Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu sơ lược về phương pháp nghiên cứu các thành phần của thực vật phần 8 doc - Pdf 19


85
Để xác định độ ẩm của đất bằng phương pháp cân khô và tươi, đất để xác định độ
ẩm có thể lấy bằng khoan hay đào hào, lấy theo tầng đất hay kiểm lấy một mẫu, đựng
trong hộp nhôm hay túi trường kín. Để đánh giá độ dự trữ ẩm thì làm hai lần trong
năm thời kì khô nhất và ẩm nhất. Còn để theo dõi sự biến động của nó theo mùa, theo
năm thì có thể lấy m
ẫu theo tháng hay một tháng hai lần. Về đặc điểm vi khí hậu, ta có
thể tiến hành nghiên cứu nhiệt độ và độ ẩm không khí trên thảm thực vật. Với đồng cỏ,
dụng cụ theo dõi để cao hơn thảm cỏ im và để trên mặt đất, có loại theo dõi hàng tuần
và kéo dài hết mùa sinh dưỡng, có loại theo dõi 2 giờ một lần trong những ngày có
nắng.
Với cường độ chiếu sáng cần bố trí thí nghiệm theo dõi, yêu cầu c
ần xác định
tổng lượng ánh sáng đến, lượng ánh sáng xuyên đến mặt đất, lượng phản xạ, từ đó tính
ra lượng bị hấp thụ. Tính cho cả mùa sinh dưỡng theo công thức :
(
)

−−=
2
1
t
t
pcxqht
QQQQ

Q : tổng năng lượng đến Q
ht
= Q hấp thu ; Q
xq

tố năng lượng có thể xác định :
- Thứ nhất : bởi những đặc điểm của phần trên mặt đất của quần xã - phân bố
thẳng
đứng và vùng phân bố chính của diện tích lá và sự biến động của nó theo thời
gian.
- Thứ hai : bởi những đặc tính quang hợp của khối lượng thực vật.
Sự phân bố thẳng đứng khối lượng và diện tích bề mặt lá cần phải tiến hành
ngoài thực địa với đồng cỏ có thể xem xét phân bố khối lượng chung theo chiều thẳng
đứng. Để có được đặc điểm diệ
n tích quang hợp, cần phải làm như sau :
Trên diện tích 0,25m
2
tiến hành cắt theo tầng 10 chỉ (giữ trạng thái tự nhiên của
thảm cỏ) bắt đầu từ trên xuống, sau đó tiến hành phân loại theo loài, tách phần lá từng
loài riêng, làm khô và cân riêng từng loài. Bằng cách này ta được hình thể phân bố
khối lượng của lá theo chiều thẳng đứng, các phần khác (thân, hoa, quả, phần chết) ta
cũng thu được kết quả tương tự. Đối với cây gỗ phải chọn cây làm mẫu, tán của nó
chia theo tầ
ng im, tách lá theo tầng.
Diện tích lá sẽ được xác định theo phương pháp quan hệ tương quan giữa 1cm
2

(1 mặt) với trọng lượng khô của lá từng loài. Số lần lặp lại khoảng 30 - 50 lần. Từ số
liệu này ta tính được diện tích bề mặt lá của từng loài và cả quần xã (m
2
lá/m
2
đất) gọi
là chỉ số diện tích lá.
Để đánh giá về sự biến động diện tích bề mặt lá và vùng phân bố cực đại của nó,

Phương pháp làm là bằng cách xác định năng lượng dự trữ trong cơ thể thực vật, kể cả
lớp thảm mục của năm đó. Phần năng lượng dự trữ trong thảm cỏ phải phân định
được
phần tăng trưởng trong năm trên đơn vị diện tích. Tính trên cơ sở tổng năng lượng
được sử dụng trong quá trình quang hợp đã tích luỹ lại bằng calo trong cơ thể thực vật,
đó chính là hiệu quả sử dụng năng lượng của quần xã.
Hiệu quả sử dụng nước được xác định bằng cách xác định rõ lượng nước được
thực vật sử
dụng trong quá trình quang hợp, cụ thể được tính như sau. Gọi lượng nước
đi vào trong quần xã (nước mưa) để tạo ra sinh khối H, lượng nước bay hơi trong quá
trình là T. Sản phẩm được tính tổng số trên đơn vị diện tích tính là B, hệ số sử dụng
tạo khối lượng thực vật là K
H
= H/B và hệ quả bay hơi của quần xã là K
T
= T/B.

