^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
History E-Books: HD300306008
Compile by Rosea
Các trận không chiến trên bầu trời Việt Nam
Chiến thuật mới của Mig .
Trang 127-128.
Thời tiết tháng 8/1967 thật tốt, nên KQ và HQ tiếp tục các cuộc không kích quyết liệt. Phần lớn
nỗ lực tập trung vào Route Package VI chống lại các đường liên lạc, đặc biệt là 2 đường xe lửa
chạy đông bắc và đông tây từ Hà nội sang TQ và hệ thống vận tải từ Hà nội đến cảng Hải phòng.
Mig không hoạt động mạnh kể từ tháng 6, và cho đến lúc đó các đơn vị không thấy có dấu hiệu
nào của chiến thuật mới. Nhưng, thật không may, họ đã nhầm.
Ngày 23 tháng 8, 1967, một lực lượng lớn gồm 9 phi đội 105 và 4 phi đội F4 (1 chống Mig
(MigCap) và 3 cường kích) tấn công ga Vinh Yên. F105 tấn công trước, có F4 MigCap ở trái sau
và 3 biên đội F4 ném bom bay theo đội hình chữ V ngay đằng sau. THời tiết tốt, trần mây 25,000
feet (overcast).
Lực lượng tấn công không biết đã có 2 Mig21 xuất phát từ Phúc Yên, bay thấp chặn đánh. Mig
bay gần mặt đất (stay in the ground cluster [1]) để tránh bị rada máy bay Mỹ phát hiện, nhưng tín
hiệu transponder của nó đã bị thiết bị QRC-248 trên một chiếc EC-121 đang bay vòng nhận
được. CHiếc EC-121 thông báo vị trí của Mig, nhưng đơn vị hỗ trợ không có phản ứng.
Khi dẫn đường mặt đất thấy MIg đã ở bên sườn của đội hình ném bom, và ngoài tầm của F4
MigCap, họ ra lệnh Mig vọt lên 28,000 feet (kqndvn ~ 9,000m), đưa Mig vượt trên trần mây và ở
sườn của một trong các phi đội ném bom, trong khi vẫn không bị rada của F4 phát hiện. Mig21
tiếp cận lực lượng, và theo lệnh của dẫn đường mặt đất, họ đâm xuyên trần mây với tốc độ cực
nhanh vào phi đội Ford, một trong 3 phi đội F4 ném bom bay phía sau đội hình chính. Mig tấn
công bằng tên lửa Atoll; Cảnh báo đầu tiên mà F-4 nhận được là khi số 3 thấy một tên lửa bắn
mật, người ta cũng rất khôn ngoan khi nói về không chiến ở chiến tranh này, những box chúng ta
không phải ai cũng có trình độ văn hóa như tác giả, do Liên Xô vừa ra khỏi chiến tranh, phi công
có trình độ cao rất nhiều, tướng chỉ huy không quân cũng giỏi, không thể có trận không chiến bại
như vậy.
Tỷ lệ thắng cao của Liên Xô được Mỹ và đồng minh cho là:
1, Liên Xô dùng mày bay tiêm kích đánh máy bay ném bom.
2, Liên Xô thành lập một đơn vị nhiều phi công anh hùng giầu kinh nghiêm chiến đấu.
Tuy thiếu tài liệu và cùng Liên Xô giữ tuyệt mật trận này, tránh để bọn xấu sử dụng để tuyên
truyền ww3, nhưng nhiều phi công Mỹ lúc đó họ chiến đấu với phi công Nga, do các phi công
Nga không thạo tiến nước ngoài và nói bằng tiếng mẹ đẻ.
Như vậy, box cũng đã nói đến và tài liệu nước ngoài cũng nhiều, việc "F-86 của Mỹ đã hạ Mig-15
phần lớn do phi công Nga lái với tỉ lệ tiêu diệt 10:1 " là việc làm cố ý, rẻ tiền. Thực tế đây là chiến
tranh thắng lợi huy hoàng nhất của không quân Soviet. Cũng do quá cay cú về thất bại này,
những tài liệu mang nặng tính quảng cáo không hề ngượng mồn bôi bác bóp méo nó.
Tài liệu này dù do chính người Tây phương viết nhưng họ lại đề cao không quân việt nam . Nói
chính xác là đề cao phi công và chỉ huy VN . Họ cho rằng Không quân VN bé tí tẹo , vũ khí lạc
hậu của Nga . Nhưng vẩn tìm được cách đánh và hạ được quân đội đông hơn , hiện đại hơn và
được huấn luyện kỹ . Tài liệu như vậy tại sao không đăng ? nếu bảo vũ khí Nga là vô địch thủ , là
đi trước thời đại , là đỉnh cao của kỹ thuật quân sự . vậy người vn ta có gì tài giỏi nào? xài đồ tốt
đương nhiên là thắng đồ tồi dể dàng lắm thôi . Nhưng thực tế là VN ta được trang bị vũ khí kém
nhưng vẩn thắng . Đấy là yếu tố con người . Đại Tướng Võ Nguyên Giáp có nói : Vũ khí có hiện
đại cũng chỉ là cổ máy , quan trọng là người sử dụng nó .
Sách nói lên tính Anh Hùng của người VN thì nên dịch . Tôi không hiểu tại sao có quá nhiều
người sẵn lòng làm mọi thứ để bảo vệ danh dự tối cao của vũ khí Nga và quân đội Nga . Tại sao
không dùng bấy nhiêu đó tâm huyết để ca ngợi sự Anh hùng của dân tộc VN ta ? Tôi nói câu từ
đáy lòng . Ngày xưa tôi luôn nghĩ mổi vũ khí có thế mạnh và yếu riêng của nó . không có vũ khí
nào là vô địch . Tôi thích một số đặc điểm của vũ khí Nga . Nhưng từ ngày thấy ở đây vài người
xem nó như thượng đế vì nó mà xảy ra chia rẻ nghiêm trọng trong room tôi thật sự không muốn
nhắc đến ngay cả cái tên vũ khí Nga nữa . Thời đại nay đã khác xưa , thông tin toàn cầu . người
ngu cũng đọc được rất nhiều và biết rất nhiều . Vì nước Nga thân yêu mà ca ngợi thái quá chỉ
Tầu , TT bắn rơi thì VN mình cũng làm đc có thể còn hơn nữa. Pilot Nga cũng vậy thôi, khi bí mật
tham chiến ở Trung Đông cũng từng bị Israel bắn rơi ngay 5 cái sau đó lặng lẻ rút quân. Nói
chung là con người có hay có dở chớ có phải siêu nhân thần thánh gì đâu mà đánh nhau là
thắng. Bỏ qua chuyện này đi không thì nó là chủ đề, Bạn KQNDVN tiếp tục nhé cho anh em
thưởng thức.
MIG21 có một cái đặc biệt mà sau này F16 của Mỹ ra đời cũng rất chú ý đến.
Mình có nhận xét chung thế này: cả Nga, Mỹ và Tây âu đều có vũ khí tốt!!! thời đại bây giờ ai có
gì tốt thì bên kia bắt trước. Không như những năm 60-70 mỗi bên cố gắng theo đường riêng của
minh. Vấn dề chủ yếu là ai có nhiều tiền! Nga không mạnh về kinh tế nên chỉ những gì quan
trọng nhất mới làm bằng hoặc vượt bên Mỹ và Tây Âu (nếu có khả năng!!!)
Mình tuy không hề biết Nga, xong có một số cảm tình với vũ khí của Nga vì cách giải quyết vấn
đề. Bản thân người Đức thường tự cao tự đại, song cũng rất phục Nga về chuyện này. Nếu có
thành viên nào là kỹ sư thiết kế ở Đức có thể đồng ý với mình về chuyện này.
Đúng như bạn nói, người Đức gần đây đầu tư qua Nga rất nhiều(chủ yếu là đặt văn phòng
nghiên cứu).Ngay ông thủ tướng Đức trong bài phát biểu giới thiệu máy bay Airbus A380 cũng
mong muốn Châu âu hợp tác kỹ thuật hơn nữa , nhất là với Nga.
