Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu sơ lược về phương pháp nghiên cứu các thành phần của thực vật phần 9 - Pdf 19


97
học của đất. Khi xác định màu nếu có khó khăn và không chuẩn xác thì dùng liên từ
nâu - xám, nâu - sẫm mỗi màu có một tập hợp đặc tính và thành phần xác định : màu
đen thường chứa trong chúng nhiều mùn, màu đỏ thường có nhiều oxít sắt
- Cấu trúc đất : Là đặc điểm của đất có kết hạt như thế nào, thường đất có kết hạt
hay thành hỗn hợp cũng có thể đất không có cấu tượng. Những dạ
ng cơ bản của cấu
trúc là : Dạng hạt thô (hạt đất không đều kích thước 5 - mềm hay hơn). Dạng hạt (kích
thước hạt nhỏ hơn 5cm), dạng hạt nhỏ (kích thước hạt 0,5 – 1cm hay hơn). Dạng hạt
mịn (kích thước hạt dưới 0,5cm hay nhỏ hơn) Cấu trúc của đất phụ thuộc vào thành
phần cơ giới và chất kết dính chứa trong thành đó, còn đặc điểm thuộc v
ề cấu trúc thì
phụ thuộc vào chế độ nhiệt và ẩm độ cung như từ sự có mặt hay vắng mặt các muối vô
cơ. Ngoài ra, cấu trúc đất còn phụ thuộc từ thành phần cơ giới ; đúng vậy, đất cát, cát
pha, cũng như đất sét thường không có cấu trúc, đất phù sa thường có cấu trúc.
Đổ dầy lớp đất và các tầng của nó : đất phát triển thường biểu thị các tầng sau :
A
1
- Tầng tích luỹ và chuyển tiếp, thường có màu đen.
A
2
- Tầng chuyển tiếp hay tàn tích (tầng bị rủa trôi).
B - Tầng tích tụ.
C - Hầu như chưa bị biến đổi trong quá trình hình thành đất còn có thể gọi tầng
đá mẹ.
Ngoài ra, còn có chia tầng A
0
đó là tầng thảm mục, tầng thảm thực vật chết (tất
nhiên trong đó còn có nhiều động vật, rễ).
Để nghiên cứu độ dầy của lớp đất có thể tận dụng các di tích cửa tự nhiên như

Ngược lại đất sét nước rất khó ngấm qua, nó bị tích tụ mạnh nên nước dễ dàng được
nâng lên tầng trên, khi bị phơi khô lớp mặt trở nên cứng rắn, rất có hại cho thực vật.
Thành phần cơ giới vì thế có quan hệ chặt chẽ với độ phì củ
a đất.
Xác định thành phần cơ giới đất được tiến hành trong phòng thí nghiệm.
- Các mẩu hữu cơ : Các mẩu hữu cơ luôn có trong đất cũng như ở trên lớp mặt.
Tr6ng trường hợp ở trên lớp mặt thường tạo thành lớp thảm mục. Lớp này có thể dầy
hay mỏng tuỳ thuộc ống quần xã cụ thể. Nếu không bị phân huỷ hết nó có thể trở
thành than bùn hay bán than bùn (n
ơi ẩm).
Để nghiên cứu nó người ta lấy mẫu theo ô diện tích là 50 x 50cm, phơi khô sau
đó phân chia thành các nhóm.
- Đánh giá về giá trị nông học hay lâm học : Trong phần kết luận của mô tả đất
phải cho ý kiến đánh giá về khả năng nông lâm nghiệp của nó, nghĩa là đất thuộc kiểu
gì, tính đa dạng của nó như thế nào.
Chú ý : Tất cả những đặc điểm của đất cần được làm sáng tỏ
ở hai tầng trên của
nó (cần nghiên cứu chi tiết). Trong một số trường hợp cần được nghiên cứu ở tất cả
các tầng (đến đá mẹ). Trong phòng thí nghiệm có thể làm theo nhiều ý đồ khác nhau,
nhưng chủ yếu cần làm là : thành phần cơ giới, hàm lượng mùn, hàm lượng cacbonát
canxi, pH, thường có dụng cụ xác định pH ngoài trời. Với yêu cầu chi tiết cần phân
tích cả thành phần hoá học của đất, nấ
m, vi sinh vật và động vật đất, với vi sinh vật
cần làm sáng tỏ nhóm yếm khí, hiếu khí và số lượng trong khối lượng đất.
- Mực nước ngầm : Rất quan trọng cho sự xác định loại hình rừng hay đồng cỏ
thuộc loại ẩm hay lầy cần xác định mực nước ngầm trong các quần hợp và so sánh
mực nước ngầm ở các quần xã khác nhau, từ đó có thể cho ta hiểu xu hướng biến
đổi
thảm thực vật khi biến động mực nước ngầm, cũng như sự tác động của con người đến
mực nước ngầm hay qua lớp phủ đến mực nước ngầm. Để xác định cần làm vào những

