BÁO CÁO THỰC TẬP
Đ ti:
“ Hon thiện nghiệp vụ tư vấn xác định giá trị
doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân
hng công thương Việt Nam
MỤC LỤC
B O C O TH C T PÁ Á Ự Ậ 1
t i:Đê a 1
Ho n thi n nghi p v t v n xác nh giá tr doanh nghi p t i công ty “ a ệ ệ ụ ư ấ đị ị ệ ạ
ch ng khoán Ngân h ng công th ng Vi t Namứ a ươ ệ 1
M C L CỤ Ụ 2
L I NÓI UỜ ĐẦ 3
Sinh viên th c hi nự ệ 5
Tr n Th Thu H ngầ ị ỳ ươ 5
CH NG 1:ƯƠ 7
T NG QUAN V HO T NG T V N X C NH GI TR DOANH Ổ Ề Ạ ĐỘ Ư Ấ Á ĐỊ Á Ị
NGHI P C A C C CÔNG TY CH NG KHO NỆ Ủ Á Ứ Á 7
CH NG 2:ƯƠ 30
TH C TR NG C A HO T NG X C NH GI TR DOANH NGHI P T I Ự Ạ Ủ Ạ ĐỘ Á ĐỊ Á Ị Ệ Ạ
CÔNG TY CH NG KHO N NG N H NG CÔNG TH NG VI T NAMỨ Á Â À ƯƠ Ệ . .30
CH NG III: GI I PH P PH T TRI N HO T NG T V N X C NH ƯƠ Ả Á ĐỂ Á Ể Ạ ĐỘ Ư Ấ Á ĐỊ
GI TR DOANH NGHI P T I CÔNG TY CH NG KHO N NG N H NG Á Ị Ệ Ạ Ứ Á Â À
CÔNG TH NG VI T NAMƯƠ Ệ 67
K T LU NẾ Ậ 79
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, để các
doanh nghiệp có thể hoạt động có hiệu quả thì việc cổ phần hoá (CPH)
doanh nghiệp là cần thiết. Năm 2006 là một năm đánh dấu bước phát triển
của Thị trường chứng khoán ( TTCK) Việt Nam, TTCK đã đi vào hoạt đời
sống người dân từng ngày từng giờ qua các phương tiện thông tin đại
chúng như: báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, internet Sự phát triển
nghiên cứu sâu hơn những kiến thức đã học đồng thời góp phần đưa ra
những giải pháp khắc phục những khó khăn để giúp cho việc định giá
doanh nghiệp được chính xác hơn.
1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
• Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu nghiệp vụ tư vấn xác định
giá trị doanh nghiệp
• Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nghiệp vụ xác định giá trị
doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng công thương Việt Nam
2.Mục đích nghiên cứu:
• Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và sự cần thiết phải hoàn
thiện nghiệp vụ tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp.
• Phân tích và đánh giá thực trạng của quá trình xác định giá
trị doanh nghiệp, tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình định
giá doanh nghiệp.
• Xác định phương hướng của nghiệp vụ tư vấn xác định giá
trị doanh nghiệp của công ty chứng khoán Ngân hàng công thương Việt
Nam.
• Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện nghiệp vụ xác định giá
trị doanh nghiệp của công ty chứng khoán Ngân hàng công thương Việt
Nam.
3.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp
phân tích tổng hợp; phương pháp thống kê kinh tế; phương pháp điều tra
chọn mẫu; phương pháp so sánh và một số phương pháp khác: Đọc tài liệu
lưu trữ, phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý
4.Kết cấu của đề tài:
Chuyên đề tốt nghiệp ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ xác định giá trị doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp
chứng khoán là tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ.
Chúng ta có thể khái niệm công ty chứng khoán như sau: Công ty chứng
khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện nghiệp vụ trên thị
trường chứng khoán.
Ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10
năm 1998 của UBCKNN, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng
khoán nhà nước cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh
doanh chứng khoán.
Do đặc điểm một công ty chứng khoán có thể kinh doanh trên một lĩnh
vực, loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định do đó hiện nay, có quan
điểm phân chia công ty chứng khoán thành các loại như sau: công ty môi
giới chứng khoán, công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty trái
phiếu, công ty chứng khoán không tập trung.