88
Chương 9
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU
QUẦN XÃ THỰC VẬT
Trong nghiên cứu phân loại học, đối tượng để tiến hành nghiên cứu là các cá thể,
còn trong nghiên cứu các kiểu thảm, quan hệ hay quần hợp thì đối tượng nghiên cứu là
quần xã thực vật. Trong quá trình nghiên cứu một quần xã thực vật đòi hỏi chúng ta sẽ
phải tiến hành các nội dung sau :
9.1. ĐẶT VÀ MÔ TẢ TIÊU CHUẨN, DIỆN TÍCH TÍNH
Để mô tả quần xã nào đó cần phải làm ô tiêu chuẩn. Những diện tích tính này cần
phải phả
n ánh được đầy đủ về đặc điểm của quần xã đó, do đó diện tích không thể quá
nhỏ. Đối với các quần xã có diện tích tính thường là 1 – 100m

.
Việc mô tả ô thí nghiệm có thể làm với mức độ chi tiết khác nhau thường phải đề
cập tất cả các yếu tố quan trọng như đã nói ở trên, ngoài ra còn phải đề cập đến nơi.
sống, địa hình, đất,
9.2. THỐNG KÊ THÀNH PHẦN LOÀI TRONG QUẦN XÃ THỰC VẬT
Cần thành lập bảng danh mục thật chi tiết, có tất cả các loài trong ô và các trạng
thái khác nhau, người ta xếp thứ tự các loài theo dạng s
ống, có thể phân dạng sống đến
mức chi tiết cao nhất. Với thảm cỏ dùng cho chăn nuôi có thể xếp theo thứ tự giá trị

89
chăn thả của nó như hoà thảo, họ Đậu, sa thảo, cây thảo khác, cây dại, cũng có thể
theo họ alphabe
9.2.1. Độ nhiều
Độ nhiều là số lượng cá thể của bất kì loài nào đó trong diện tích tính, khi tính
đến độ nhiều bao giờ cũng gặp khó khăn với việc xác định cá thể (đặc biệt là cây hoà
thảo, thân rễ, ) trong trường hợp như thế có thể giới hạn số cá thể
bởi số thân cây.
Như vậy, hoặc số cá thể hoặc số thân cây sẽ được tính là độ nhiều trên diện tích tính.
Thông thường, người ta sử dụng một thang phân loại để chỉ độ nhiều và thường dùng
là :
Thang bằng số - đơn giản nhất là thang 5 số đó là : 5 : rất nhiều ; 4 : nhiều ; 3 :
không nhiều (TB) ; 2 : ít ; 1 : rất ít.
Trong bảng 6 bậc của Drus không dùng số mà các từ sau :
- Sóc (Sociales) : Thực vật gần như khép tán, tạ
o thành nền.
- Cop
3
(Copiosae
3

ủ tức độ che lấp trên diện tích của phần trên mặt đất của loài
nào đó trong quần xã (diện tích tính).
- Thứ hai, là diện tích chiếm của nó.
- Thứ ba, là trọng lượng của nó. Xác định độ phủ của thực vật trong quần xã có
thể dùng nhiều phương pháp khác nhau.
9.2.2.1. Phương pháp xác định độ phủ chiếu
Với thảm cỏ phân biệt độ phủ thật và độ phủ chiếu : Độ phủ
thật đó là phần trăm
diện tích bị phần gốc của cây chiếm còn độ phủ chiếu là phần che lấp của diện tích bị
phần trên mặt đất chùm (loài nào đó). Khi nghiên cứu vấn đề này, trước tiên là xác

