LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Việc tạo lập và động viên các nguồn lực cho ngân sách quốc gia, tạo tiền
đề quyết định để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời
sống nhân dân và củng cố an ninh quốc phòng được xem là một trong những
nhiệm vụ chính trị hàng đầu. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, do đó, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế là yêu cầu mang tính cấp thiết.
Để thực hiện thành công công cuộc này, bên cạnh sự phối hợp, nỗ lực của toàn
bộ hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, cần phải triển khai đồng bộ,
quyết liệt các giải pháp, trong đó có việc phát triển dịch vụ thuế.
Dịch vụ thuế là một khái niệm đã xuất hiện khá lâu trong quản lý thuế của
các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt, trong những năm gần đây đã xuất
hiện khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ thuế, qua đó đã thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý thuế ở nhiều nước. Tuy
nhiên, các công trình chỉ mới nghiên cứu về dịch vụ thuế trong bối cảnh về quản
lý thuế nói chung, xem xét về dịch vụ thuế trong mối quan hệ đan xen với các
biện pháp, chức năng quản lý thuế khác, ít có công trình nghiên cứu chuyên sâu,
riêng biệt cũng như đầy đủ và toàn diện về dịch vụ thuế. Một số vấn đề quan
trọng đến nay vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ, cụ thể như: Vai trò của dịch vụ
thuế trong quản lý thuế; Tại sao phải triển dịch vụ thuế; Các tiêu chí đánh giá
chất lượng và hiệu quả dịch vụ thuế; Các mô hình phát triển dịch vụ thuế; Các
điều kiện về pháp lý cho việc phát triển dịch vụ thuế; Yêu cầu cho việc phát triển
dịch vụ thuế.
Ở nước ta dịch vụ thuế là khái niệm mới xuất hiện, nó tồn tại từ khi nền
kinh tế thực hiện mở cửa và hội nhập. Với tư cách là một trong những phương
tiện hỗ trợ thiết thực cho công tác quản lý thuế, đồng thời cũng là một loại hình
kinh doanh mới, tìm hiểu về dịch vụ thuế là được xem là vấn đề quan trọng và
cần thiết. Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, hiện vấn đề này vẫn chưa được nghiên
cứu, phân tích và hệ thống hóa một cách đầy đủ và xuyên suốt. Chưa đánh giá
tổng thể về thực trạng cung cấp dịch vụ thuế ở nước ta, kể cả việc dịch vụ thuế
được cung cấp từ cơ quan quản lý hay dịch vụ thuế được cung cấp từ các tổ
dịch vụ thuế (sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu vào các Đại lý thuế bởi vì trong
thực tế các công ty tư vấn về tài chính, kế toán, kiểm toán, công ty tư vấn luật đã
và sẽ hoàn thành các điều kiện để trở thành các đại lý thuế).
- Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tình hình cung
cấp dịch vụ thuế từ năm 2007 (gắn với việc ra đời của Luật Quản lý thuế) đến
năm 2012, một số chỉ tiêu có mở rộng đến năm 2013. Tác giả nghiên cứu đứng
trên giác độ của một nhà nghiên cứu kinh tế độc lập.