Tuy nhiên, vì tập tính lâu đời ( có lẽ do thiếu tiền) ngưòi Đức cũng có nhận xét "Công nghệ Nga
nền tản là giải quyết vấn đề chứ không phải như chúng ta ( Tấy Âu, Mỹ) Công nghệ là để hoàng
thiện hơn." Do vậy mà ta cũng thấy từ máy bay, tàu, cái gì Nga cũng có , nhưng nếu chụp hình
so sánh với đồ Âu , Mỹ thì không có tính thẩm mỹ, không có tư duy hoàn thiện.
Tôi có coi 1 chương trình về tàu không gian Nga, phóng viên làm ctrình rất ngạc nhiên, ông ta
thấy các ky sư gia cố các mối nối bên trong tên lửa bằng dây kẽm ( điều không tưởng ở Châu
Âu). và ông ta phát biểu: " Như vậy mà người Nga đã lên vũ trụ đầu tiên, trong khi chúng ta đặt
ra 1 loạt tiêu chuẩn cho an toàn kỹ thuật mà vẫn chưa có phi thuyền riêng (EADS)
, sao lại căt topic cãi nhau đi. Em hồi này bận quá, thính thoảng mới vào nét được, vào rồi chả
thấy chỗ chơi đâu
Không chiến quá tầm nhìn: chiến tranh bảo vệ bầu trời miền bác là chiến
tranh đầu tien sử dụng thứ này. Tất cả đều mới, đề chưa thử nghiệm, bất
ngờ.
Chúng ta đã nhiều lần nói về chiến tranh trên không, Miền Bắc.
khỏc nhau, xuyờn tc hay tụn vinh, trung thc bay ba t, nhng tt c nhng iu mang tớnh
tỡnh cm ú khụng th ỏt c thỏi nghiờn cu cụng phu, khoa hc. Nhng trn ỏnh ca
chin tranh ny l nhng trn ỏnh u tiờn s dng phng phỏp khụng chin quỏ tm nhỡn,
chin tranh ny ó xy dng nờn nhng chin thut khụng chin mi, t nhng cỳ ũn c bn
n nhng chin lc khng l. Nhng trn khụng chin dựng tờn la ó cú t lõu, c th
nghim t ww2 n nhng trn chin quyt lit trờn eo bin i Loan. Nhng ch Bc Vit
Nam, tờn la mi tht s c hai bờn xõy dng chin thut s dng. Cựng vi chin thut l
chin lc mi hon ton c xõy dng, kt qu ca vic nghiờn cu th nghim phng
phỏp khụng chin cũn nh hng ln n c cu i hỡnh v cu to tng chic mỏy bay chin
u. Ngay trong chin tranh, nhng mỏy bay c ci tin khn cp bt nhng l hng khi
thit k, sau chin tranh, F-14, F-15 M ó c ch to t nhng kinh nghim khụng chin. C
cu mt s lng ln mỏy bay tiờm kớch (interceptor) cú tm ngn v r nh hi ww2 c Liờn
Xụ thay th bi c cu s lng nh hn ca nhng mỏy bay t hn: mỏy bay a nng
fighter.
Ti sao chin tranh trờn khụng ny li tr thnh mt cuc cỏch mng ln trong lch s khụng
chin ngn ngi: thi th. Chng phi ngi Vit Nam hay M tỡm cỏch tụn vinh chin tranh y,
m chớnh khi chin tranh y din ra, cỏc mỏy tớnh ra i, phỏt trin vi tc kinh khng, v ng
dng vo mỏy bay. Nhng khớ ti mi ũi hi nhng chin thut mi rrũi to ra y nhng bt
ng, v nhng phi cụng hai bờn ó em tớnh mng mỡnh ra xõy dng nờn phng phỏp
khụng chin mi, lm sỏch giỏo khoa cho cho khụng quõn th gii ngy nay. Mt vớ d v nhng
thay i ca iu kin chin u c bn nht, ch thiu tớ chỳt lng trc tớnh toỏn, l mt trong
nhng trn ỏnh u tiờn. Trc õy, chin tranh TT hay WW2 chng hn, vic mỏy bay sn mi
tun tiu l cn thit v rt li, rỡnh bt cỏc mỏy bay nộm bom nng n. Nhng ngy nay, c ta
v ch u cú radar mnh. ch cú nhng mỏy bay cnh gii t rt xa. K thut hin i cho
phộp chỳng phỏt hin ra ta k c mt s trng hp radar ca chỳng khụng vi ti, 2 mỏy bay
ca ta mt khi ang i tun m khụng rừ ti sao.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
–
Tây Ban Nha, máy bay tiêm kích khẳng định vị trí. WW2, loại máy bay này và nhứng trận không
chiến trở thành yếu tố quyết định trên bầu trời. Không quân châu Âu chủ yếu thực hiện các
nhiệm vụ trên mặt trận với khoảng cách đến căn cứ 1-2-3 trăm km. Các sân bay dã chiến làm vội
di chuyển tiến lui theo mặt trận. Khác với máy bay ném bom, các máy bay không chiến có giá rẻ,
nhỏ, nhẹ. Nhưng chúng có tốc độ, lực đẩy mạnh. Phươngh pháp chiến đấu cơ bản là đogflight:
các máy bay làm xiếc để tìm cách bám đuôi nhau và nổ súng hạ mục tiêu phía trước. các mục
tiêu hầu như chỉ bị hạ trong góc bắn hẹp, tầm lúc đó chỉ vài trăm met hiệu quả. Đến giữa ww2,
các máy bay không chiến đã tách ra thành loại riêng, không như các máy bay ném bom tiền
tuyến Pe, các máy bay đáng chặn IAK được thiết kế chuyên không chiến, chúng làm chủ bầu trời
để các máy bay khác tấn công mặt đất, nhờ chuyên nghiệp như thế các interceptor(tiêm kích,
đắnh chặn) có tốc độ và độ linh hoạt rất cao và số lượng lớn. Đến cuối ww2, nhứng máy bay
không chiến càng chuyên nghiệp hơn, thậm chí người Đức còn thiết kế những tên lửa có người
lái, tầm rất ngắn, thời gian hoạt động động cơ và tầm chỉ vài phút và 30km. Những máy bay tiêm
kích đánh chặn thật sự mà Đức thiết kế là những máy bay dùng 1 động cơ turbine. Bản thiết kế
TA-183 có thành công vĩ đại, trở thành thủy tổ của nhứng MIG nổi tiếng. TA-183 là một bản thiết
kế máy bay 1 động cơ turbine, cánh xuôi sau, đuôi treo cao tự cân bằng, tải rất nhẹ vì không dự
định mang bom. Nó có tốc độ tối đa khoảng 700km/h hoặc 900km/h và tầm tối đa chỉ vài trăm
km. Tốc độ tối đa của nó không bao giờ có số chính xác, vì máy bay chưa thật sự được chế tạo.
Nó dự định sử dụng một động cơ mới, có tốc độ vòng quay cao và số tầng nén thấp, đây là cấu
hình động cơ rất đơn giản, rẻ tiền, thích hợp với nhiều tốc độ khác nhau, nhẹ. Ngày nay, chúng
chỉ được trang bị cho tên lửa vì tuổi thọ thấp và nhiều trục trặc, nhưng ngày đó, người ta dự định
rằng interceptor là loại máy bay rẻ và có thương vong lớn. Các bác có thể đọc topic của bác
dangngoc về phi công Liên Xô và Đức hồi đó. Phần lớn các phi công tiêm kích mất cùng máy bay
sau vài tháng tham chiến, họ phải chiến đấu liên tục với cường độ cao, đây là bài thi rất khắc
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
này thì càng ngày càng nhỏ lại. Có phải ông trời đã định cái số ấy của các phi công Việt Nam sau
này không. Đèn bán dẫn và máy bay tiêm kích. Thiết bị điện tử thông minh và tốc độ siêu âm. Sự
linh hoạt và vũ khí chính xác. Vâng, cõ lẽ thật sự có định mệnh. Năm 1947, nước VN đang ở gai
đoạn gay go nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp. Cầm bom ba càng và gậy tầm vông, có
người nào ở xứ sở lạc hậu xa lắc nơi chân trời ấy biết rằng, đâu đó trên quả đất này, ở hai nơi
rất xa nhau, người ta vỗ tay, reo hò hay chúc mừng hai thành quả kỹ thuật mới mà 20 năm sau
được những chiến sĩ thử nghiệm. Không, em cam đoan với các bác là, không một ai trên thế giới
này năm 1947 nghĩ rằng, những chú bé chân đất mắt toét 20 năm sau sẽ cùng đối thủ xây dựng
và thử nghiệm cuộc cách mạng trong không chiến: chiến đấu quá tầm nhìn. Hai yếu tố quan
trọng nhất được đẻ ra năm 1947 định mệnh ấy.