90
định độ phủ chiếu, sau đó xác định độ phủ thật dựa vào thảm cỏ cắt bỏ để lại gốc để
tính. Ramenskii nghiên cứu vấn đề này đưa ra ba chỉ tiêu xác định độ phủ của quần xã,
đó là đó phủ chung (hình chiếu toàn bộ thảm cỏ), độ phủ của tầng - tức là mức được
phủ của các tầng dưới bởi tầng trên và độ
phủ chiếu của từng loài hay nhóm loài.
Để xác định độ phủ của quần xã cỏ người ta dùng một khung có kẻ ô bằng dây
kim loại (khoảng 10 ô vuông), ô vuông có kích thước là 2 x 5cm hay 3 x 7,5cm, chiếu
khung đó từ trên xuống ta sẽ tính được độ phủ của loài và độ phủ chung. Hình 32. Khung xác định độ phủ của thảm cỏ
Tất nhiên, độ phủ của từng loài cộng lại bao giờ cũng lớn hơn độ phủ chung, vì
có sự che phủ lẫn nhau của các loài và các tầng.
Thông thường, các nhà nghiên cứu đánh giá độ phủ bằng mắt và cũng xác định
bằng % của diện tích. Nhiều khi người ta đánh giá độ phủ bằng bảng thang bậc, kèm

ngang ngực và chiều cao của cây. Khi đánh giá dự trữ thì diện tích lát c
ắt thường được
đánh giá bằng mắt, cũng có thể bằng thước đo, chiều cao xác định bằng dụng cụ đo
chiều cao. Trong trường hợp điều tra không chi tiết (điều tra nhanh) bằng kinh nghiệm
của các nhà nghiên cứu có thể xác định độ cao của cây và diện tích lát cắt bằng mắt.
Khi đã biết diện tích lát cắt, chiều cao của cây thì có thể xác định được trữ lượng bằng
bảng tra cứu riêng, đơn giản cũng có thể tính thể tích của cây bằng 1/2 của tích số diện
tích lát cắt với chiều cao. Biết trữ lượng của từng cây sẽ tính được trữ lượng toàn bộ
trên diện tích tính.
Đối với thảm cỏ, việc tính khối lượng khá đơn giản, người ta dùng bình đựng
nước để tính (khối lượng chiến).
9.2.2.3. Phương pháp trọng lượng xác định độ ưu th
ế
Phương pháp này chỉ áp dụng cho các quần xã cỏ, với quần xã cỏ thường dùng
diện tích tính là 1m
2
người ta sẽ cắt toàn bộ phần trên mặt đất ở độ cao sát đất, sau đó
phân chia nó theo loài, rồi cân trọng lượng từng loài ở trạng thái tươi rồi trạng thái khô
không khí, sau đó tính % của chúng.
Trong nông nghiệp người ta không phân chia cỏ theo loài mà theo nhóm kinh tế,
thường chia thành 6 nhóm : Hoà thảo, đậu, cây thuộc thảo, cây thảo chua (cói, bấc,
Iridaceae ), cây có hại (cây có gai, cây độc, cứng sắc ), cỏ khô. Đối với thảo nguyên,
bán hoang mạc cũng chia nhóm nhưng có thể hơi khác như
có thêm nhóm ngải, đoản
mệnh, mọng nước
Ngoài ra, trong nhóm hoà thảo, sa thảo cũng như nhóm họ Đậu còn có thể chia
nhóm phụ, tốt và trung bình cho chăn thả. Tốt nhất là cân trọng lượng của cây trong
ngày và ở trạng thái tươi, sau đó hãy phân loài, nhóm và cuối cùng phơi khô rồi cân
theo loài hay nhóm. Dụng cụ cắt có thể là dao hay kéo ở nơi nào đó có thể được (thưa)
người ta có thể cắt theo loài luôn để tiện phân chia, nên cắt lúc nó phát triển tất nh

y có diện tích là l/10m
2

(l.000cm
2
) cho diện tích trên. Những ô để tính độ gặp này thường có hình tròn, đường
kính là 35,6cm đặt các ô thí nghiệm đó trong ô theo mô hình xác định (khoảng cách
xác định). Trong các ô đó sẽ được thống kê đầy đủ số cá thể theo loài. Sau đó lập bảng
thống kê cho cả 50 ô tính đó và tính % độ gặp trong ô thí nghiệm của quần xã. Người
ta gọi con số đó là hằng số độ gặp, được kí hiệu là R - biểu thị % của số loài gặp trong
ô trên số
ô được đếm - cụ thể ở đây là 50.
Phương pháp của Raunkiaer đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian. Khi nghiên cứu

