghiờn cu nhng vin nghiờn cu,
trng i hc vi quy mụ ln;
- Khoa hc phỏp lớ l mt trong nhng
ngnh khoa hc xó hi, cng nh nhng
ngnh khoa hc xó hi-nhõn vn khỏc, kt
qu nghiờn cu trong khoa hc phỏp lớ cú th
c nhỡn nhn, ỏnh giỏ theo nhng quan
im khỏc nhau, nhiu lỳc trỏi ngc nhau
ti mi thi im c th. Ngoi ra, vic ng
dng kt qu nghiờn cu vo thc tin khụng
nh cỏc khoa hc t nhiờn, tc hiu qu
mang li khụng tc thỡ v rừ rng cho nờn
trong suy ngh ca a s sinh viờn l ch cú
cỏc ngnh t nhiờn mi l khoa hc, vỡ vy
phn ln sinh viờn khụng mn m vi vic
nghiờn cu trong lnh vc phỏp lớ.
(6)
Chớnh nhng nhn thc khụng ỳng n
trờn ó dn n tỡnh trng sinh viờn khụng
thc hin hot ng nghiờn cu khoa hc,
hay thc hin hot ng ny m khụng nhn
thc c. Thc t ó cho thy s lng sinh
viờn lut tham gia cuc thi sinh viờn nghiờn
cu khoa hc khỏ ớt so vi tng s sinh viờn
t¹p chÝ luËt häc sè
7/2010
triển hoặc tìm tòi nghiên cứu. Sự độc lập và
khả năng suy nghĩ, sáng tạo, niềm đam mê
nghiên cứu của sinh viên dần dần thay thế
bằng sự tiếp thu bị động.
(9)
2.2. Về cách thức tổ chức cuộc thi
Khác với hoạt động nghiên cứu khoa học
sinh viên nói chung là hoạt động thường
xuyên liên tục, xuyên suốt và gắn liền với
nhiệm vụ học tập của mỗi sinh viên, cuộc thi
sinh viên nghiên cứu khoa học mang tính
thời vụ (một năm tổ chức một lần) và dành
cho toàn bộ sinh viên hệ chính quy của
trường. Có thể nhận thấy quy trình đánh giá,
tuyển chọn công trình dự thi cấp bộ của các
trường đều đảm bảo tính công bằng, chính
xác. Hầu hết các công trình dự thi cấp bộ đều
đạt giải chính là minh chứng cho nhận xét
này.
(10)
Tuy nhiên, vấn đề tổ chức cuộc thi ở
các cơ sở đào tạo luật hiện nay còn có một
số điều bất cập như sau:
Thứ nhất, thời điểm phát động cuộc thi
chưa hợp lí: Thông thường, các trường phải
nộp các sản phẩm nghiên cứu khoa học của
các ngành khác, ngành luật có đặc thù cần sự
phản biện cao hơn nhiều, đặc biệt là trong
hoạt động nghiên cứu khoa học rất cần tư
duy phản biện xã hội. Nhìn chung, đối với
sinh viên luật, tư duy phản biện là yếu tố cần
thiết và cần được rèn luyện, do đó việc không
tổ chức hội nghị này đối với cuộc thi ở cấp
trường thực sự là thiếu sót lớn. Tất nhiên, để
tổ chức hội nghị nghiên cứu khoa học sinh
viên còn cần nhiều yếu tố khác như số lượng
công trình, số lượng sinh viên tham gia cuộc
thi năm đó, sự phù hợp về mặt thời gian…
nhưng cũng nên nhìn nhận rằng chính các yếu
tố này đã phản ánh mức độ tham gia nghiên
cứu khoa học sinh viên của trường và sự tổ
chức cuộc thi đạt chất lượng như thế nào.