thì tốt hơn, hoặc ở một số loài giá trị chăn thả từng phần có khác nhau đa số lá có giá
trị cao hơn.
9.3. NHỮNG BẢNG ĐỂ MÔ TẢ Ô TIÊU CHUẨN
Tuỳ thuộc vào từ
ng kiểu thảm thực vật mà bảng mô tả ô tiêu chuẩn có đặc điểm
khác nhau. Bảng mô tả các ô tiêu chuẩn của thảm cỏ giống bảng mô tả thảm cỏ dưới
rừng. Còn bảng mô tả các loài cây gỗ thì có những nét khác. Sau đây là một lsố bảng
mẫu mô tả cho các thực vật quần đồng cỏ và rừng.
Đối với các thực vật quần thảo nguyên cần chú ý đến lớp cỏ
chết và mức độ được
phủ của mặt đất. Đối với các loại hình đầm lầy cần nhấn mạnh độ ẩm và các vi địa
hình. Vòi thảm cỏ diện tích mô tả là 1m
2
hay 50 x 50cm và để nghiên cứu thảm cây
mục (chết) trong rừng cũng dùng diện tích tương tự.
1. Bảng mô tả thực vật quần đồng cỏ
No ngày tháng năm 200
Tên thực vật quần
Nước, hay vùng miền
Kinh, vĩ tuyến tên địa điểm
Xung quanh
Độ cao so với mặt biển hướng phơi
Độ dốc (độ) đặc điểm chung địa hình
………………………………………………………………
Tiểu địa hình và nguồn gốc

100
Đặc điểm đất
Độ ẩm và mực nước ngầm
Diện tích ô thí nghiệm (ô tiêu chuẩn)

mô tả độ nhiều s
ẽ thay bằng độ phủ thân, hay độ đầy của cây gỗ, ngoài ra còn có thêm
các cột như tiết diện thân ở độ cao ngang ngực, tuổi. Như vậy bảng mô tả quần xã rừng
cần phải chia thành hai phần : cho tầng cây gỗ và tầng thấp, tầng thấp sử dụng ô nhỏ
tương xứng cho thảm cây bụi riêng, thảm cỏ riêng. Các ô nhỏ được bố trí trong ô lớn
theo đường chéo góc số lượng từ 4 - 5. Ngoài ra trong rừ
ng cần phải đề cập đến khả
năng tái sinh của từng loại cây. Thường dùng phương pháp đo từ 1 điểm ngẫu nhiên
đến 6 cây gần nhất với n = 36 theo Thomasius. Cũng cần có các ô thí nghiệm để
nghiên cứu lớp thực vật chết, hay nghiên cứu cây tái sinh (mầm, cây con) của từng loại
cây gỗ, nghiên cứu về hạt, sinh sản sinh dưỡng của các cây rừng.
2. Bảng mô tả quần xã rừng (ô tiêu chuẩn)
No ngày tháng năm 200
- Kiểu rừng hay quần hợp :
- Vị trí địa lí (vùng, miền )