- Về không gian nghiên cứu: Luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu ở
những địa bàn kinh tế trọng điểm, nơi đóng góp chủ yếu số thu cho NSNN như:
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương,
Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương Đồng thời, các giải
pháp được nêu ra trong Luận án nhằm phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam đến
năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học,
trong đó chủ yếu là phương pháp logic - biện chứng, phương pháp phân tích -
tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về dịch vụ thuế phục vụ cho
công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy của các trường đại học, cũng như
công tác điều hành quản lý của cơ quan thuế các cấp; Phân tích rõ vai trò và
sự cần thiết phát triển dịch vụ thuế ở nước ta trong bối cảnh đẩy mạnh công
tác cải cách hiện đại hoá ngành Thuế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
như hiện nay; Nghiên cứu kinh nghiệm về việc phát triển dịch vụ thuế ở một
số quốc gia và rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
3
Phân tích, đánh giá thực trạng của dịch vụ thuế trên hai góc độ: Dịch vụ
thuế do cơ quan thuế cung cấp cho người nộp thuế với tư cách là dịch vụ hành
chính công xuất phát từ vị trí của cơ quan quản lý nhà nước đối với đối tượng
chịu sự quản lý. Dịch vụ thuế do các tổ chức, cá nhân có chức năng trong xã
Theo khảo sát, tìm hiểu của tác giả, trên thế giới hiện nay có khá nhiều tài
liệu liên quan đến dịch vụ thuế, trong đó chủ yếu được trình bày trong mối tương
quan với các nội dung khác, ít có tài liệu độc lập, hoặc chỉ mới nghiên cứu một
trong hai nội dung chính của loại dịch vụ thuế thuế (công và tư), điển hình như:
1.1.1.1. Otake Kenichiro (2011), “Lịch sử, vai trò của kế toán công tại
Nhật Bản” (Chủ tịch Hiệp hội kế toán công Nhật Bản, tài liệu Hội thảo tháng
8/2011 tại Việt Nam): Đây là tài liệu trình bày về lịch sử ra đời và phát triển
nghề kế toán thuế công (đại lý thuế) tại Nhật Bản, nêu lên các loại hình dịch vụ
do kế toán công cung cấp cũng như đề xuất đến tổ chức và phương thức hoạt
động của Hiệp hội kế toán thuế công Nhật Bản. Qua đó đưa đến cái nhìn toàn
cảnh về lịch sử hình thành, phát triển của dịch vụ thuế tại Nhật Bản, cho thấy
quy mô, vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ thuế. Đồng thời, nói lên ý nghĩa
của Hiệp hội kế toán thuế công, đó là nơi tập hợp những đại lý thuế và chịu trách
nhiệm quản lý việc đăng ký hành nghề của đại lý thuế (các đại lý thuế muốn
hành nghề phải đăng ký tham gia thành viên với Hiệp hội). Ngoài ra, tài liệu đề
cập đến chức năng của Hiệp hội kế toán công, mối quan hệ giữa hiệp hội và cơ
quan quản lý thuế Nhật Bản. Tài liệu này ý nghĩa với việc lựa chọn mô hình
quản lý, theo dõi hoạt động, đăng ký thành viên đại lý thuế ở nước ta. Tuy nhiên,
đây chỉ là tài liệu tổng kết thực tiễn thuần túy, chưa có cái nhìn tổng quan về
dịch vụ thuế, chưa đề cập đến dịch vụ thuế công do cơ quan thuế cung cấp [53].
1.1.1.2. Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2007, Tạp chí Thuế
quốc tế đã khảo sát thực tế tại một số quốc gia ở khu vực Nam Mỹ về “Dịch
vụ thuế đang thay đổi như thế nào” (How tax services are changing). Nội
5
dung của cuộc khảo sát là đặt ra các câu hỏi đối với những người có liên quan
đến lĩnh vực dịch vụ thuế như công chức thuế, doanh nghiệp, doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ thuế… Các vấn đề chủ yếu mà công trình khảo sát này
nghiên cứu là: Các hình thức cung cấp dịch vụ thuế đã được tiến hành như thế
nào; đối tượng nộp thuế có thỏa mãn với dịch vụ đã được cung cấp không;
các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có thu nhập như thế nào; loại dịch vụ
nghiệp thực hiện và không trình bày đầy đủ cơ sở lý luận của dịch vụ thuế [56].
1.1.1.6. Cơ quan thuế và ngân khố quốc gia Latvia có công trình mang tiêu
đề “Chiến lược quản lý thuế và thu ngân sách quốc gia gia” (Nguyên bản tiếng
Anh “State revenue service tax administration strategy”). Trong nghiên cứu này,
các tác giả đã nghiên cứu khá công phu về dịch vụ thuế với những phân tích sâu
sắc về chiến lược hướng tới đối tượng nộp thuế như là khách hàng của cơ quan
thuế; các mục tiêu, nhiệm vụ của cơ quan trong việc cung cấp dịch vụ thuế cho
đối tượng nộp thuế… Tuy nhiên, công trình này không nghiên cứu đầy đủ về
dịch vụ thuế do khu vực tư nhân thực hiện [56].