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán, đó
là: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán
hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mang
tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức:
- Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và
công bằng vì lợi ích của khách hành
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh
của công ty
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các
thông tin về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý
bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.
- Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung
cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà
Cần có những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho họ. Đó là các
công ty chứng khoán, với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp
và bộ máy tổ chức thích hợp, thực hiện vai trò môi giới mua bán, phát hành
chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số hoạt động khác cho cả
người đầu tư và người phát hành.
Các công ty chứng khoán là các tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát
triển nói chung của nền kinh tế và của thị trường chứng khoán nói riêng.
Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông buôn
bán tấp nập trên thị trường chứng khoán, qua đó một lượng vốn khổng lồ
được đua vào đầu tư trực tiếp từ việc tập hợp những nguồn vốn nhỏ lẻ
trong công chúng.
Công ty chứng khoán có những vai trò khác nhau đối với những chủ
thể khác nhau trên thị trường chứng khoán.
• Đối với các chủ thể phát hành
Mục tiêu khi tham gia vào thị trường của các chủ thể phát hành là
huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông
qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán
có vai trò tạo cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
• Đối với các nhà đầu tư
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh
mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian
giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá
thông thường mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và
người bán. Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động
thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm
cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu
thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các công ty chứng
khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà
đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách có hiệu quả.
• Đối với thị trường chứng khoán: Đối với thị trường chứng
đó. Các công ty chứng khoán thực hiện được tốt vai trò này bởi vì họ là
người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua
bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong
những yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được
công khai hoá dưói sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường. Việc
cung cấp thông tin vừa là quy định của luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề
nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh
bạch và công khai trong hoạt động. Nhờ các thông tin này, các cơ quan
quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng
đoạn bóp méo thị trường.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị
trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu
tư, các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị
trường chứng khoán nói chung.
1.1.3. Các hoạt động của công ty chứng khoán
• Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hay đại diện mua bán
cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó công ty chứng khoán sẽ đại
diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại
SGDCK hoặc thị trường OCT mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm
đối với kết quả giao dịch của mình. Thông qua hoạt động môi giới, công ty
chứng khoán sẽ chuyển tới khách hàng của mình các sản phẩm, dịch vụ tư
vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư mua
chứng khoán. Và trong những trường hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ
trở thành người bạn, chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời
động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định
tỉnh táo. Xuất phát từ yêu cầu trên, nghề môi giới đòi hỏi phải có những tư
cách phẩm chất, tư cách đạo đức, kĩ năng mẫn cán trong công việc và với
thấi độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Nhà
môi giới không được xúi dục khách hàng mua, bán chứng khoán để kiếm
khoản thu phí về dịch vụ tư vấn (bất kể tư vấn có thành công hay không).
• Hoạt động bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công
chúng, đòi hỏi các tổ chức phát hành phải cần đến những công ty chứng
khoán tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng
khoán ra công chúng. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các
công ty chứng khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong
tổng doanh thu của công ty chứng khoán.
Như vậy nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán
có chức năng bảo lãnh (gọi tắt là tổ chức bảo lãnh –TCBL) giúp các tổ
chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ
chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong
giai đoạn đầu sau khi phát hành.
• Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Đây là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào
chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng
trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Quản lý danh
mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ mang tính chất tổng hợp có kèm theo
đầu tư, khách hàng uỷ thác tiền cho công ty chứng khoán thay mặt mình
quyết định đầu tư theo một chiến lược mang những nguyên tắc đã được
khách hàng chấp nhận hoặc yêu cầu
Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát
thông qua các bước sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Nhận
yêu
cầu
quản
lý
Ký
giữa công ty và khách hàng theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ
thác, mục tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh
mục đầu tư mà công ty được hưởng.
- Thực hiện hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán thực hiện đầu
tư vốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải
đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách
hàng và chính công ty.