Vâng, tất cả 20 năm sau đều mới, bất ngờ, đều phải thử nghiệm. Đèn bán dẫn đã sinh ra radar,
tên lửa, liên lạc, máy hỏi. Bán dẫn có vai trò quan trọng, nó lại có thuộc tính là từ năm 1947 đến
nay, nó bé đi rất nhanh. Vì nó bé đi, năng lực của thiết bị điện tử mỗi ngày một mạnh. Vì điện tử
mạnh, vũ khí mỗi ngày một khác và luôn luôn phải thử nghiệm. Các phi công ta và Mỹ đã được
vinh dự có định mệnh thử nghiệm và tìm ra cách sử dụng nó.
Radar thì được sử dụng từ đầu ww2. Tên lửa đối không có từ WW2. Nước Đức đã chế ra những
SAM đầu tiên với phần động lực của V2. Hệ thống phòng không này sử dụng radar được trợ
giúp bởi loại máy tính dòng và tên lửa có điều khiển chống lại không quân trong mọi thời tiết.
AAM cũng được Đức chế tạo ww2, nó có động cơ nhiên liệu lỏng, điều khiển bằng dây dẫn và
kích nổ bằng ngòi nổ âm thanh. Enzian là AAM đầu dò hồng ngoại thử nghiệm, không thành
công. Hai thứ này, do máy tính rất tồi (X4 AAM không có hệ điện tử) nên chưa thể chiến đấu thật
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
sự. Nhưng rõ ràng, máy bay không còn tự do với mặt đất nữa khi bay trên tầm pháo phòng
không, vốn đã rất kém chính xác. Một thiết bị được người Đức phát triển và áp dụng, tối quan
thiếu năng lực thiết bị điện tử được bổ sung bởi nhiều phát minh cơ học thú vị, như các bánh xe
ổn định ở đuôi tên lửa AIM9, nhưng để cân bằng tên lửa, con quay hồi chuyển vẫn là yếu tố quan
trọng nhất. Một việc quan trọng với cuộc không chiến của không quân ta, cái quan trọng nhất với
không chiến tầm ngắn xảy đến 28-10 năm 1958. Lúc này có một xung đột trên không ở eo biển
Đài Loan, không quân TQ yếu thế thua đau. (Bọn Tầu rất nhiều tiềm lực và hay khoe mẽ, nhưng
bao giờ không chiến cũng thua đau, ngay cả sau này Tầu và TT sang ta không chiến cùng quân
ta, cũng dở hơi thì phải, bác chiangshan có thể cho em rõ hơn về việc bọn này tham chiến trực
tiếp và kết quả của chúng được không). Tầu bị Đài Loan hạ bằng một thứ tên lửa lạ, mạnh, xa,
chính xác hơn súng máy nhiều. Một vài tên lửa bắn trượt rơi xuống biển, liền được tìm lại bằng
mọi cách và chở đến Moscow. Những quả tên lửa AIM-9 không nổ này gây ấn tượng mạnh với
các nhà kỹ thuật Soviet. Thế là, AAM chủ lực trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc Atoll ra
đời, tên lửa là phát triển tiếp theo của Enzian Đức bỏ dở trong ww2, chương trình phát triển hợp
tác với các nhà khoa học Đức . Nó nhanh chóng thay thế tên lửa đèn chiếu và trở thành tên lửa
tầm ngắn chủ lực. Ngày đó, các tên lửa này còn có đầu dò rất yếu nên chỉ có thể bắn được ở
góc hẹp và tầm ngắn. Trong lần tranh cãi trước về đuôi của AIM-9, bác Đức Xì có đưa một trang,
nói người ta không biết tại sao AIM lại được copy, rồi phỏng đoán bằng những câu chuyện tình
báo hấp dẫn. Đây là thông tin về việc copy này bác Đức xì à.
Như vậy, ước mơ về các cuộc không chiến điện tử được người Đức đặt ra từ trong ww2. Họ
không chỉ ước không, mà họ đã thiết kế và thực hiện những vũ khí không chiến chủ yếu, phụ vụ
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
cho cuộc không chiến điện tử quá tầm nhìn, điều kiện điện tử hồi đó đã không cho họ hoàn
thành. Chiến tranh Triều Tiên vẫn là trận hỗn chiến dogflight hoàn toàn. Các cuộc không chiến
trên eo biển Đài Loan, quân Đài Quốc yếu hơn nhiều quân Mỹ, thắng lợi lớn với những vũ khí tối
tân kỳ lạ. Tốc độ phát triển của kỹ thuật điện tử nhanh chóng.v.v.v Những điều đó, cho thấy linh
được thiết kế để sử dụng số lượng mới lại có thực tế chiến đấu số lượng ít.
Về lịch sử không chiến trên bầu trời bắc Việt. Có nhiều giai đoạn. Đến năn 1967, có thể chia ra
hai giai đoạn.
1: không quân nhân dân Việt Nam xuất hiện. Không quân nhân dân đã chiến đấu những trận đầu
tiên. Làm đối phương kinh hoàng bằng một lực lượng rất chênh lệch. Bản thân chúng ta chúng
gặp rất nhiều bất ngờ. Tính chủ quan xuất hiện ngay sau trận đánh đầu tiên, gây thương vong.
Giai đoạn này đã khẳng định phương pháp chủ lực của không quân ta: sử dụng ưu thế dẫn
đường mặt đất. Mỹ yếu thế hơn vì ở xa hậu phương, nhưng họ có những máy bay cảnh giới
mạnh. Mỹ cũng như ta, đều gặp phải khó khăn về kinh nghiệm chiến đấu. Các vũ khí mới làm
chiến tranh trên không hoàn toàn khác với những chiến tranh trước đây. Về cơ bản, càng đấu trí,
ta càng yếu thế do lực lượng chính lúc này là MIG-17, MIG-19 đã quá lạc hậu.
2: chiến dịch Bolo, hay "top gun", Hải quân Mỹ tìm được cách đối phó, đây là cuộc đấu trí ghay
gắt. Đây có lẽ là giai đoạn nhiều thú vị nhất. Càng ngày, ta càng yếu thế do sử dụng MIG-17 lạc
hậu. Nhưng những lần đầu tiên dùng MIG-21 lại không thành công, đến nỗi nhiều ý kiến lo sợ,
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
muốn quay lại MIG-17 và MIG-19. Bản chất đầu giai đoạn này (1967). Mỹ tận dụng ưu thế F-4 là
tầm bay xa, thời gian bay lâu, phục kích ở vùng radar ta khó theo dõi được hay bí mật bám sát
sân bay, hay lảng vảng ở xa độ máy bay F-105 ném bom.
Sau năm 1967, có thể chia ra hai giai đoạn
1: Phi công Phạm Thanh Ngân tìm ra phương pháp chiến đấu giống như chim sơn ca, bằng trận
đánh F-102, MIG-21 đã thắng trong trận đấu trí tìm cách đánh mới hiệu quả. Phi công này là
huấn luyện viên của nhiều phi công nổi tiếng như Cốc, anh bắn rơi nhiều loại máy bay nhất:->phi
công thử nghiệm chiến thuật-thử nghiệm trong chiến đấu. Đây là phương pháp chiến đấu tận
dụng triệt để hai điểm nổi trội của MIG-21. Điểm thứ nhất là dẫn đường, điểm thứ hai là không
đuôi kiểu tên lửa đặc trung cho họ nhà F thích hợp với bay đường dài, động cơ ưu việt, có thời
gian chiến đấu dài và tầm xa. Máy bay mang tên lửa điều khiên thủ công qua radar như trên. F-4
khi lượn vòng hep mất tốc độ và hoàn toàn không được các nhà thiết kế chú ý tới không chiến
tầm ngắn. So sánh nó với các máy bay không chiến hiện đại lúc đó cũng giống như F-22 bây giờ.
Chiến dịch bolo là nỗ lực đầu tiên của Mỹ tìm cách không chiến mới thích hợp với vũ khí mới.