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có Luận án Tiến sĩ, Giáo trình, công trình
nào được nghiên cứu, xuất bản một cách đầy đủ về dịch vụ thuế. Đối với cơ
quan quản lý Nhà nước về thuế - Tổng cục Thuế, chỉ có các tài liệu liên quan
đến dịch vụ tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế - dịch vụ thuế công. Đối với dịch
vụ thuế tư, gần như không có tài liệu về cơ sở lý luận, rất ít tài liệu về thực trạng
phát triển. Tuy nhiên có một số bài báo, công trình nghiên cứu liên quan, đề cập
đến những khía cạnh nhất định đến vấn đề này như:
1.1.2.1. “Luật hóa dịch vụ tư vấn thuế: Doanh nghiệp và cơ quan thuế
cùng có lợi” Thuế Nhà nước số 10 (80), Hà Nội của Mai Thanh. [34]. Bài viết
này phân tích những luận cứ chủ yếu phải xây dựng hành lang pháp lý cho dịch
vụ thuế ở Việt Nam cũng như đề xuất những hướng xây dựng văn bản pháp
luật về dịch vụ thuế ở Việt Nam trong thời gian trước mắt.
7
1.1.2.2. “Vai trò của dịch vụ tư vấn trong công tác quản lý thuế” Thuế
Nhà nước, số 6/2004 của Lê Xuân Trường. [32]. Bài viết này đã đề cập đến
những vấn đề lý luận về dịch vụ thuế như lựa chọn mô hình dịch vụ thuế, các
cách thức tư vấn của cơ quan thuế, những nội dung cơ bản của dịch vụ thuế,
các điều kiện để phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam. Tuy nhiên, công trình này
chỉ trình bày những giải pháp mang tính ngắn hạn để phát triển dịch vụ thuế,
chưa nghiên cứu những giải pháp trung và dài hạn phát triển dịch vụ thuế ở
các giải pháp phát triển dịch vụ thuế, tuy nhiên, do thực hiện trọng bối cảnh cũ
nên tính khả thi để áp dụng trong giai đoạn hiện nay là chưa cao. Một số giải
pháp chưa luận giải chi tiết và cụ thể, như các giải pháp về mô hình tổ chức cung
cấp dịch vụ thuế của cơ quan thuế, giải pháp về hoàn thiện quy trình quản lý
thuế. Ngoài ra, với số liệu thực tế về dịch vụ thuế tư, đề tài thu được rất ít, đề tài
chưa phản ánh xác thực nhất bức tranh tổng thể về thực trạng của dịch vụ thuế
công cũng như dịch vụ thuế tư ở nước ta.
1.1.2.5. “Phát triển đại lý thuế trong điều kiện Việt Nam hiện nay” (2010),
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện Tài chính, do TS. Nguyễn Thị Thanh
Hoài chủ nhiệm. [30]. Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đại lý thuế và
vai trò của đại lý thuế. Đánh giá khái quát và cơ bản về thực trạng đại lý thuế ở
Việt Nam, qua đó phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập về chính sách và
các điều kiện phát triển đại lý thuế ở Việt Nam. Đồng thời đã đề xuất, kiến nghị
hệ thống chính sách, giải pháp phát triển đại lý thuế ở Việt Nam đến năm 2015.
Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn đối với đại lý thuế - dịch vụ thuế tư, chưa nêu lên
toàn bộ về dịch vụ thuế. Ngoài ra, cũng như trên đã đề cập, đề tài bị giới hạn bởi
số liệu thực tế thu thập được còn hạn chế, chưa có cái nhìn toàn cảnh về thực
trạng đại lý thuế ở nước ta và điều kiện, bối cảnh nghiên cứu của đề tài không
còn phù hợp với điều kiện nghiên cứu hiện nay của Luận án.