- Kết thúc hợp đồng quản lý: Khi đến hạn hợp đồng hay trong một số
trường hợp công ty giải thể, phá sản, ngừng hoạt động công ty phải cùng
với khách hàng bàn bạc và quyết định xem có tiếp tục gia hạn hay thanh lý
hợp đồng không. Trong trường hợp công ty chứng khoán phá sản, tài sản
uỷ thác của khách hàng phải được tách riêng và không được dùng để trả
các nghĩa vụ nợ của công ty chứng khoán.
• Các hoạt động phụ trợ khác:
- Hoạt động tín dụng
- Nghiệp vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty
- Nghiệp vụ quản lý thu nhập chứng khoán (quản lý cổ tức)
1.2. HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Các khái niệm
• Hoạt động tư vấn là hoạt động đưa ra những lời khuyên,
phân tích các tình huống hay thực hiện một số công việc có tính chất dịch
vụ cho khách hàng.
• Giá trị:
Trong phân tích công ty thì nhà đầu tư đặc biệt chú ý đến việc đánh giá
giá trị tài sản của doanh nghiệp. Thuật ngữ giá trị thường được hiểu theo
nhiều khía cạnh khác nhau:
- Giá trị sổ sách: là giá trị của một tài sản được ghi trong bảng cân đối
kế toán của doanh nghiệp. Nó biểu hiện các chi phí trước đó của tài sản hơn
tại thời điểm xỏc định.
• Đảm bảo hài hoà giữa lợi ớch của Nhà nước, doanh nghiệp,
cỏc nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp (những người mua cổ
phần.
• Tụn trọng nguyờn tắc thị trường, phải gắn với tỡnh hỡnh
thực tế của thị trường chứng khoỏn và thị trường vốn.
Trong cỏc yờu cầu núi trờn thỡ yờu cầu đảm bảo tớnh đỳng, tớnh đủ giỏ
trị của doanh nghiệp là yờu cầu khú thực hiện nhất. Muốn vậy cần xỏc
định:
- Giỏ trị thực tế của doanh nghiệp được cổ phần CPH
- Giỏ trị thực tế vốn nhà nước tại doanh nghiệp được CPH
- Giỏ trị quyền sử dụng đất (với doanh nghiệp lựa chọn hỡnh thức giao
đất).
- Lợi thế thương mại (lợi thế kinh doanh).
1.2.3.Cỏc phương phỏp xỏc định giỏ trị doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường hiện nay
1.2.3.1. Phương phỏp giỏ trị tài sản thuần
Phương phỏp định giỏ doanh nghiệp theo giỏ trị tài sản thuần cho rằng,
doanh nghiệp cũng giống như một hàng hoỏ thụng thường, giỏ trị của một
doanh nghiệp được tớnh bằng tổng giỏ trị thị trường của số tài sản mà
doanh nghiệp đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh (SXKD).
• Phương phỏp xỏc định:
Tổng giỏ trị của tài sản trong doanh nghiệp được hỡnh thành từ nhiều
nguồn khỏc nhau, cú thể là của chủ doanh nghiệp, của trỏi chủ, người cho
doanh nghiệp vay vốn, tiền lương chưa đến kỳ hạn trả, thuế chưa đến kỳ
hạn nộp, cỏc khoản ứng trước của khỏch hàng Chớnh vỡ vậy để xỏc định
chớnh xỏc giỏ trị của doanh nghiệp, ta phải xỏc định giỏ trị tài sản thuần,
nghĩa là, chủ sở hữu khi tiến hành bỏn doanh nghiệp chỉ cú thể tiến hành
bỏn những tài sản doanh nghiệp đang quản lý sử dụng mà thụi.
• Cụng thức xỏc đỡnh giỏ trị doanh nghiệp theo phương phỏp:
lớn cỏc khoản thu nhập mà doanh nghiệp cú thể mang lại cho cỏc nhà đầu
tư trong tương lai. Tuy nhiờn, giỏ trị của tiền ở cỏc thời điểm khỏc nhau sẽ
khụng giống nhau, cho nờn cần thực hiện quy đổi cỏc khoản thu nhập về
cựng một thời điểm, đú là thời điểm hiện tại.