Năm 1966. Sử dụng lợi thế là dẫn đường mặt đất, đánh trên sân nhà, các MIG gây khó khắn lớn
cho không quân Mỹ. Với thế mạnh áp đảo cả về chất lượng máy bay, không quân Mỹ bị không
quân ta gây cho nhứng thiệt hại đáng kể. Ngày nay, chũng ta biết được rằng ngày đó chúng tá
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
chỉ có vài chục chiếc máy bay đời cổ. Chiến dịch bắt đầu từ đầu năm 1967.
Miêu tả chiến dịch đó qua tranh vẽ. Robin Olds, người thiết kế chiến thuật này. phi công giầu kinh
nghiệm từ ww2 với 16 trận thắng.
Tớ đang loay hoay không biết làm thế nào để post ảnh lên, vì scan ở trường sẽ bị bọn nó tóm cổ
Vi phạm bản quyền ngay. Ở Mỹ này tội Copy right là ra khỏi trường ngay lập tức.
Bây giờ phải nhờ bác tiếp. Tôi và bác chúng ta cùng phối hợp để bản dịch cho có hiệu quả.
Thứ nhất, nếu có dịch sai, bác chỉnh lý.
Thứ hai. Tớ dịch phần nào nhờ bác post hộ ảnh phần đấy. Nhiều phần tớ chưa dịch vì không
post được ảnh thì người đọc sẽ khó mà hiểu được
Thứ 3, bác có thời gian thì dịch đỡ cho một phần. Mỗi ngày tớ nhiệt tình lắm cũng chỉ dịch được
1 tiếng thôi. Cả tuần thì chỉ dịch được vào cuối tuần. Còn lại thời gian phải học và đi làm thêm
(bắt chước Bác Hồ ngày xưa quá ha?!
Mod mấy hôm nay làm việc hiệu quả phết đấy.
Nhờ Mod chuyện này. Topic này là để cung cấp nội dung sách dịch sách nguyên bản, có một số
so sánh với tài liệu của ta, và phải ghi rõ nguồn. Đề nghị Mod chuyển hết các bài của
Một nửa các đơn vị air-to-air của Hải quân Mỹ trang bị F8 một ghế, một máy bay tiêm kích không
biết thoả hiệp (uncompromising air superiority fighter). Nhanh và cơ động lanh lẹ, trang bị súng
20mm Colt Mark 12 và 2 hoặc 4 tên lửa Sidewinder ở ngang sườn, và một bộ ra đa có khả năng
hạn chế. Phi công F8 được huấn luyện đặc biệt tốt với các trận đánh quần vòng (dogfight) và tự
hào về thành tích; Họ tin rằng máy bay của họ là loại tốt nhất trong không chiến trên thế giới. F8
xuất kích từ các tàu sân bay loại nhỏ, thuộc thế hệ Project 27 - Charlie, sản xuất từ WW 2: Essex
class carriers, Oriskany, Bon Homme Richard, Hancock, Intrepid, Lexington, Ticonderoga, và
Shangri La, vốn đều được sửa chữa để vận hành máy bay phản lực.
(đoạn này có nhiều photo nhưng chưa có điều kiện scan).
Cả KQ và HQ sử dụng F4 Phantom II, hai chỗ. Ban đầu F4 được phát triển nhằm đem lại cho HQ
lực lượng tiêm kích trang bị ra da và tên lửa, nhưng với performance so impressive, KQ cũng
chọn luôn nó làm máy bay chiến đấu đa năng. HQ gọi F4 là F4 B; KQ gán là F4C, nhưng về bản
chất chúng là một loại máy bay. Từ lúc đầu, F4C trở thành lực lượng tiêm kích chủ đạo của KQ,
nhưng F4B thì chia sẻ nhiệm vụ với F8.
Trên phần lớn các khía cạnh, F4 là một máy bay excelent. Tăng tốc nhanh, bay gấp đôi tốc độ
âm thanh ở tầm cao và siêu thanh ở tầm thấp, và có hệ thống ra đa cực mạnh vận hành bởi
người phi công thứ hai ngồi ở ghế sau. Ở F4 HQ, phi công ngồi sau là navigator, gọi là RIO
(radar intercept officer). Ở F4 KQ, phi công ngồi sau là người vừa mới tốt nghiệp bay, thường
được biết đến như GIB (guy in back). F4 của KQ cũng thường mang tổ hợp điều khiển bay dùng
cho GIB; F4 HQ thì không .
Khi không chiến, F4 có thể mang tới 8 tên lửa, 4 AIM9 tìm nhiệt và 4 tên lửa dẫn đường bằng
rada tầm xa AIM7 Sparrow. THeo xu thế, F4 không trang bị súng, và trên thực tế, ít phi công yêu
cầu lắp đặt chúng.
Bác panzerlehr post ảnh hộ.
Tớ nghỉ hai ngày để viết assignment. Thứ 5 lại dịch tiếp.
Cậu kqndvn lại quan trọng hóa vấn đề rồi. Tớ ở Mỹ đã sáu bảy năm nay scan và photo sách
trong trường đại học biết bao nhiêu lần, có ai bắt đâu. Mà cũng chẳng ai hơi đâu rãnh đi rình rập
bắt cậu đâu mà lo như con gái thế này.
Đó là chưa nói chỉ phạm bản quyền khi nào cậu photo hay scan và lưu truyền lại với mục đích
Ta nên có sự so sánh với cái đất nước Kim tự tháp một tý. Vì là nước Trung đông (còn hơn
nước VN tiền đồn),quyền lợi kinh tế sát sườn với Liên xô ,nên Ai cập được cho,bán quá nhiều vũ
khí tối tân. Mình mới nhận được Mig 21 thì nó đã có Mig 23 ngon lành nhiều.Và có bói ra con
17,19 nào đâu Nền không quân của nó cũng lâu đời. Thế mà nghe thấy giặc là gục đầu cầu
nguyện, để đến nỗi chuyên gia Liên xô mặc cả quần đùi chạy ra cứu máy bay khỏi nhứng trận
bom Do thái. Còn Việt nam được cho không,máy bay của Tàu thì quá đuội. Đến khi cái Mig21
vào VN thì năm 1970,một cái máy bay Mig21 đã được đặt lên bệ tại đại lộ Kashiskáya,ai đi đến
thăm công nhân Việt nam ở KTX Zil đều thấy nó . Mà ở LX, chiến cụ cũ mới đươkc đặt lên bệ
làm tượng đài.
Khi học sinh Việt nam đi học tại Đông Ucraine lái máy bay Mig21,đầu tiên ai cũng lắc đầu vì thể
lực yếu quá . Học trò tây họ cũng không cao lớn hơn nhiều quá,vì không quân không tuyển
người to lớn quá ,mà tuyển người gọn gàng,thậm chí thấp nhẹ để ngồi trong buồng lái thoải mái.
Thế nhưng họ vượt được qua các bài tập take off bằng máy phóng. Khi cất cánh họ chạy một
đoạn ngắn là đã kéo cần lái,bao lâu mới cải bằng. Người Việt mình không phải tập như thế,mà
vẫn làm rơi máy bay. Sau họ tìm ra nguyên nhân,do các em tiết kiệm tiền ăn để mua xe đạp,máy
khâu hay sâm Eletriacovka cho bố mẹ
nên ăn ít. Đã thế không hợp khẩu vị,các em còn lười ăn phó mát tươi . Thế là họ không phát tiền
ăn nữa,mà phát bằng phiếu. Bữa ăn có các thầy xuống tận nhà ăn để cho,ép ăn. Được ít lâu họ
mới cho tiếp tục tập. Được cái bọn đó nó hay cười,tiếng Nga kém nhưng rất tình cảm
Thế mà về nước,những người này rất giỏi. Tại hạ nhớ câu của bác nào đó trong diễn đàn là
Sadam Hussein mơ quân đội Iraq có một phi công như Hồng Nhị hay Thanh Ngân thôi. Mà họ có
lắm tiền bán dầu để mua vũ khí tối tân.Ngoài ra còn được mua chịu tới 8 tỷ rúp vàng nữa chứ.
Không quân họ hiện đại nhất các nước Ả, tới 1990 đã có khối Mig29 tối tân rồi. Mà có bắn rơi
được cái máy bay ,dù là trực thăng,nào của Liên quân đâu ?