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh nhất
định của dịch vụ thuế như:
9
- “Tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế: biện pháp thiết thực ngăn
chặn, phòng ngừa sai phạm” Thanh tra Tài chính số 21, Hà Nội, 2004 của
Hạnh Phương [35].
- “Dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế – thí điểm để nhân rộng” Thuế Nhà
nước, số 1/2004 của PGS.TS Đặng Quốc Tuyến [36].
- “Dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế – Nội dung quan trọng của cải cách
hành chính thuế” Thuế Nhà nước, số 12/2001 của TS. Đặng Quốc Tuyến [37].
Như vậy, mặc dù có đề cập đến các vấn đề lý luận của dịch vụ thuế,
được sắp xếp như thế nào? Khung pháp lý cho dịch vụ thuế tư? Nâng cao chất
lượng cung cấp dịch vụ thuế, tiêu chí đánh giá? Hệ thống thông tin, cơ sở dữ
liệu về người nộp thuế? Hình thức của Đại lý thuế, điều kiện pháp lý và cơ chế
kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước đối với hoạt động của Đại lý thuế?
Cơ chế tuyên truyền, khuyến khích người nộp thuế sử dụng dịch vụ thuế?
1.2.2. Điều đó khác các nghiên cứu khác ở đâu?
Phát triển dịch vụ thuế trên cơ sở bám sát định hướng, quan điểm về phát
triển kinh tế - xã hội đã được Đảng, Nhà nước đề ra, từ đó xác định quan điểm,
yêu cầu, mục tiêu phát triển dịch vụ thuế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, ý
thức tuân thủ pháp luật, thu hút đầu tư là cách tiếp cận chưa được nghiên cứu
sâu, có hệ thống ở các công trình trước đây đã công bố.
1.3. Điểm yếu và điểm mạnh của nghiên cứu
1.3.1. Điểm yếu của nghiên cứu này: Đây là vấn đề rất mới ở Việt Nam,
do vậy chưa có nhiều người nghiên cứu, từ các tài liệu liên quan cho đến các
văn bản pháp quy đề cập đến nội dung này vẫn còn rất hạn chế. Do đó, ở cả
giác độ lý luận và thực tiễn, vấn đề này còn khá mới mẻ với Việt Nam, chưa có
đánh giá đầy đủ thực trạng về phát triển dịch vụ thuế ở nước ta.
1.3.2. Điểm mạnh của nghiên cứu này: Đây là cách tiếp cận mới, với
nguồn số liệu mới cập nhật và tính chính xác cao, đầy đủ được thu thập từ
nguồn đáng tin cậy, chất lượng. Mặt khác, dịch vụ thuế là một nội dung đã
được đề cập trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020,
11
mục tiêu đã rõ ràng, vấn đề còn lại là cần có sự đánh giá sâu sắc, chi tiết về
thực trạng phát triển hiện nay, từ đó đề ra những giải pháp sát thực, phù hợp.
1.4. Đóng góp mới của nghiên cứu này
Nội dung này đã được đề cập tại Mục 6, Lời mở đầu, theo đó những đóng
góp mới của đề tài này mang ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
1.4.1. Về ý nghĩa khoa học: Thông qua việc sưu tầm, tổng hợp và phân
tích đánh giá từ các nguồn tài liệu liên quan sẽ hệ thống hoá được các vấn đề cơ
sở lý luận về dịch vụ thuế.
nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản phẩm vật chất cụ thể, mà
bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Dịch vụ được coi là ngành
công nghiệp không khói. Xã hội càng phát triển thì các loại hình dịch vụ càng
đa dạng và phong phú.