Thứ ba, việc thông tin và tuyên truyền về
quá trình cũng như thể lệ cuộc thi còn chưa
đạt yêu cầu: Nhiều sinh viên không nắm rõ
quy trình và thể lệ cuộc thi dẫn đến thực hiện
sai quy định hình thức và xuất hiện những
hiểu lầm không đáng có. Điều này xuất phát
từ hai phía: công tác tuyên truyền của đội
ngũ cán bộ đoàn, hội chưa tốt, đôi lúc không
nhiệt tình và chưa có ý thức cao; nhiều sinh
viên chưa chủ động tiếp cận, cập nhật thông
tin về cuộc thi. ®µo t¹o
ở tầm vĩ mô quá cao (ví dụ: “Đánh giá hoạt
động xây dựng pháp luật của Việt Nam trong
hơn 20 năm đổi mới”); đề tài mang tính sang
trọng, lạ lẫm nhiều khi không có tính khả thi
(ví dụ: “Cải tổ Quy chế hoạt động của Hội
đồng bảo an Liên hợp quốc”); đề tài cũ về
cả nội dung và hình thức (ví dụ đề tài mang
tính chất lí luận cao đã được các nhà nghiên
cứu, chuyên gia đào sâu, viết quá nhiều)
hoặc không phù hợp với ngành luật;
(12)
thiếu
chủ động trong việc chọn lựa đề tài nên tình
trạng trùng đề tài, trùng nội dung nghiên cứu
cũng như góc độ tiếp cận không phải là hiếm.
Định hướng đề tài nghiên cứu là công
việc của các khoa, bộ môn. Danh mục đề tài
được xây dựng không phải là ít nhưng nhiều
khi chưa hấp dẫn đối với sinh viên, chưa có
nhiều đề tài thực tiễn đang đòi hỏi hay mang
tính lí luận cao Nhiều giảng viên chưa chủ
động trong việc ra đề tài, đôi khi không mặn
mà với nghiên cứu khoa học của sinh viên
nên ra đề qua loa, đại khái. Sinh viên không
bắt buộc phải lựa chọn trong danh mục này
nhưng nó cũng ảnh hưởng khá nhiều đến việc
chọn đề tài của sinh viên bởi tâm lí đa số sinh
viên luôn muốn chọn những đề tài sẵn có,
không phải suy nghĩ, tìm tòi những đề khác.
Thứ hai, về tìm, phân loại, tổng hợp và
tạp chí luật học số
7/2010
chc c nhng khoỏ hc ngn hay nhng
bui tp hun k nng ny. Bờn cnh ú, bn
thõn mt s sinh viờn cng cha tớch cc tỡm
hiu qua nhiu kờnh thụng tin khỏc nhau
cú th hc hi nhng k nng ny v ụi khi,
cho rng nú khụng cn thit hay khụng nhn
thc c tm quan trng ca nú.
- Vic tỡm kim ti liu ụi khi quỏ thiu
chiu rng (tỡm kim t quỏ ớt ngun, vớ d
ch tỡm ti th vin m khụng tỡm ngun
khỏc) hay quỏ thiu chiu sõu (khai thỏc quỏ
ớt ti liu t mt ngun, vớ d nh th vin
m ch tỡm cỏc khoỏ lun, lun vn, lun ỏn
m khụng tỡm cỏc bi vit khoa hc trờn
cỏc tp chớ, sỏch chuyờn ngnh). Trong
khi ú, ti liu trong nghiờn cu phỏp lớ khỏ
quan trng, nht l nhng vn cũn ang
gõy tranh cói thỡ cng cn nhng ti liu
khỏc nhau núi v nhng quan im khỏc
nhau cú th ỏnh giỏ ton din.
- a s sinh viờn tỡm ti liu trc ri mi
lm cng cho ti. iu ny ó dn n
vic bi thc ti liu, nhiu ti liu khụng
liờn quan hay ch liờn quan ớt n vn
nghiờn cu nờn thi gian tỡm ti liu vụ hỡnh
trung ó b kộo di hn so vi cỏch thc lm
cng trc, khoanh vựng vn quan
quan nim ca nhng ngi cm cõn ny
mc hay nhng ngi hng dn luụn
cao mụ hỡnh 3 chng nh trờn.
- Nhiu sinh viờn cha cú phng phỏp
nghiờn cu ỳng n, phự hp nờn cú trng
hp khụng cõn i c thi gian nghiờn
cu v thi gian hc tp, khụng nm c cỏc
vn c bn ca cỏc phng phỏp nghiờn
cu ngnh khoa hc xó hi. ụi khi sinh viờn
lm dng s dng nhng thut ng nh
phng phỏp ch ngha duy vt bin chng,
duy vt lch s m ụi lỳc khụng hiu c
khỏi nim, ni dung ca nhng phng phỏp
ú l gỡ. iu ny xut phỏt mt phn t s
xem nh vic hc tp cỏc phng phỏp
nghiờn cu ca sinh viờn, cho rng ch cn
chn ti ri tin hnh m khụng my quan
tõm n cỏc kin thc nn tng.