Nghe thấy người Mỹ thì sợ xanh mặt,chẳng khác gì những cư dân Brussell Bỉ đã ngất đi vì tiếng
Thunderchief F105 bay thấp.
Rồi còn Nam tư nữa chứ. Ôi đất nước đáng thương của những người Maxedonia hèn nhát !
Những tưởng những con người gia công được gầm tank T-80 là dũng cảm. Ngờ đâu Cũng
may đã có một phi công người Serb đã dám đưa 1 chú Mig29 lên để bắn gục ngay 1 chú tàng
hình F-117
Sự thật về 9 lần xuất quân lớn của TQ, hồi trước bác nào trích, thì riêng năm 1967 LX viện trợ
cho ta 40 m Cậu panzerlehr này, tớ đâu nói rằng chuyện dịch chia sẻ với anh em là chuyện dở
đâu, phải nhắc đi nhắc lại mãi thế này, ý tớ rất rõ: thái độ và mục đích của người dịch cũng quan
trọng không kém. Còn cậu bảo rằng tớ chưa từng đóng góp gì cho box này thì lại là phán đoán
chủ quan của cậu để đốp lại tớ rồi, nhưng tớ chả trách làm gì.
Còn không rõ cậu hairscary kiếm đâu ra cái mớ luật của người tạo chủ đề trong box rồi nói giảm
đi thành "yêu cầu" hay "đề nghị" để khỏi nói quá thế này. Cậu tính nói đỡ cho ai thì tùy cậu, cái
gọi là "freedom of speech" nó dựa trên cơ sở freewill và chẳng phải bị ràng buộc gì bởi luật lệ
mang tính hành chính gì đâu. Nói đơn giản thế để thấy trên tư cách con người, tớ không đồng ý
với kiểu cấm đoán thành viên khác không được phát biểu, hay bảo dời bài của thành viên khác đi
theo vài chi tiết ngoài đề một chút đơn giản vì không vừa ý. Rồi cậu panzerlehr bảo rằng "chỉ tội
có người dù bận rộn vẫn cố gắng dành thời gian viết dịch", ai không biết điều đó là hay. Nhưng
cậu kqndvn lại bảo các cậu cấm HP vào không thì cậu ấy không tham gia, tớ nghĩ nếu đã không
nghĩ rằng cái cậu ấy làm là quan trọng nhờ "hàng hiếm" hay "bửu bối" gì đó, thì việc cậu ấy bỏ đi
nếu HP vào phát biểu cũng bình thường như bao nhiêu chuyện hàng ngày khác việc gì phải "nhờ
các bác này nọ " để không cho HP vào. Còn việc cậu kqndvn dị ứng hay không với những điều
HP nói là vấn đề của cậu ấy, "cây ngay đâu sợ chết đứng", cậu hairscary việc gì phải đa đoan
bao đồng thế này.
Còn cậu panzerlehr, như cậu nói đó cậu có tâm tình riêng của cậu, tớ cũng vậy, nên việc cậu
xem thế nào là "thọc gậy bánh xe", rồi cậu thương ghét gì con Bim nhà cậu, hay chuyện cậu có
phải cười nhiều hay ít để chống táo bón hay constipation [/b](not "contirpation") thì giữ riêng
cho cậu đi, đem lên đây làm gì Nothing personal here.
Quay trở lại vấn đề quyển Clashes, nó được dịch và trích rỉ rả trong nhiều lần tranh luận
trước đây trong Hàng không trăm năm hay các chủ đề không quân cho những lần không
chiến khác nhau. Các cậu muốn dịch lại thì tốt thôi, tại tớ thấy cậu kqndvn cũng dịch theo
từng cụm vài ba trang cho những lần không chiến khác nhau (như đã trích rỉ rả trước đây)
thay vì theo trình tự quyển sách nếu các cậu muốn chủ đề này cho cả quyển sách đó. Chỉ
là góp ý nhỏ của tớ.
Còn thì chuyện không chiến quá tầm nhìn HP nói không phải là sai đâu. AIM-7 không phải
là không hiệu quả như link cậu hairscary cho đâu. Thực tế bất ngờ luôn là một yếu tố
EB-66, EC-121 (Disco), và E-2A, rồi thêm cái tàu USS Chicago ngoài vịnh Bắc Bộ (Red Crown)
làm thành hệ thống điện tử của chúng. EB-66 hiểu nhanh thì như một hệ thống IFF lớn, chủ yếu
thu và phân tích tín hiệu radio. EC-121 thì có hệ thống radar cụ thể và có thể điều khiển chiến
trận, nhưng đâu như chỉ một hai lần thành công trong việc dẫn đường F- đến diệt MiG. Còn E-2A
thì của hải quân Mỹ, với radar chủ yếu kiểm soát khu vực gần bờ biển ta, giúp bọn máy bay Mỹ
bay vào tấn công ta thôi, cộng thêm sự giúp đỡ của USS Chicago.
Câu cậu hairscary hỏi tớ về chuyện khách quan hay không giữa tài liệu ta và Mỹ, thì xin thưa
rằng thật sự tớ chẳng nghĩ tài liệu nào khách quan hơn tài liệu nào cả .
Lối viết thì đúng là Mỹ có vẻ khách quan hơn, vì tài liệu ta ít nhiều bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuyên
truyền vốn giúp không ít cho chiến thắng của chúng ta. Nhưng chưa chắc phe nói không có vẻ
khách quan là không đúng. Tớ chẳng nói là tài liệu Mỹ khách quan hơn như cậu kqndvn gì đó,
đơn cử nho nhỏ thôi, trong quyển Clashes, Marshall Mitchel có nói là chỉ có phi công Việt Nam
chiến đấu với máy bay Mỹ, khi có không chiến ta còn không cho phi công nước ngoài lên trời.
Thực tế, phi công Bắc Hàn có đánh giúp ta đấy chứ, ta không bao giờ nói gì về điều đó, không
phủ nhận hay công nhận, nhưng liệu cái cách ông Mitchel nói tốt cho ta đoạn đó có phải để tạo
cái vỏ là ông ta khách quan để rồi những chỗ khác ông ta cũng có đề cập đến chuyện ta có thể
đã tự tạo ra những chiến công giả, hay ta tra tấn phi công Mỹ bảo chúng nói bị máy bay ta bắn
rơi, thì tớ hỏi thật cậu đâu là sự thật? Có lẽ cả cậu và tớ, và cả ông đó cũng chẳng
biết, chỉ là đánh giá chủ quan nếu nói nhẹ nhất và có ý đồ gì khác nữa nếu một người khác có
cái nhìn khác (ví dụ như HP)? Nên tớ chẳng nói bên nào khách quan hơn, đọc chơi như truyện
"ngày xửa ngày xưa " và enjoy theo cách mỗi người vậy thôi, đừng nên quảng bá là tài liệu nào
đó khách quan về những điều mà lịch sử cả hai bên cho thấy là chủ quan, nghe như các cậu đã
bị tẩy não.
áy bay chiến đấu.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
Vào những tháng cuối năm 1966, máy bay MIG của Không Quân Nhân Dân Việt Nam(VPAF),
biên chế trong trung đoàn không quân 921 rất tích cực và có hiệu quả phi thường trong việc đánh
chặn máy bay F-105 Thunderchiefs của không quân Hoa Kỳ (USAF) . Theo số liệu của họ, trung
đoàn đã hạ 9 máy bay Thunderchiefs trong tháng 12 năm 1966. Chi tiết hơn, những máy bay của
trung đoàn đã bắn hạ 2 F-105 ngày 5, ba chiếc nữa đến ngày 14. Ghi nhận của Mỹ không công
nhận việc mất máy bay trong những ngày này, nhưng lại ghi nhận việc mất tích phi công-dẫn đến
ít nhất mỗi chiếc đã mất trong ngày 5 và 8 (???????)