Nếu như sản xuất hàng hóa tạo ra các vật phẩm cụ thể, có hình thái vật
chất rõ ràng với những giá trị sử dụng nhất định thì hoạt động dịch vụ cũng
thỏa mãn được yêu cầu nào đó của con người, dù nó không thể hiện dưới hình
thức hiện vật. Dịch vụ theo nghĩa hẹp không sản xuất ra vật chất, người bỏ
sức lao động cung cấp hiệu quả vô hình mà không có sản phẩm hữu hình. Tuy
nhiên, theo nghĩa rộng, thì dịch vụ bao hàm cả việc đưa lao động vào sản
phẩm vật chất, dịch vụ hoàn thành còn bao gồm cả những vật phẩm, hàng hóa
để thoả mãn nhu cầu của người trả tiền mua nó [2].
Dịch vụ nói chung trong nền kinh tế thị trường được nhà kinh tế học
Philip Kotler cho rằng: Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên có
thể cung ứng cho bên kia chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển
quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với sản phẩm vật chất [33].
Cùng với sự phát triển và đa dạng hóa nhu cầu tiêu dùng xã hội, sự phát
triển nền kinh tế trong bối cảnh phân công lao động xã hội theo hướng chuyên
môn hóa chuyên sâu, tăng cường hợp tác hóa trên phạm vi toàn cầu, cơ cấu
giữa sản xuất và dịch vụ cũng có sự thay đổi đáng kể. Theo đó, ở các nước
13
phát triển, các nước có thu nhập cao, giá trị dịch vụ thường chiếm tỷ trọng cao
trong GDP hơn nhiều so với các nước có thu nhập thấp. Ngay cả ở những
nước kém phát triển, các ngành dịch vụ cũng đóng góp không dưới 35 - 40%
GDP. Dịch vụ mang tính vô hình nhưng lại đóng vai trò quan trọng để thúc
đẩy hoạt động kinh tế. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh giúp tăng cường tính
chuyên môn hóa. Theo nhận định của nhiều nhà sản xuất hàng hóa và cung
cấp dịch vụ, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ chuyên môn là những yếu
tố đầu vào quan trọng, giúp cho doanh nghiệp cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Vì vậy, chú trọng phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh sẽ có
nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thỏa thuận với người nộp thuế” [3].
- Theo Thông tư số 117/2012/TT-BTC ngày 19/7/2012 của Bộ Tài
chính hướng dẫn hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế “Dịch vụ làm thủ tục
về thuế là hoạt động của đại lý thuế thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khai
thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn
thuế và các thủ tục hành chính thuế khác thay người nộp thuế theo quy định
của Luật Quản lý thuế và hợp đồng dịch vụ đã ký kết” và “Đại lý thuế là
doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế
theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có
liên quan” [22].
- Theo Hội tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA): “Dịch vụ làm các thủ tục về
thuế là hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn về thuế của các cá
nhân, chịu sự điều chỉnh của pháp luật và quản lý của cơ quan nhà nước”.
[21]. Quan điểm này đã chỉ rõ được tính chất của dịch vụ thuế, xem đó là một
hoạt động chuyên nghiệp đảm bảo theo một cấp độ chuyên môn nhất định,
đồng thời đặt ra yêu cầu có sự quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng.
Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ đề cập đến đối tượng cung cấp dịch vụ thuế
là các cá nhân và cũng chưa đưa ra được nội dung của dịch vụ bao gồm những
vấn đề gì.
15
Hoặc dịch vụ thuế được hiểu là dịch vụ tư vấn thuế, theo quan điểm này,
dịch vụ tư vấn được cung cấp bởi các tổ chức, cá nhân có trình độ chuyên
môn giúp người nộp thuế hiểu biết rõ ràng hơn về các quy định của pháp luật
thuế hoặc đảm bảo sự thuận lợi, mang lại lợi ích tối ưu nhất cho người nộp
thuế khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Người nộp thuế nhận được những
lời khuyên từ các nhà tư vấn và nhà tư vấn cũng không chịu trách nhiệm về
kết quả xảy ra khi người nộp thuế thực hiện theo lời khuyên đó. Cơ chế ràng
buộc trong trường hợp này, hầu như lỏng lẻo, tùy thuộc vào hợp đồng giao kết
giữa các bên. Tuy nhiên, nếu hiểu dịch vụ thuế theo chiều hướng này, việc
quản lý, tạo ra hành lang pháp lý để giám sát hoạt động của người nộp thuế
khẩu, nhập khẩu, nếu xét ở một giác độ khác có thể coi là dịch vụ pháp lý.