101
- Địa hình (sườn, độ dốc, hướng phơi, độ cao )
- Đặc điểm chung của địa hình.
- Vi địa hình và nguồn gốc của nó.
- Đá mẹ loại.
- Đất (tên kiểu, dạng, độ dầy, màu, thành phần cơ giới, cấu tượng, đá lẫn
(xương), độ ẩm) các dấu hiệu này ở các tầng hay ở tầng 1 và 2.
- Lớp cây cỏ chết (độ dày, % độ phủ).
- Xung quanh (các kiểu rừng khác, đồng cỏ, đất trồng trọt ).
- Ảnh hưởng của con người.
- Ảnh hưởng của động vật hoang.
- Diện tích ô thí nghiệm.
Bảng mô tả cây gỗ
Tên cây


Bảng mô tả tái sinh
Tên
cây
Thành phần
(trong 10
phần)
Độ
nhiều
Chiều
cao
(cm)
Tuổi
Nguồn gốc
(hạt, chồi)
Trạng thái
(sức sống)
Bảng mô tả cây dưới rừng
Chiều cao
Tên
cây
Thành Phần
(trong
phần/10)
Trung
bình
Tối

Vật
h

u
Ghi
chú

Lớp phủ rêu và địa y trên mặt đất (mức độ che phủ theo %, độ dày của lớp sống
và lớp chết)
Thực vật ngoại tầng (dây leo, bì sinh, thành phần và độ nhiều của
nó) :
Trạng thái của lớp phủ thuộc cây bụi, cây thảo, rêu và địa y (đặc điểm ngoại
mạo)
Những vấn đề khác của quần xã (kiểu quần xã, động thái, đặc điểm nh
ất thời, nổi
bật về giá trị kinh tế)
Kí tên
Để làm tốt ngoài thực địa cần thu thập thành phần loài của vùng nghiên cứu trước
và lập thành danh lục, sau đó đến thực địa đối chiếu, ghi chép tiếp, bổ sung mới và sử
dụng các biện pháp máy ảnh, ghi âm
9.4. MÔ TẢ THEO PHẪU DIỆN (HÌNH ĐỒ CẮT ĐỨNG THEO TUYẾN)
Cùng với việc mô tả theo ô tiêu chuẩn cần phải làm mô tả theo phẫu diệ
n, mô tả
phẫu diện có ý nghĩa cực kì lớn với loại hình đồi núi, nó sẽ cho kết quả rất tốt về mối
quan hệ giữa thực bì và địa hình. Trước tiên là việc chọn hướng đi sau khi xác định
điểm xuất phát, theo địa bàn sẽ đi, ghi chép mọi sự biến đổi trên đường đi của lớp phủ
thực vật đồng thời phải đo khoảng cách (bằ

30-96 25
Đồng cỏ tiếp cận rừng (Xem bảng mô tả ô
tiêu chuẩn)

96-110 18
Rừng thưa
Quercus macranthera Cop
2

Prunus Spinosa Sp
Viburnum lantana Sp
Rosa lanina Sol
Trung gian giữa cây gỗ và cây bụi có thảm
cỏ (đồng - cỏ) như kiểu trên.
Cây sồi có chồi tái sinh,
cây khác cao 2 - 3m
110-… 15-20
Rừng - sồi và mận (xem bảng mô tả ô tiêu
chuẩn số 29)
Lớp thảm chết là lá khô
khá dầy (10 – 12) phủ
kín mặt đất.
9.5. PHƯƠNG PHÁP HOÁ HỌC VÀ SINH LÝ HỌC TRONG NGHIÊN CỨU
CÁC THỰC VẬT QUẦN
Như Sukhatrép (1957) đã nói, trong số các cấu tử tạo thành sinh địa quần lạc,
thực vật quần là yếu nhạo ra sinh địa quần lạc và có thể coi như một phòng thí nghiệm,
ở đó đã xảy ra quá trình tích luỹ và sự biến đổi vật chất và năng lượng. Do vậy, việc
nghiên cứu từng khâu trong đó là rất quan trọng, nói cách khác những nghiên c
ứu
thuộc hoá học, sinh lí học của thực vật quần là rất quan trọng.