Chú ý rằng, chiếc máy bay F-105 rơi ngày 8/12/1966 là một sự kiện đặc biệt. Nó không nằm
trong những con số chiến thắng trong khong chiến công bố gần đây của KQNDVN, nhưng lại
nằm trong các văn bản KQNHVN gửi cho không quân Soviet. Thêm nữa, theo các thông tin gần
đây, cho thấy lúc đó chuyên gia Liên Xô có thể đã thay thế phi công Việt Nam bị thương hay
chết, hoặc là một tình huống nào đó trong một buổi tập. Một trong những chuyên gia Soviet đã
ghi được 6 chiến thắng trong năm 1966 là Sr. Lt. Vadim Petrovich Shchbakov mặc dù không có
chi tiết về những chiến thắng của ông. Có thể chiếc máy bay F-105 rơi là do ông. Như vậy giấu
đầu hở đuôi, chiếc máy bay bị bắn hạ và bị giấu ngày hôm đó lại quá nổi tiếng, có số hiệu
591820, phi công Donald Asire (KIA). Tuy số liệu của Việt Nam và Mỹ khác nhau, nhưng chắc
chắn là MIG đã thắng to, làm không quân Mỹ thiệt hại đến mức không chịu được, vị vậy, Mỹ
quyết định chặn đứng mối đe dọa từ MIG. Nỗ lực có tên chiến dịch Bolo.
Ý tưởng của chiến dịch là một kiệt tác của một nhân vật có cuộc sống rất nổi đình đám trong số
các phi công F-4 ở Đông Nam á, đại tá Robin Olds. Ông là một cựu ace P-38/P-51 của chiến
tranh thế giới, bắn hạ 12 máy bay Đức năm 1944-1945, năm 1966 44 tuổi, là CO 8th TFW với
biệt danh “Sát thủ” (chị em, hè hè hè). Ông là một mẫu phi công chiến đấu cũ: thô, nóng, nhậu
nhưng là một lãnh đạo thoải mái và là một nhà chiến thuật trực giác. Ông tin rằng, nếu đưa một
đội hình F-4 đi liền sau F-105, sử dụng cùng tần só điện đài, cùng khẩu ngữ liên lạc, đường bay,
độ cao, tốc độ thì những người phân tích của Hà Nội sẽ quên đường nhầm đó là đội hình F-105
dễ xơi, điều MIG đến, khi các MIG nhận ra đó là sự thật thì đã quá muộn. Như vậy, ông để nghị
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
–
của bác kqndvn đối với HP, đừng biến nó sang bửu bối gì đó để rồi giễu cợt người ta. Và cấm
HP không có nghĩa là cấm freedom of speech. Bao đồng hay không, thì cũng giống như tôi với
bác đang trao đổi đây thôi.
Còn thì chuyện không chiến quá tầm nhìn HP nói không phải là sai đâu. AIM-7 không phải
là không hiệu quả như link cậu hairscary cho đâu. Cứ nhìn bảng chiến thắng không chiến
của bọn Mỹ để thấy, AIM-7 chỉ sau AIM-9.
Cái bảng thống kê đó của bác chỉ cho biết số máy bay bị hạ bởi AIM-7 nói chung. Nó không cho
biết tình huống bắn hạ cụ thể, quá tầm nhìn hay trong tầm nhìn. Nó không cho biết loại AIM-7
nào, AIM-7E thường hay AIM-7E-2 cho dogfight. Nó cũng không cho biết là tốn bao nhiêu quả
AIM-7 mới hạ được một máy bay, và xem xét tỉ lệ đó để đánh giá hiệu quả, quá tầm nhìn hay
không.
Bác có thể vào Yahoo hay Google AIM-7 ra từ mạng và đọc các đoạn AIM-7 liên quan tới chiến
tranh VN. Tỉ lệ kill probability chỉ khoảng 10% cho cái đời AIM-7E quá tầm nhìn đấy. Lần trước tôi
có đưa cái link của globalsecurity. Bác vào FAS người ta nói y hệt như thế. FAS=Federation of
American Scientists thì phải, cái này tui không chắc lắm. Cái topic sinh đôi của bác kqndvn có
đưa số liệu về tầm của AIM-7. Những link khác về AIM-7 thời kỳ CTVN còn lạc quan hơn nhiều,
tầm bắn head on là khoảng 20 nm, bắn đuổi là khoảng 5.5 nm, trong điều kiện thuận lợi nhất, và
những thông số đó chỉ là lý thuyết. Người ta viết rằng tầm tối đa của tên lửa này (max. range)
vượt quá rất nhiều (far exceed) so với tầm hiệu quả tối đa (max. effective range). Nhưng đừng
vội lấy cái tầm trên để gắn vào cái quá tầm nhìn, vì đấy chỉ là trên giấy tờ.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
Một hạn chế lớn hơn là AIM-7 ít được dùng nhiều như AIM-9 do Rules Of Engagement, đầu
chiến tranh và giai đoạn Rolling Thunder, phi công Mỹ phải nhận diện máy bay trước khi
bắn vì sợ nhầm máy bay Trung Quốc hay máy bay Mỹ khác. AIM-7 ít khi được bắn từ
hay EC-121 thường bay cách Hải Phòng khoảng 50 nm. Còn lại 200 nm liệu có đủ cho khoảng
cách từ Hải Phòng tới Vĩnh Yên không. Nhớ tính đường chim bay chứ không tính đường chim đi
xe đạp. E-2A khả năng phát hiện mục tiêu trên đất liền kém nếu mục tiêu bay thấp. Nhưng nếu
mục tiêu bay cao tới 7000 mét thì là chuyện khác.
Có lẽ HP nói nôm na sao đó nuốt mất vài ba từ ngữ thôi.
Chuyện hai chiếc máy bay này còn phải bàn nhiều. Nhưng mà tôi thì cứ tự hỏi kỹ thuật HIỆN ĐẠI
gì mà radar không với tới mà vẫn phát hiện ra địch ở đâu từ tít tìn tịt đằng xa. Thế nên tôi thử đặt
lại cái câu trên của bác thành: Có lẽ HP quen xào nấu và mải diễn thuyết hùng hồn nên mới
thành ra vậy, NẾU NHƯ hai máy bay Mig-17 đó là hai chiếc bác Chơn đã tả. Mà bác Chơn chỉ rõ
thằng E-2A.
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
Cõu cu hairscary hi t v chuyn khỏch quan hay khụng gia ti liu ta v M, thỡ xin
tha rng tht s t chng ngh ti liu no khỏch quan hn ti liu no c .
Khụng phi, ý tụi núi l cỏi bi ca bỏc HP kia kỡa.
Thc ra m núi, cỏi khỏi nim BVR, hay quỏ tm nhỡn, thỡ phi sau ny ngi ta mi dựng n.
Chng ai dựng nú cho cỏi AIM-7 y c. Bỏc c tớnh bn t 20 nm (head on) trờn lý thuyt, phi
chiu quột mc tiờu liờn tc bng radar, vi tc mỏy bay, li bay i u (thc t thỡ chng
c vy), thỡ quỏ tm nhỡn cỏi quỏi gỡ na. Mt bao nhiờu lõu õu tr thnh trong tm nhỡn.
Th nờn tng cỏi quỏ tm nhỡn ca nhng nm sau vo õy, ri hựng hn rng anh nụng dõn
chõn t mt toột nm 1947 hai mi nm sau cựng Mo xõy dng k thut khụng chin quỏ
tm nhỡn, m thc ra l lm bia cho quỏ tm nhỡn ca nú vỡ mỡnh ch cú trong tm nhỡn, thỡ
lm cỏi gỡ.
To cỏc bỏc khụng thớch cói nhau: Nu cỏc bỏc thớch xo nu khụng thỡ khụng sao, nhng xo
nu ri trỡnh by nú li mt cỏch honh trỏng v hựng hn quỏ thỡ th no tụi cng chỳ ý.
Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
mà nghe: khả năng đưổi học sẽ rất cao, còn trên diễn đàn này cậu cũng không nên viết những
chuyện đó vì vô tình sẽ tạo tiền đề xấu cho nhưng ngưòi tin theo hoặc gây nên sự khó chịu cho
những ngưòi ghét cay ghét đắng tụi racist như tôi.