Điều này là hiển nhiên vì tư vấn thuế thực chất là “lời khuyên, sự góp ý” của
đối tượng này với đối tượng khác thông qua việc vận dụng tư duy kinh tế để
giải quyết bài toán kinh doanh theo pháp luật thuế.
Trong quá trình thực thi pháp luật thuế, cơ quan thuế có nhiệm vụ
tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế với các hình thức khác nhau, một mặt
giúp cho xã hội hiểu và nắm được những quy định của pháp luật thuế, nhất là
những chính sách thuế mới, nhằm nâng cao ý thức, nâng cao việc chấp hành
trong quá trình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Mặt khác, thông
qua việc tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ giúp cho cơ quan thuế nắm bắt
được các thông tin, sự phản hồi từ phía người dân, để có cơ sở tổng hợp và
sửa đổi, bổ sung kịp thời cả về cơ chế chính sách thuế và quy trình, thủ tục
về quản lý thuế.
Dịch vụ thuế do các doanh nghiệp, cá nhân có chức năng cung cấp đã
và đang rất phát triển ở các nước tiên tiến, khi mà việc áp dụng cơ chế tự tính,
tự khai, tự nộp thuế đã được thực hiện từ rất lâu. Theo đó, các tổ chức, cá
nhân là đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ phải kê khai và xác định đúng số thuế
phải nộp và chịu trách nhiệm về số liệu đã kê khai theo qui định của pháp
17
luật. Chính cơ chế này là một trong những động lực thúc đẩy nhu cầu tư vấn,
hỗ trợ về thuế của người nộp thuế tăng lên và như vậy, các dịch vụ làm thủ
tục về thuế có thể được thực hiện thông qua các doanh nghiệp hoặc cá nhân
cung cấp dịch vụ thuế.
Như đã nêu trên, ở Việt Nam, từ khi Luật Quản lý thuế lần đầu tiên có
hiệu lực (1/7/2007), Nhà nước cho phép các tổ chức kinh doanh thực hiện các
dịch vụ làm thủ tục về thuế như: Thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khai
thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, khiếu nại về thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn
thuế, giảm thuế, hoàn thuế thay người nộp thuế theo qui định của Luật Quản
lý thuế và hợp đồng dịch vụ đã ký kết với người nộp thuế.
Các doanh nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ thuế cũng giống như các
xã hội thực hiện nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật, dưới sự giám sát,
quản lý của Nhà nước và do Nhà nước trả tiền. Cơ quan thuế là một bộ phận
trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cho
người nộp thuế và cả cộng đồng. Dịch vụ công do cơ quan thuế cung cấp bao
gồm cả các dịch vụ công ích như cung cấp thông tin pháp luật, cung cấp các
dịch vụ tư vấn miễn phí về thuế và cũng có cả các dịch vụ hành chính công
như chứng nhận thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Chính vì vậy, trong
bối cảnh và phạm vi nghiên cứu luận án, cách hiểu dịch vụ thuế công là dịch
vụ cung cấp bởi cơ quan thuế hoặc cách hiểu dịch vụ thuế công là dịch vụ
thuế do nhà nước trả tiền để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ là những
quan niệm phù hợp.