• Cụng thức tổng quỏt:
Trong đú:
V
0
: Giỏ trị doanh nghiệp
F
t
: Thu nhập đem lại cho nhà đầu tư năm thứ t
i : Tỷ suất chiết khấu
n : Thời gian đỏo hạn
Xuất phỏt từ cụng thức tổng quỏt mà cỏc nhà đầu tư, tuỳ theo cỏch
nhỡn nhận về lợi ớch doanh nghiệp cú thể đem lại cho mỡnh, vận dụng và
phỏt triển cụng thức định giỏ doanh nghiệp dưới nhiều hỡnh thức khỏc
nhau.
Phương phỏp định giỏ chứng khoỏn
Giỏ trị thực của một chứng khoỏn được đỏnh giỏ bằng độ lớn của
cỏc khoản thu nhập mà nhà đầu tư chắc chắn sẽ nhận được do yếu tố đầu
tư chứng khoán. Vì vậy, giá cả của chứng khoán sẽ do giá trị của doanh
nghiệp quyết định. Theo đó,giá trị của DN sẽ bằng tổng giá trị các loại
chứng khoán mà DN dã phát hành.
• Phương pháp xác định
Trong đó:
PV
0
: Giá trị thực của một chứng khoán
R
dụng để bù đắp các khoản chi phí phát sinh, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
cho ngân sách nhà nước. Phần còn lại chính là lợi nhuận thuộc về DN. Giá
trị một DN, theo đó, sẽ được đo bằng độ lớn của các khoản lợi nhuận thuần
mà DN có thể mang lại cho chủ sở hữu trong suốt thời gian tồn tại của DN.
• Phương pháp xác định:
Để đảm bảo cho sự nhất quán trong việc đánh giá các khoản lợi
nhuận thuần phát sinh ở các thời điểm khác nhau trong tương lai, người ta
thực hiện việc quy đổi chúng về thời điểm hiện tại theo một lãi suất nhất
định, còn gọi là lãi suất triết khấu hay tỷ suất hiện tại hoá.
Công thức:
Trong đó:
V
0
: Giá trị DN
Pr
t
: Lợi nhuận năm thứ t
• ưu điểm
Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần được xây dựng phù hợp
với các DN không có nhiều tài sản để khấu hao, khả năng tích luỹ vốn từ
khấu hao và lợi nhuận để lại không đáng kể, phần lớn lợi nhuận sau thuế
đều được trả cho các nhà đầu tư.
Việc định lượng lợi nhuận trong tương lai bao giờ cũng dễ dàng hơn
vì người ta không cần tính đến sự chi phối của chính sách, định hướng
phân chia lợi tức cổ phần trong DN.
• Nhược điểm
Việc điều chỉnh số liệu trong quá khứ để rút ra tính quy luật của lợi
nhuận trong tương lai không phù hợp với tình hình chiến lược về DN. Đặc
biệt là đối với những DN mới thành lập chưa có quá khứ để xem xét, còn
đối với DN đã “trưởng thành” thì lợi nhuận đạt được hàng năm là tương đối
này đòi hỏi người đánh giá phải có năng lự chuyên môn trong việc thảm
định dự án đầu tư.
Phương pháp này đòi hỏi một lượng thông tin lớn, đáng tin cậy để
đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến DN.
1.2.3.3. Phương pháp định lượng Goodwill (GW –lợi thế thương
mại)
Phương pháp này đưa ra nhằm định giá DN trên cơ sở xác định giá
trị tài sản vô hình. Để hiểu rõ phương pháp này, chúng ta xuất phát từ một
số vấn đề lý thuyết cơ bản về tài sản vô hình:
Giá trị của tài sản vô hình trong một DN được tính bằng giá trị hiện
tại của các khoản thu nhập do tài sản vô hình tạo ra hay nói cách khác
chính là giá trị hiện tại của các khoản siêu lợi nhuận.
- Phương pháp xác định:
GW: Giá trị tài sản vô hình, còn gọi là lợi thế thương mại.
B
t
: Lợi nhuận năm t:
)1( nt −=
r : Tỉ suất lợi nhuận thông thường của tài sản đưa vào kinh doanh.
r.A
t
: Lợi nhuận bình thường của tài sản năm t
Khi đó: V
0
=ACN+ GW
V
0
: Giá trị DN
ACN: Giá trị tài sản thuần
• Ưu điểm
t
, A
t
, r
xuất phát từ quan niệm về chi phí cơ hội của các nhà đầu tư là khác nhau.