93
nhiều (rộng) khó tiếp nhận, trong trường hợp như thế người ta dùng phương pháp khác
tốn ít thời gian hơn - phương pháp của các nhà địa thực vật Tân Tây lan (nghiên cứu
đồng cỏ). Phương pháp này cũng được các nhà sinh thái học áo, Mỹ sử dụng. Dụng cụ
phương pháp này dùng là một khung bằng gỗ hay kim loại, trong đó có 10 kim mỗi
kim cách nhau 5cm.

Hình 34 : Dụng cụ để tính độ gặp trong đồng cỏ
Vì dụng cụ tính không dài nên phải di chuyển nó theo đường xác định trên diện
tích tính. Độ gặp của mỗi loài được biểu thị bằng phần trăm của số cá thể loài đó chạm
đúng vào kim. Thông thường phương pháp này phải đặt khoảng 50 lần trong 1 ô để
đếm (ghi). Kết quả nhận được của phương pháp này cũng khá chính xác.
9.2.4. Tính đơn độc, tính liên kết hay tính tập hợp của loài
Đó là dấu hiệu về sự phân b
ố của loài trên đơn vị diện tích dưới dạng cá thể đơn
độc hay thành nhóm nhỏ, to. Trong bảng (phân chia) khi mô tả trên diện tích tính,

của quần thể sẽ bị giảm sút. Khi ở trạng thái tối thích sẽ có tỉ lệ phần trăm các cá thể
có khả năng sinh sả
n bình thường là lớn nhất.
Uranob đã đề nghị một bảng thang bậc đánh giá sức sống của quần thể như sau :
I. Những cá thể có kích thước trung bình hay cỡ lớn của quần thể, có tổng độ phủ
chiếu từ 8% trở lên, đồng thời có không ít hơn 1/4 số cá thể đã trưởng thành hoàn
thành được chu trình sống.
IIa. Độ phủ chiếu nhỏ hơn 8%,nhưng lớn hơn 0,25%, đồ
ng thời không ít hơn 1/4
số cá thể đã trưởng thành và hoàn thành chu trình sống.
IIb. Khi độ phủ chiếu lớn hơn hay bằng 8%, có ít hơn 1/4 số cá thể của quần thể
đạt được ra hoa kết quả (hoàn thành chu trình sống).
IIIa. Độ phủ chiếu nhỏ hơn 8% nhưng lớn hơn 0,25%, hoàn thành chu trình sống
được thực hiện ít hơn 1/4 số cá thể trưởng thành của quần thể.
IIIb. Độ phủ chiếu không nhỏ hơn 8%, nh
ưng tất cả các cá thể của quần thể mất
khả năng sinh sản.
IV. Độ phủ chiếu nhỏ hơn 8%, nhưng không ít hơn 0,25%. Tất cả các cá thể mất
khả năng sinh sản.
V. Độ phủ chiếu nhỏ hơn 0,25%, tất cả các cá thể mất khả năng sinh sản.
Trong bảng xếp loại này trọng lượng cá thể sẽ được coi là độ phủ chiếu, ng
ười ta
lấy 8% làm chuẩn vì theo kết quả nghiên cứu của Ramenski thì giới hạn thấp nhất của
độ phủ loài tạo thành nền cho lớp phủ là 8%.
9.2.6. Sự phân tầng
Khi đánh giá loài này hay loài khác thuộc vào tầng nào thì cần phải làm sáng tỏ
như đã nói về sự khác nhau của tầng và màn. Tầng thường được kí hiệu bằng chữ la
mã : I - là tầng trên cùng, II - tầng tiếp theo và , nếu ta nói loài nào đó thuộc tầng nào
đó và không thật rõ ràng thì tốt h
ơn cả là ghi theo chiều cao cá thể của nó bằng em hay