* Dịch vụ thuế tư là dịch vụ do các tổ chức, cá nhân hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thuế cung cấp. Dịch vụ thuế tư có liên quan trực
tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp mua dịch vụ, của bản thân doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ thuế và của nhà nước. Không phải bất kỳ doanh nghiệp nào
trong nền kinh tế cũng có thể cung cấp được dịch vụ thuế tư, mà cần phải có
những tiêu chuẩn, điều kiện nhất định và được điều chỉnh bởi các văn bản quy
phạm pháp luật. Do đó, dịch vụ thuế tư phải được coi là ngành nghề kinh
19
doanh có điều kiện và cần một khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý hoạt
động kinh doanh này, cụ thể yêu cầu cơ bản đối với tổ chức cung cấp dịch vụ
thuế tư bao gồm:
Thứ nhất, về thủ tục thành lập và cấp phép hoạt động. Như đã nêu ở trên,
dịch vụ thuế tư được xem là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do đó
cần một khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý hoạt động kinh doanh này.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế tư với tư cách là một tổ chức kinh doanh
nên mọi thủ tục hành chính bao gồm cả thủ tục hành chính về thuế tương tự
như đối với một doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là ngành nghề kinh doanh có
điều kiện nên tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thuế phải có
chứng chỉ đảm bảo các điều kiện qui định về trình độ yêu cầu cũng như có đủ
mà nhiều khi còn bị xử lý về mặt luật pháp. Vì vậy, đòi hỏi những người hoạt
động trong lĩnh vực này phải có kiến thức tổng hợp về pháp luật thuế, kế toán
cũng như các kiến thức khác có liên quan cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt
nghĩa vụ của mình. Ngoài yêu cầu ngoại ngữ, kỹ năng vi tính, họ còn có các
kỹ năng lắng nghe, phân tích yêu cầu, trình bày quan điểm và thuyết phục.
Phong cách ứng xử văn minh, lịch sự, mềm mỏng, khéo léo, linh hoạt cũng là
những yêu cầu cần thiết đối với người hành nghề dịch vụ thủ tục về thuế, tư
vấn thuế. Đây là điều kiện có tính quyết định đến việc chấp hành quyền và
nghĩa vụ của người khai thuế đối với doanh nghiệp tư vấn. Ngoài năng lực
trình độ thì yêu cầu đặt ra đối với người thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ
thuế là người có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp trong thái độ và hành vi. Có
như vậy, chất lượng của các hoạt động dịch vụ thuế mới đảm bảo chính xác,
khách quan và trung thực.
Thứ tư, đạo đức nghề nghiệp của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế
tư. Để đảm bảo quyền lợi giữa nhà nước - doanh nghiệp - người nộp thuế thì
một trong những yêu cầu cơ bản đối với doanh nghiệp tư vấn là vấn đề đạo
đức nghề nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp phải có tính trung lập, tức là có tính
độc lập với khách hàng và cơ quan thuế trong các quyết định của mình khi
21
cung cấp các dịch vụ về thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tuân
thủ pháp luật thuế. Việc chấp hành tốt pháp luật về thuế nhằm góp phần quan
trọng trong việc thúc đẩy tiến trình cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý
thu thuế. Hơn nữa, quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp tư vấn phải
chịu sự quản lý của cơ quan thuế. Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình,
nếu vi phạm pháp luật thuế thì ngoài việc bị xử lý theo qui định của pháp luật,
đền bù thiệt hại vật chất cho người nộp thuế, doanh nghiệp đó đó sẽ bị cấm
hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực này trong một thời gian nhất định.
Thứ năm, về giám sát kiểm tra. Để đảm bảo định hướng cho dịch vụ
thuế tư phát triển theo một lộ trình phù hợp, đồng thời để thiết lập và duy trì
một trật tự xã hội nhất định, trong quá trình hoạt động của các tổ chức, cá
tư, điều đó sẽ tạo ra cơ sở cho dịch vụ thuế tư phát triển. Đến lượt mình, khi
dịch vụ thuế tư phát triển, các doanh nghiệp thực hiện sử dụng ngày càng
nhiều dịch vụ tư vấn, hỗ trợ từ các doanh nghiệp sẽ giúp cho cơ quan thuế
giảm tải công việc, không mất nhiều thời gian hướng dẫn, đối soát, để có thời
gian tập trung vào các chức năng khác hoặc tập trung hỗ trợ chuyên sâu,
chuyên nghiệp hơn.