Cần xác định kiểu thảm này, khác qua đặc điểm ô tiêu chuẩn nên không thể sử
dụng một ô tiêu chuẩn, mà phải có một số lượng đáng kể, cũng tương tự như vậy với
bảng mô tả theo phẫu diện; Để xác đị
nh quy luật của mối quan hệ giữa thảm thực vật
và địa hình số lượng các bảng phẫu diện càng nhiều thì kết luận thu được càng chính
xác.
9.6.1. Quan niệm về hằng số ổn định và khu phân bố tối thiểu
Mỗi quần hợp mà chúng ta gặp trong thiên nhiên là những thành phần hay quần
xã riêng biệt của nó. Những phần như vậy Braun - Branker gọi là các cá thể của quần
hợp, tất nhiên sự gi
ống nhau của các phần đó trong một quần hợp chỉ là tương đối
(không hoàn toàn). Bởi vậy giữa các loài thực vật trong quần xã cũng có đặc điểm như
vậy, một số loài gặp ở tất cả các ô tiêu chuẩn, một số loài chỉ gặp ở một số ô. Loài nào
đó có độ gặp là 90 - 100% trong tổng các ô của một quần hợp gọi là hằng số độ gặp,
Duriet c
ũng chia 10 bậc trong bảng hằng số độ gặp. Ông quy định : bậc X là hằng số
độ gặp từ 91 - 100%. IX - từ 81 – 90%, VIII - từ 71 - 80 và tiếp tục đến 1.
Như vậy, độ gặp là biểu thị sự phân bố của một loài nào đó trong một ô tiêu
chuẩn của quần hợp, còn hằng số độ gặp là biểu thị sự có mặt của loài đó trong các ô
tiêu chuẩn trong quần hợp đó (ng
ười ta không đề cập đến số lượng nhiều hay ít).
Khi xác định hằng số độ gặp thường không sử dụng diện tích thí nghiệm quá lớn,
người ta xác định diện tích tính cho nó bằng cách làm từ nhỏ lên (trong một quần hợp)
đến khi nào hằng số độ gặp đạt tối đa, và từ đó nó ổn định mặc dù diện tích vẫn tăng.
Người ta lấy diện tích đạt tối đa ban
đầu đó Ví dụ : ở diện tích 0,5m
2
hằng số độ gặp
cấp X, IX có hai loài, 1m
2

và khu phân bố tối thiểu (Theo Ramensku)
A- Khu phân bố tối thiểu (diện tích biểu thị hằng số gặp của loài nào đó)
B- Diện tích biểu thi đô nhiều của chính loài đó
Vậy diện tích biểu thị là diện tích nhỏ nhất nhưng nó bao hàm được tất cả các
kiểu vi thực vật quần đặc trưng của quần hợp đó. Iarosenkô (1931) đã xác định di
ện
tích biểu thị của quần hợp hàn đới là 1 - 2m
2
, quần hợp rừng là 2.000m
2
hay hơn.
Phương pháp xác định diện tích biểu thị của bất kì quần hợp nào là sự tăng dần
diện tích lên đến khi nào diện tích tăng nhưng các đặc điểm của quần xã không tăng
nữa, diện tích đạt tối đa đầu tiên đó gọi là diện tích biểu thị. Kinh nghiệm của các nhà
nghiên cứu có thể cho phép xác định diện tích biểu thị cho từng loại hình bằng mắt. Về
phần này nó giống với xác định diện tích của khu phân bố tối thiểu.
Ý nghĩa thực tiễn của phân chia diện tích biểu thị cũng như diện tích khu phân bố
tối thiểu. Diện tích ô tiêu chuẩn phải không nhỏ hơn diện tích biểu thị. Song chúng ta
cũng biết rằng diện tích biểu thị là kết quả tính toán nhiều mặt của quần xã, còn khu
phân bố tối thiểu chỉ đề cập
đến một đặc điểm.
Đôi khi diện tích cụ thể các quần hợp (phần) trong giới hạn của ranh giới tự
nhiên trở nên nhỏ hơn diện tích biểu thị, phần này sẽ không phản ánh đầy đủ các đặc
điểm có được của quần hợp này, người ta gọi nó là mảnh quần hợp.
Mảnh quần hợp có thể bao hàm 1 hay 1 vài vi thực vật quần, nhưng không bao
giờ có
được tất cả các vi thực vật quần của quần hợp này.
9.6.3. Đặc điểm biến động mùa của các quần xã thực vật
Những tư liệu nghiên cứu về động thái của các pha vật hậu ở các loài và các quần
xã có thể gọi là phổ vật hậu.