Phương pháp này không cung cấp được những cơ sở dữ liệu khác để
nhà đầu tư đánh giá triển vọng của DN trong tương lai.
Trên đây là các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên thị
trường chứng khoán của các nước trên thế giới. Còn trên thị trường Việt
Nam sẽ sử dụng những phương pháp định giá doanh nghiệp nào trong phần
tiếp theo của chuyên đề sẽ đề cập tới.
1.2.4. Những khó khăn đối với một công ty chứng khoán khi
thực hiện hoạt động tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp
Công ty chứng khoán có rất nhiều khó khăn trong hoạt động tư vấn
xác định giá trị doanh nghiệp:
Trước hết là cơ chế tài chính cho việc thực hiện chuyển đổi doanh
nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần chậm được sơ kết, đánh giá, sửa đổi,
bổ sung kịp thời. Công tác xử lý nợ và tài sản tồn đọng còn mang tính hành
chính, thủ tục rườm rà, qua nhiều khâu, nhiều cấp mất thời gian.
Các quy định và các văn pháp luật của chúng ta cũng chưa thực sự
được hoàn thiện, chậm sửa đổi bổ sung, các văn bản pháp luật lại không
được thống nhất. Chính vì vậy việc áp dụng những văn bản này đối với
những công ty chứng khoán cũng gây những khó khăn.
Về phương pháp, cũng có những khó khăn bất cập. Các công ty
chứng khoán ở nước ta chủ yếu xác định giá trị doanh nghiệp theo phương
pháp tài sản còn những phương pháp khác thì hầu như không được áp
dụng, việc này đã làm cho công ty chứng khoán không tận dụng được
những ưu điểm của những phương pháp còn lại, đồng thời không phải bất
cứ doanh nghiệp nào cũng thích hợp với việc định giá theo phương pháp tài
sản.
kinh doanh khác với các doanh nghiệp trên).
Thông tư 126/TT- BTC đã hướng dẫn cụ thể các phương pháp xác
định giá trị doanh nghiệp mà các công ty chứng khoán có thể áp dụng trong
hoạt động của mình. Đây là khung pháp lý mà các doanh nghiệp có thể soi
vào để điều chỉnh mọi hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp của mình.
1.3.2. Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động đã
được hơn 5 năm. Có thể nói hơn 5 năm qua chúng ta đã xây dựng và vận
hành được thị trường chứng khoán có tổ chức, về cơ bản đã hình thành khá
đầy đủ các chủ thể tham gia thị trường, bước đầu đã thực hiện huy động
vốn đầu tư cho doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, cung cấp cho
nền kinh tế một kênh đầu tư mới, tạo tiền đề phát triển thị trường chứng
khoán trong thời gian tới. Thị trường chứng khoán ra đời và hoạt động đã
có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế nhất là trong lộ trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Trong thời gian gần đây Thị trường chứng khoán phát triển ngày
càng mạnh, các công ty niêm yết trên thị trường ngày càng nhiều, và ngày
càng nhiều công ty muốn phát hành chứng khoán trên thị trường. Mặt khác,
tiến trình CPH đang ngày càng được đẩy mạnh, chính vì vậy hoạt động xác
định giá trị doanh nghiệp hình thành và phát triển là một tất yếu và rất cần
thiết.
1.3.3. Thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước và tăng cường hoạt động phát hành chứng khoán ra thị
trường
Qua 15 năm thực hiện, hết năm 2005, chúng ta đã thành lập được
2987 công ty cổ phần trên cơ sở CPH DNNN và bộ phận DNNN. Sau 15
năm thực hiện có thể nhận thấy những chuyển biến sau:
Thứ nhất, sự chuyển hướng từ CPh các DNNN trong một số lĩnh
vực sang hầu hết các ngành lĩnh vực chỉ trừ loại DNNN trong lĩnh vực dầu
khí và an ninh quốc phòng. Chuyển biến từ việc CPH các doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, có quy mô vốn nhỏ sang cả những doanh nghiệp có quy mô