Để phân biệt dịch vụ thuế công và dịch vụ thuế tư, chúng ta cần nhìn
nhận, đánh giá hai loại hình dịch vụ này dựa trên các tiêu thức cụ thể như:
Thứ nhất, về trách nhiệm, dịch vụ thuế công có tính trách nhiệm cao, cơ quan
cung cấp không thể không làm và người sử dụng dịch vụ thuế công không
phải trả phí. Còn dịch vụ thuế tư, có thể làm hoặc có thể không làm và người
sử dụng dịch vụ thuế tư phải trả phí theo thoả thuận; Thứ hai, về cơ sở pháp lý
và nội dung dịch vụ, dịch vụ thuế công mang tính chất công quyền, trong đó
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ là chính, việc tư vấn có mức độ và có thể không
có đại lý. Dịch vụ thuế tư nặng về chuyên môn, nghiệp vụ, mang tính chuyên
nghiệp, bao gồm cả dịch vụ, tư vấn và đại lý Thứ ba, dịch vụ thuế công và
dịch vụ thuế tư cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau trên tinh thần, cơ sở càng
phát triển mạnh mẽ dịch vụ thuế tư thì càng giới hạn phạm vi dịch thuế công
23
và tiến tới là dịch vụ thuế công giữ vai trò chủ đạo trong việc chỉ đạo, điều
hành, dẫn dắt, kiểm soát và làm trọng tài, chế tài trong công tác quản lý thuế.
2.1.3.2. Căn cứ vào phương thức cung cấp dịch vụ, dịch vụ thuế được
phân loại thành dịch vụ thuế thủ công và dịch vụ thuế điện tử. Dịch vụ thuế
thủ công là dịch vụ được cung cấp thông qua các phương thức thủ công, chưa
có sự hỗ trợ của máy móc, phương tiện hiện đại. Dịch vụ thuế điện tử được
cung cấp dựa trên hệ thống máy móc, thiết bị tiên tiến đặc biệt là ứng dụng
mạnh mẽ công nghệ thông tin. Mục tiêu của hiện đại hóa công tác quản lý
thuế đó là đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển các dịch vụ thuế điện tử (dịch vụ
kê khai thuế qua mạng Internet, dịch vụ kê khai thuế qua các nhà trung gian
T-VAN, dịch vụ nộp thuế điện tử, nộp thuế qua máy ATM, qua tin nhắn
sổ tay về chính sách pháp luật thuế để phát miễn phí cho người nộp thuế. Nội
dung của các ấn phẩm này thường được soạn thảo ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu.
Mục tiêu chủ yếu của hình thức hỗ trợ này là nâng cao nhận thức của người
nộp thuế và giúp người nộp thuế nắm bắt những nội dung thiết yếu của pháp
luật thuế. Những ấn phẩm này có thể đặt để phát miễn phí tại trụ sở cơ quan
thuế hoặc ở một số nơi công cộng và cũng có thể phát miễn phí trực tiếp cho
người nộp thuế. Hình thức này thuận tiện với những người không có nhiều
thời gian để đọc toàn bộ văn bản luật nhưng cần biết những vấn đề cơ bản
nhất. Tuy nhiên, hình thức này có hạn chế là không giới thiệu được đầy đủ nội
dung các sắc thuế, không giải quyết được các trường hợp cụ thể, không đến
được với các người nộp thuế ngại đọc hoặc thậm chí không biết đọc.
(ii) Hỗ trợ người nộp thuế thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Đây là hình thức hỗ trợ được thực hiện thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh, đài truyền hình). Việc hỗ trợ người
nộp thuế thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng lại nhằm mục
đích nâng cao nhận thức của người nộp thuế và giải quyết những vướng mắc
pháp luật của người nộp thuế. Các ưu điểm cơ bản của hình thức hỗ trợ này là
cách thức thực hiện hấp dẫn, đa dạng; mọi người nộp thuế có nhu cầu đều có
25