Theo Daniel Mannilod, chỉ những loài có P ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa sinh
thái trong lâm phần (được tham gia vào công thức tổ thành), nếu P < 5% thì loài đó
không tham gia vào công thức tổ thành.
- Xác định mật độ cây (cây/ha) được tính theo công thức :
N = n/S x 10.000
trong đó : n : là số lượng cây theo loại hay mật độ chung.

107
S là diện tích ô điều tra
Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang. Để nghiên cứu
cây tái sinh trên bề mặt đất rừng có thể sử dụng phương pháp đo khoảng cách từ một
điểm ngẫu nhiên đến 6 cây tái sinh gần nhất. Khi đó phân bố Poisson được sử dụng
tiêu chuẩn U của Clark và Evan để đánh giá, khi dung lượng mẫu đủ lớn (n = 36) qua
đó dự đoán được giai đoạ
n phát triển của quần xã thực vật trong vùng :
U tính theo công thức :

Trong đó : r là giá trị trung bình khoảng cách gần nhất n lần quan sát
λ: là mật độ cây tái sinh trên đơn vị diện tích (cây/ha)
n : là số lần quan sát.
và nếu U≤1% thì tổng thể cây tái sinh có phân bố cụm.
U≥ 1,96% thì tổng thể cây tái sinh có phân bố đều.
còn -1,96 < U < 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên.
- Nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính (n/D
13
) và theo cấp chiều
cao (n/H
vn
) đối với rừng. Sử dụng công thức Hopman để chia cự li cấp chiều cao và
cấp đường kính :


trong đó : H là chỉ số đa dạng của Shannon.
E là chỉ số bình quân có giá trị từ 0 - 1.
S tổng số các loài của quần xã.
Nếu E = 0 thì quần xã chỉ có một loài.
Nếu E = 1 thì quần xã nhiều loài nhưng tất cả các loài có số lượng bằng nhau.
9.7. PHÂN TÍCH NHỮNG BIẾN ĐỔI TỪNG PHẦN CỦA QUẦN XÃ THỰC
VẬT
Đó là sự biến đổi qua không gian của các quần xã và biến đổi qua thời gian ở m
ột
quần xã. Sự biến đổi không gian này có thể thấy ở vùng đất trẻ mới bắt đầu bị xâm
chiếm bởi thực vật rồi từ đất trẻ chuyển sang đất thành thục hơn, như vùng đất mới bồi
ven sông đi dần vào trong là phù xa cổ, chúng ta sẽ thấy sự biến đổi không gian của
các thực vật quần. Sự thay đổi này về đặc điểm chung cũ
ng lặp lại biến đổi qua thời
gian.
Tương tự như vậy cũng có thể quan sát thấy sự biến đổi không gian ở vùng ven
biển, từ bãi cát mới hình thành - ổn định hơn (hơi mặn hay lợ) - bãi cát ổn định - kèm
theo là thảm thực vật tương ứng.
Để nghiên cứu sự biến đổi qua thời gian cần nghiên cứu định vị, chọn một ô tiêu
chuẩn và quan sát (mô tả nó) theo tháng hay theo năm (cây thả
o theo tháng) hay tuần.
Số liệu thu được cho phép ta so sánh và tìm ra sự biến đổi qua năm, tháng của quần xã
hay loài.
Khi lập ô nghiên cứu định vị còn có thể nghiên cứu về tái sinh từ hạt hay sinh
dưỡng.
Rõ ràng có mối quan hệ mật thiết giữa biến động mùa, biến động năm và biến đổi
từng phần. Những quá trình của sự biến đổi sẽ soi sáng nhiều quy luật biến động của
quần xã khi chúng ta cầ
n tìm hiểu những nguyên nhân của sự biến đổi từng phần, biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status