- Trong phn thc trng ca nhiu ti
sinh viờn lit kờ cỏc thụng tin, s liu, v ®µo t¹o
t¹p chÝ luËt häc sè
7/2010
71
việc cụ thể nhưng không có phân tích và
nhận định của tác giả; phần giải pháp hoàn
như tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm
2009 đã phát hành Cẩm nang sinh viên
nghiên cứu khoa học miễn phí cho sinh viên
của Trường với nhiều nội dung phong phú,
đa dạng, góp phần định hướng phương pháp
nghiên cứu cho sinh viên. Tuy nhiên, hiện
nay tại các cơ sở đào tạo luật, kinh phí cho
nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên
cứu khoa học sinh viên nói riêng còn ít, thậm
chí có trường còn không có hỗ trợ kinh phí
cho sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu
khoa học. Bên cạnh đó, mức thưởng cho các
công trình đoạt giải còn chưa xứng tầm và
chưa thu hút sinh viên (thậm chí có trường
mức thưởng cho các giảng viên hướng dẫn
sinh viên đạt các giải cấp bộ khác nhau là
như nhau). Có lẽ nguyên nhân lớn nhất của
tình trạng này là do sự nhận thức chưa đúng
đắn, đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của
nghiên cứu khoa học sinh viên. Nhiều đơn vị
chỉ hô hào, cổ động nhưng lại chưa có những
hình thức cụ thể để hỗ trợ sinh viên và căn
bệnh hình thức lẫn thành tích vẫn còn tồn tại.
Một điều bất cập khác là địa điểm thu
thập tư liệu nghiên cứu như thư viện… lại
chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên
học tập và thực hiện đề tài. Tất nhiên, việc
tìm kiếm tài liệu là do bản thân sinh viên chủ
động nhưng cũng cần có những hỗ trợ tối
thiểu từ phía nhà trường để tạo cơ sở cho sinh
nhau nhưng đều có mục tiêu chung là khám
phá khoa học, phục vụ cho việc nghiên cứu,
ứng dụng trong thực tế tốt hơn. Từ trước đến
nay, có điều dễ nhận thấy là tình trạng “đắp
chiếu” công trình sau nghiên cứu, công bố
không phải là chuyện hiếm. Đối với cuộc thi
sinh viên nghiên cứu khoa học, thông thường
mỗi sinh viên được chọn dự thi cấp bộ phải
nộp 2 bản công trình của mình cho Bộ giáo
dục và đào tạo. Thực tế, sau khi chấm, các
công trình này đi đâu về đâu là câu hỏi chưa
có lời đáp, có lẽ nó chỉ dùng để chấm, rồi
trao giải là xong. Còn ở trường, phòng quản
lí khoa học cũng giữ một bản công trình của
sinh viên đoạt giải cấp bộ nhưng hầu như rất
ít trường đưa lên thư viện cho các sinh viên
khác tham khảo. Bên cạnh đó, như đã nêu ở
phần trên, đề tài nghiên cứu khoa học ngành
pháp lí có đặc điểm kết quả áp dụng trong
thực tế không thể hiện ngay tức thì (ví dụ
như việc đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp
luật không thể được áp dụng ngay vì còn phụ
thuộc vào quy trình xây dựng, sửa đổi pháp
luật của Quốc hội, quan điểm của các nhà
làm luật). Cho nên chính tình trạng không
quan tâm đến hiệu quả sử dụng (chí ít về mặt
phục vụ việc học tập, nghiên cứu) cũng như
thiếu tính chủ động trong việc công bố, đưa
các kết quả nghiên cứu vào áp dụng cũng vô
hình trung tạo ra quan điểm cho rằng đề tài
sân chơi chung trí tuệ cho chính bản thân
mình thì sẽ chủ động, tích cực tham gia một
cách nghiêm túc.
Thứ hai, tổ chức cuộc thi sinh viên nghiên
cứu khoa học chuyên nghiệp và quy mô hơn:
Cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học
cấp trường hàng năm nên được tổ chức vào
thời gian hợp lí hơn cho sinh viên (tất nhiên
phải phù hợp với lịch trình cuộc thi của Bộ
giáo dục và đào tạo). Mô hình thời gian tốt
nhất là phát động vào cuối tháng 9 hàng năm
và nhận công trình nghiên cứu khoa học của
sinh viên vào đầu tháng 8 năm sau để chọn
lựa tham dự cuộc thi cấp bộ của năm đó vào đào tạo
tạp chí luật học số
7/2010
73
u thỏng 9. Tt nhiờn, trỏnh b ng v
cú th phõn b thi gian hp lớ, sinh viờn
cng nờn ch ng tin hnh thc hin
ti, khụng nờn ch n khi trng phỏt ng
mi bt u.