chiều thẳng đứng (phẫu diện đứng), dùng phương pháp này sẽ cho ta số liệu khá chính
xác về từng kiểu vi thực vật quần trên các vi địa hình khác nhau, chúng ta cũng dễ
dàng hiểu về đặc điểm sinh thái của các vi thực vật quần khác nhau.
Trong rừng, các vi thực vật quần phải có sự tham gia đầy đủ của các tầng, kể c

tầng cây gỗ cao và các vi thực vật quần của các vùng không có cây gỗ. Trong rừng
việc vẽ thể khảm không thể làm ở các ô tính nhỏ mà phải làm trên ô tiêu chuẩn lớn.
Trước tiên xác định ranh giới của vi thực vật quần, sau đó liên kết nó lại thành vi quần
hợp, trong bảng mô tả này tên cây gỗ được ghi trước sau tên cây là con số độ phủ để
trong ngoặc, sau đó là cây dưới tán, những cây có độ ưu thế như nhau
được nối bằng
dấu (-), còn loài ưu thế lớn nối với ưu thế phụ bằng dấu (+).
Thí dụ : Imperata cylindrica (0,4) - Ischaemum indicum (0,2) - Fimbristyhis an
ma.
9.2.8. Tính chu kì
Để nghiên cứu tính chu kì khi mô tả quần xã cần mô tả các pha của chu kì của
mỗi loài. Để làm điều đó người ta dùng các từ viết tắt như s = trạng thái sinh dưỡng,
r
n
= ra nụ, h = ra hoa rộ, q = có quả, ha = hạt chín, c = cây chết già. Alêkhin cũng đề
nghị một loạt dấu hiệu sử dụng trong bảng danh lục để mô tả như: - Kí hiệu trạng thái
sinh dưỡng đến khi ra nụ λ = bắt đầu có nụ, ϑ = hoa nở, 0 = hoa nở rộ, C = hoa bắt đầu
tàn, + cây đã có hoa rụng hết nhưng hạt chưa chín, hạt đã chín (có sự rung hạt), ∞ =
trạng thái sinh dưỡng sau khi hạt chín và r
ụng.
Cũng có thể sử dụng thang bảng khác để chỉ như: 1 - thời kì sinh dưỡng, 2 - có
nụ, 3 - hoa đang nở, 4 - có hoa, 5 - kết thúc thời kì sinh dưỡng, 6 - trạng thái hay thời
kì nghỉ. Tính chu kì có thể đề cập đến trong nghiên cứu định vị hay nghiên cứu điều
tra. Từ nghiên cứu định vị ta sẽ có được số liệu về sự phát triển qua các mùa, các năm


m xuất hiện ngày càng nhiều, những cây họ hành, cây họ cói có hoa sớm, phát
triển mạnh tạo ngoại mạo của thảo nguyên vào đầu mùa xuân, dần dần thay đổi bởi các
loài khác " - đó là mô tả ngoại mạo.
9.2.10. Những dấu hiệu về nơi sống
Tất cả những yếu tố đã đề cập đến ở trên là các yếu tố của cấu trúc quần xã,
nhưng ngoài chúng ra khi nghiên cứu quần xã c
ần phải tính đến các dấu hiệu của nơi
sống.
+ Trước tiên đó là yếu tố địa hình, nếu ô tiêu chuẩn nằm trên núi cần phải đề cập
đến độ cao so với mặt nước biển, sau đó là đặc điểm chung của địa hình : dãy núi,
thung lũng, bình nguyên, đỉnh núi Nếu ô tiêu chuẩn ở trên sườn đồi (núi) thì cần đề
cập đến hướng phơi và độ dốc sườn đồ
i, thường sử dụng địa bàn để xác định và đo độ
dốc, cũng có thể xác định độ dốc bằng mắt. Trong nhiều trường hợp không chỉ xác
định hướng và độ dốc của vi địa hình mà còn phải xác định cả hướng phơi, độ dốc của
đại địa hình.
+ Tiếp theo là xác định đặc điểm của đất, trong nhiều trường hợp chỉ nghiên cứu
lớ
p đất mặt 25 - 30cm. Những đặc điểm sau của đất cần chú ý :
- Màu sắc của đất : Có ý nghĩa quan trọng vì quan hệ với nó là thành phần hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status