Thêm một điều nữa: chả có trường nào lại "mua bản quyền" một cuốn sách cho sv của mình
dùng đâu kqndnv ạ.(trừ phi sách do chính NXB của trưòng phát hành) Trừ những tài liệu nằm
trong "electronic reserve" của thư viện trường ra (được trả tiền bản quyền) thì TẤT CẢ mọi hành
động photô đều là phạm luật, dù chỉ là một trang. Luật là thế nhưng tất cả giáo sư đều photô
nhiều đoạn tài liệu cho sv vì nếu phải mua cả thì chả ai kham nổi (kể cả ngưòi da trắng "tự giác"
mà cậu khen ngợi). Điều đó có nghĩa là vẫn có thể chamm chước được (vì sách ở đây đắt qua
chừng mà lại phải dùng rất nhiều).Nếu truờng của kqdnvn tyệt diệu như vậy thì nói tên xem, tôi
có thể tìm xem để học hỏi trường hợp "độc nhất vô nhị" của hệ thống GD Mĩ. Kể cũng hay đấy
chứ
Cái này bác cần phải xem lại. Theo em bác đang nhầm lẫn giữa 2 vấn đề hoàn toàn khác nhau
đó là : khách quan và sự thật.
Bác mà muốn đọc đồ nói lên "sự thật" thì em xin mời bác đọc mấy quyển kinh thánh với Mao
Tuyển chẳng hạn Chứ khách quan ở đây chỉ là cách tác giả khai thác từ những nguồn tin
của mình để đưa ra 1 kết luận có tính lô-gích thuyết phục được cả những người ngoài cuộc thôi
bác ạ. Từ đó mới có thểsuy ra cái nào khách quan hơn cái nào. Chẳng hạn ở đây, việc bác gán
cho ông Marshall Michell này cái chuyện ông ta khen F105 với sự thật, nếu bác đưa ra bằng
chứng từ càc thông tin của bác là tại sao ông ta đánh giá sai cái F105, và nó có tính thuyết phục
như bác đã từng khoe, thì đó chính là 1 thí dụ về tính khách quan. Chứ bác cứ lôi mấy cái từ đao
to búa lớn như "sự thật" với cả "tẩy não" vào đây em nghe thấy nó dổm quá bác ạ!
Mà nếu bác đọc kỹ hơn mấy post của em, bác sẽ thấy em vẫn đợi từ đầu tới giờ những phân tích
của bác về chuyện chiếc F105 đó. Thêm vào post trên, bác có thể chỉ cho em đoạn nào trong
Clashes, tác giả "có nói là chỉ có phi công Việt Nam chiến đấu với máy bay Mỹ, khi có không
Điều lo lắng nhanh chóng qua đi, khi mà những MIG xuất hiện và phát hiện đó không phải là con
mồi F-105 hấp dẫn, mà là F-4. Chiếc MIG đầu tiên bị hạ bởi "Olds 02" Ralph Wetterhahn, chiếc
tiếp theo Captain Walter Radeker. Ban đầu Olds không may mắn. Trong báo cáo, ông ta ghi:
Trận đánh bắt đầu khi MIG rời khỏi trần mây. Không may cho tôi, một chiếc xuất hiện hướng 6
giờ. Tôi nghĩ, đó là một tai nạn hơn là một hành động chiến thuật. Ngay say đó, rất nhièu MIG
xuất hiện rơi từ trần mây ở nhiều chỗ khác nhau. Tôi gặp may, MIG đằng sau tôi chú ý tới chiếc
máy bay bay sau.
MIG rời khỏi trần mây xuất hiện trước ông, 11 giờ, khoàng cách 2000yards, chiếc này chui lại
vào trong mâyOlds cố đuổi theo Olds nã liền ba đạn, một Sidewinder và hai Sparrows. Nhưng
địch thủ đã chứng tỏ đẳng cấp, tránh cả ba đạn và biến mất vào trong mây. Tôi bẻ quặt sang trái,
đủ góc dể thoát khỏi đường bắn của chiếc MIG và hy vọng chiếc máy bay yểm hộ đằng sau chú
ý tới MIG. Trong khi đó, một MIG khác rời trần mây, xuất hiện hướng 11giờ, khoảng cách 2000
yard. Nó muốn chui trở lại vào trần mây nhưng tôi tìm cách tấn công nó.
Olds bắn liền ba đạn, một trái Sidewinder và hai Sparrows, nhưng địch thủ chứng tỏ đẳng cấp,
tránh cả ba trái và mất hút. Trong khí dó, Luck không an toần một bên sườn, một chiếc MIG tấn
công từ hướng đó và một MIG khác có thể trở thành mục tiêu sau khi né tránh. Mọi sự nhanh
chóng thay đổi. Olds tiếp:
Chiếc thứ ba xuất hiện hướng 10 giờ, bay từ trái sang phải, gần như là đối diện. Chiếc MIG thứ
nhất co khoảng cách lại còn tôi bật đốt hậu để tìm chỗ tấn công tốt hơn MIG mới. Tôi ngẩn máy
bay của tôi lên góc 45 đọ bên trong vòng lượng của chiếc MIG này. MIG lượn về trái, tôi kéo cần
lái và thực hiện đường lộn thành thùng về phải. Đường lượn có tác dụng rất tốt. Tôi cảm thấy tôi
trên đầu mục tiêu , nhìn thấy một nửa mặt trên của nó. Tôi giữ điều đó trong khi MIG kết thúc
vòng lượn, tính toán trước thời gian đó, tôi có thể lật đàng sao MIg và bám được đuôi với góc 20
độ khoảng cách 1500 yard. MIG khó nhìn thấy tôi khi tôi ở sau và bên dưới. Tôi có thể nhìn thấy
bóng nó đối diện với mặt trời khi tôi phóng hai quả Sidewinders một quả chính xác và cắt rời
cánh phải. Vài phút sau, nhóm Olds báo cáo bắn hạ 3 MIG mà không mất máy bay nào. Họ trở
về sân bay. Kết thúc vòng đầu.
Ford
Vòng thứ hai, mật tên Ford đến vùng hay gặp MIG. Chỉ huy chuyến này là , Colonel Chappie
James không bắn hạ địch thủ nào nhứng dẫn đường cho Captain Everett T. Raspberry. Lúc
hành động kết hợp với số hai, Stone đặt MIG vào vị trí bắn thuận lợi của số 4 Philip P. Combies
("Rambler 04"). Stone kể về trận đánh:
Chúng tôi bay ở độ cao 4800met và tốc độ khoảng 1000km/s. Một lúc sau khi hoàn thành một
vòng Tây Bắc, chúng tôi nhận thấyy một đội 4 MIG đang đí hàng dọc ở khoảng cách 8km, góc 2
giờ thấp hơn chúng tôi. Hơn hai MIG xuát hiện phía sau khoảng 3km. Khi MIG chéo qua trước
Stone, Stone bỏ thùng dầu phụ, rẽ trái và bắt đầu đuổi theo. Vì điều đó, đội hình bai trải rộng ra
bên phải. Stone cảm thấy vị trí của mình hơn cao hơn và ở rìa bên phải những máy bay khác.
Stone giữ van dầu ơ rmứ nhỏ nấtk hi bắn dàu trận đánh, MIG bẻ gấp sang trái, trận đánh bắt
đầu. Stone kể tiếp. Tôi chọn lấy một MIG và đuổi theo nó bằng radả của mình. Tôi không nghĩ
rằng chúng tôi chịu đựng 4G-chưa bao giờ như thế mà bình yên vô sự. Tôi quyết định sử dụng
chiến thuật của phi công Hải Quân, thu hẹp khoảng cách theo radar như trên, nhưng bằng cách
nhìn qua vạch ngắm chữ thập. Khi tôi thực hiện điều đó, tôi đang ở vị trí bên trái, tôi ấn nút bắn,
nhả ra, rồi lại ấn và thả lần nữa. Tôi không nhìn thấy quả Sparrow đầu tiên. Tuy nhiên tôi dõi theo
được quả thứ hai từ lúc bắn đến khi chạm mục tiêu. Tôi bắn quả này từ khoảng cách nhỏ hơn
2000yards, độ cao 3500met và rẽ sang trái. Quả đạn thứ hai đấnh trúng đuôi MIG, một giây sau
bùng lên một quả bóng lửa da cam to tướng.