(16)
Bờn cnh ú, nht thit phi
cú hi ngh nghiờn cu khoa hc sinh viờn
ph bin chi tit n tng chi on trong
trng. thc hin tt mc ớch ny, i
ng cỏn b on, Hi cn c tp hun k
nng tuyờn truyn v tinh thn trỏch nhim
cao hn na bi õy l lc lng quan trng
trong vic nõng cao thụng tin cuc thi n
cỏc sinh viờn khỏc. y mnh hot ng
nghiờn cu khoa hc phi l nhim v ca
mi thnh phn on th, trong ú on
thanh niờn v hi sinh viờn l nhng ht
nhõn ch o. Tuy nhiờn, ngc li, sinh
viờn cng nờn ch ng tip cn, tỡm hiu
thụng tin v cuc thi cng nh quy trỡnh
thc hin mt cỏch tt nht. Nu thụng tin
tt, u tiờn, chỳng ta s cú c nhng
cụng trỡnh ỏp ng c v mt hỡnh thc -
vn l iu quan trng trong mt cuc thi cú
tớnh ganh ua cao.
Th ba, gii phỏp thu hỳt sinh viờn tham
gia cuc thi sinh viờn nghiờn cu khoa hc:
Ngnh lut v bn cht l ngnh khú, s
ũi hi chớnh xỏc cao trong ngnh khoa hc
ny ó khin cho s lng sinh viờn tham
gia nghiờn cu khoa hc khỏ khiờm tn. Tuy
nhiờn, cú nhng lớ do ch quan khỏc cng
gúp phn dn n thc trng trờn, ú l:
Kinh phớ cho hot ng nghiờn cu khoa hc
núi chung v nghiờn cu khoa hc sinh viờn
núi riờng cũn ớt nh ó phõn tớch trờn.
Thit ngh, cú th i mi theo hỡnh thc h
khoa hc sinh viờn mi cú th s dng
nhng bin phỏp ny thc s cú hiu qu.
Th t, phỏt huy cỏc yu t gúp phn
nõng cao cht lng ti nghiờn cu khoa
hc sinh viờn.
T liu v ging viờn hng dn l hai
trong s nhng yu t quan trng quyt nh
n cht lng ca ti nghiờn cu khoa
hc sinh viờn. i vi vn t liu, th
vin l mt trong nhng ni m sinh viờn
thng ngh n u tiờn cho quỏ trỡnh
nghiờn cu khoa hc ca mỡnh. Do ú, cn
cú nhng s i mi, cp nht nhng ti liu
mi (c bit ti liu ting nc ngoi, ting
Anh chuyờn ngnh lut), phong phỳ hn na
ỏp ng nhu cu ca sinh viờn. Tớnh ,
a dng, hu ớch ca th vin l nhng yờu
cu cn cú cho mt nghiờn cu tt. i vi
vn ging viờn hng dn, khụng th ph
nhn rng hn 95% ni dung ca nghiờn cu
khoa hc l lao ng ca sinh viờn song
khụng th xem thng 5% cũn li, bi thiu
nú thỡ mt nghiờn cu khoa hc khụng th
thnh cụng v i ỳng hng.
(19)
Thit ngh,
hng nm nờn t chc nhng bui to m
v cỏch thc, phng phỏp, cụng vic ca
ging viờn hng dn bờn cnh nhng bui
to m v phng phỏp ging dy; quy nh
vi sinh viờn v tt nhiờn i kốm vi nú, tỏc
gi cng phi cú cỏch vit hp lớ, ỳng n
v trỏnh tỡnh trng phn quỏ di, phn quỏ
ngn); khụng nờn a ra cỏc yờu cu cao v
lớ lun m nờn tp trung nghiờn cu thc
trng phõn tớch, lớ gii c thc trng ch ra
c cỏc vng mc, bt cp trong vic thc
hin, tuõn th phỏp lut; hiu ỳng n v
tớnh thc tin ca ti nghiờn cu khoa hc
trong lnh vc phỏp lớ (khụng th cú kt qu
ỏp dng thc tin ngay tc thỡ nh cỏc ngnh
khoa hc t nhiờn-k thut). Nhng quan
nim ny hin nay cú l s khú thay i đào tạo
tạp chí luật học số
7/2010
75
nhng thit ngh cng nờn a ra õy bn
bc, ỏnh giỏ v ỏp dng dn dn.
Th sỏu, a dng hoỏ cỏc hỡnh thc b
tr nghiờn cu khoa hc sinh viờn:
Cỏc hỡnh thc b tr nghiờn cu khoa
hc sinh viờn õy cng cú th hiu l cỏc
hỡnh thc nghiờn cu khoa hc sinh viờn t
nn tng cho sinh viờn tham gia cuc thi sinh
viờn nghiờn cu khoa hc. Phũng qun lớ
chỳng ta cú th khng nh rng cuc thi
sinh viờn nghiờn cu khoa hc l sõn chi trớ
tu y b ớch v lớ thỳ cho cỏc c nhõn lut
tng lai rốn luyn mt s k nng cn thit
cho ngh nghip sau ny; cn cú nhng gii
phỏp mnh dn hn na thỳc y hot
ng nghiờn cu khoa hc núi chung v
cuc thi sinh viờn nghiờn cu khoa hc.
Khoa hc l sỏng to v khụng cú cụng thc
chung hoc phng phỏp chun mc no
cho hot ng nghiờn cu khoa hc.
(23)
Tuy
nhiờn, chun b cho sinh viờn mt nhỡn nhn
s khai ban u v nghiờn cu khoa hc
ng thi khi ngun am mờ nghiờn cu
cho sinh viờn l iu cn thit. Cuc thi sinh
viờn nghiờn cu khoa hc ó gúp phn ln
trong mc tiờu nhn thc cho sinh viờn núi
chung v sinh viờn lut núi riờng. Hi vng s
cú nhiu trao i hn v vn ny thc
hin c nhng mc ớch ca nghiờn cu
khoa hc sinh viờn./.
(1). Vớ d nh Cõu lc b lut gia tr (Hi sinh viờn
Trng i hc Lut H Ni, Khoa Lut - i hc
quc gia H Ni), Cõu lc b khoa hc phỏp lớ (Hi
sinh viờn Trng i hc Lut TP. H Chớ Minh).
(2). Cỏc cuc thi Olympic cỏc mụn Mỏc-Lờnin, t
tng H Chớ Minh, t phỏp quc t, lut hỡnh s v
(7). Tuy nhiên, đến những năm gần đây (2007 -
2009), số lượng đề tài tham gia hàng năm chỉ ở mức
30 - 35 đề tài.
(10). Ví dụ như Trường Đại học Luật Hà Nội qua 9
năm tham gia cuộc thi cấp bộ (2001 - 2008) với 56
công trình thì có 53 công trình đạt giải.
(11). Số lượng công trình mỗi trường tham dự do Bộ
giáo dục và đào tạo phân bổ dựa trên tổng số sinh
viên của trường. Ví dụ như ở Trường Đại học Luật
Hà Nội, từ năm 2006 trở về trước được phép gửi 6
công trình, từ năm 2007 được phép gửi 8 công trình,
đến năm 2009 được gửi 6 công trình.
(12). Trong cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học
năm 2008 của Trường Đại học Luật Hà Nội đã có 1
sinh viên thực hiện đề tài thuộc môn đại cương văn
hoá Việt Nam.
(13). Xem: TS. Lê Nết, Hướng dẫn phương pháp nghiên
cứu khoa học cho sinh viên, nguồn: .
(15). Thậm chí, ở một số trường, có sinh viên từ lúc làm
công trình đến khi đoạt giải cấp bộ chưa một lần được
gặp giáo viên hướng dẫn, mọi trao đổi nếu có cũng chỉ
qua hình thức gián tiếp (như email…) còn không thì chỉ
lấy tên người hướng dẫn nhưng thực sự không có “sự
hướng dẫn” trong quá trình nghiên cứu khoa học.
(16). Điều này sẽ hữu ích đối với những cơ sở đào tạo
có thời điểm phát động cuộc thi và nhận đề tài của
Sinh viên quá gần nhau.
(17). Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là một
trong những cơ sở đào tạo luật thực hiện thường
xuyên mô hình hội nghị này.