Mộ giấy sau, MIG thứ hai bị F-4C Phantom "Rambler 02" hạ, có vẻ như bằng tên lửa Sparrow do
phi công Lawrence Glynn bắn. Đó là MIG thứ ba do đội "Rambler" hạ, đưa tỷ số toàn trận đánh
lên đến 7:0. Tổng kết, trận đánh Bolo ngày 2 tháng giêng năm 1966:
555 TFS, 8 TFW F-4C R. Wetterhahn J.Sharp AIM-7 MiG-21
555 TFS, 8 TFW F-4C W. Radeker II J. Murray III AIM-9 MiG-21
555 TFS, 8 TFW F-4C R. Olds C. Clifton AIM-9 MiG-21
555 TFS, 8 TFW F-4C E. Raspberry R. Western AIM-9 MiG-21
433 TFS, 8 TFW F-4C P. Combies L. Dutton AIM-7 MiG-21
433 TFS, 8 TFW F-4C J. Stone C. Dunnegan AIM-7 MiG-21
433 TFS, 8 TFW F-4C L. Glynn Jr. L. Cary AIM-7 MiG-21
Tuy nhiên, phía không quân nhân dân Việt Nam thông báo chính thức họ mất 5 MIG hôm đó,
cộng thêm chiếc thứ sáu phi công nhảy dù do hết dầu. Có thể MIG hết dầu do hư hại thùng dầu
vì trận đánh. VNAF công nhận Mỹ thắng trắng trong ngày hôm đó. Thất bại của VNAF và trận
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
chiếc máy bay bị mất và bị giấu sau này lại quá nổi tiếng.
Nhìn chung, không quân Nhân Dân Việt Nam (VNAF) đã thắng lợi. Thắng lợi còn trở nên sáng rõ
hơn nếu hiểu rằng, ta lấy súng bắn nhau với tên lửa, lấy MIG-17 hạ F-105, F-4. MIG-21 và MIG-
17 đều là nhứng máy bay không chiến trong đội hình rất lớn, do đó, chúng mang ít vũ khí.
Người Mỹ không ngại gì khi tuyên truyền, họ có thể bịa ra những con số "biết nói" nhất trên đời.
Ví dụ, tổng kết chiến tranh TT, không quân Nga-Tầu-Bắc Hàn thắng lợi lớn, tỷ số chung là
khoảng 300:1400. Nhưng rất nhiều sách báo tài liệu v.v.v.v của Mỹ hết toáng: Mỹ thắng 10:1.
Thật là coi nười đọc như trẻ con.
Trong chiến tranh Việt Nam cũng vậy, chỉ hai phi công kỳ cựu Mỹ trở thành ace, trong khi đó, Việt
Nam có nhiều Ace. Em khoái nhất Phạm Thanh Ngân, phi công sáng tạo nhất, nhưng chuyện kể
về ông không nhiều.
Ở đây, em chỉ ngắn gọn giới thiệu ba phi công Bẩy, Soát, Cốc, theo con mắt người nước ngoài.
Các bác sẽ thấy, MIG-17 giáo chiến và bắn hạ F-105 và F-4 thế nào, súng bắn nhau với tên lửa
thế nào.
Nói về chiến tranh VN cũng vậy. Em đã từng dọc thấy một cậu 20 tuổi người Mỹ kêu: "trận nào
chúng ta cũng thắng, tại sao chúng ta lại thua. Chúng ta không thua, chúng ta chỉ rút lui". Chiến
tranh trên không cũng không nằm ngoài điều đó. Trong các sách vở viết về CTVN của Mỹ, luôn
luôn Mỹ thắng to. Em ví dụ như nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng: 12 ngày đêm thất bại thảm thương
của Mỹ. Mỹ đùng đùng bỏ bàn đàm phán, quay lại ném bom, định bắt chúng ta phải nhượng bộ.
Diễn biến trận đánh thế nào các bác đã bàn nhiều rồi. Quay lại bàn đàm phán, ở cửa phòng họp,
trước mặt đông đảo phóng viên, Kít giơ tay xin bắn tay bác Thọ nhà ta. Bác Thọ nhà ta không
bắt, chửi cho một trận tơi bời khói lửa: rằng là Kít lật lọng sắp ký hiệp định rồi còn quay về đánh
nhau, rằng là nay bị đòn mới quay lại ký. Kit im thít, thua trên chiến trường làm cho hành động lật
lọng trên bàn đàm phán không thể biện lý được. Thế nhưng ngày nay các "tài liệu" Mỹ nói về trận
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
freedom of speech mà thôi, bất kể đó là thành viên nào. Tỉ dụ cậu hairscary đem chuyện dị ứng
của cậu kqndvn ra để biện minh cho hành động đúng thì ok, còn nếu biện minh cho cái gì khác
cái đó thì gọi là bao đồng đấy.
Trở lại chuyện kỹ thuật với cậu hairscary, ai chẳng biết cái bảng ấy là chung mọi A-to-A kill
của Mỹ. Nhưng tớ nêu ra để cậu thấy rằng AIM-7 nó chỉ sau AIM-9 thôi trong chiến tranh Việt
Nam. Mà bắn AIM-7 từ 5 km đến 10km trúng, máy bay F- chẳng quần vũ gì cả thì sao gọi là
dogfight. Cho cậu cái định nghĩa dogfight này:
Dogfight thường đề cập đến cận chiến tầm dưới 3km. Dogfight nghĩa là phải đuổi nhau và
quần vũ.
Còn chuyện BVR là thế nào. Có hai định nghĩa cho nó, tương đối và tuyệt đối (usually, referred to
as true BVR). Tuyệt đối nghĩa là ngoài 15nm khai hỏa nghĩa là BVR, bất kể head-on hay không.
Cái này thì phải đến chiến tranh vùng Vịnh lần một mới có tình huống chiến trận thật ngoài 25nm
và được công nhận. Tương đối nghĩa là tiêm kích có thể xác định mục tiêu qua radar hay
phương pháp nào khác và bắn mà không visually identify theo nghĩa thực nhất - bằng mắt, có thể
vì hôm nào thời tiết xấu, không nhìn ra mục tiêu chỉ ở 7km chẳng hạn. Nhưng cái 7km đó chẳng
thể nào là dogfight nhé, chẳng túm lại gì hết nhe , cái đó là BVR tương đối, chẳng thế mà người
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
ta phải dùng chữ true BVR để phân biệt, cậu chỉ nói true BVR, nhưng mấy thứ còn lại chẳng thể
là dogfight cả được.
Nhắc lại tớ nói rằng kỹ thuật BVR được xây dựng từ giai đoạn chiến tranh Việt Nam, điều này
hoàn toàn đúng, cậu hairscary chỉ đem true BVR hiệu quả hay không ngay trong chiến tranh Việt
Nam ra bắt bẻ, tớ không nói điều này, thấy chữ "xây dựng" rõ to của tớ nhe.
của chiến tranh Việt Nam, chứ liên quan gì chuyện phát triển tên lửa BVR nói chung mà cậu bảo
không phải xây dựng nó ngay từ đầu. Luật lệ nói chung đặt ra vì có lý do của nó, nhưng đồng
thời khi những lý do đó mất hiệu lực của nó thì bỏ luật lệ đó thôi. Gần cuối Rolling Thunder khả
năng IFF của Mỹ tốt hơn, và chuyện visually identify bị bỏ dần. Còn đến LineBacker I và II thì chả
liên quan gì mấy ROE nữa, lúc đó Mỹ "quê" rồi, thứ gì nghi vấn là nó bắn cả, ROE chả còn hiệu
lực gì, ở đây do thay đổi mang tính chính trị .
Còn cậu muốn tớ hầu chuyện cậu về true BVR phát triển từ trong chiến tranh Việt Nam thì cũng
được thôi. Giai đoạn nửa sau 60s và đầu 70s là thời gian Mỹ phát triển AIM-54, thử qua nhiều
máy bay với các loại radar khác nhau, thất bại trên F-111, sau đó chuyển qua AN/AWG-9 trên F-
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
– Allrights reseved by Rosea
HD300306008 http:// hoanghai.net.ms
14. Giai đoạn 1971-1972, Mỹ có cho mẫu F-14 vào thử radar và tên lửa gần Đồng Hới. Tớ có coi
mấy thước phim đó trên Wings Channel cách đây vài năm.
Nhiều yếu tố hội thành true BVR capability và chúng đều được phát triển từ chiến tranh Việt Nam
là chính, như AWACS, IFF, động cơ và đầu dò tên lửa cho AIM-7, AIM-54, các phương pháp bắn
thụ động theo radar Chỉ đơn cử chuyện tầm của AIM-7E lên đến 30 km thì tớ cũng đã có đủ
mọi dẫn chứng thực tế để nó là BVR rồi, nhưng tớ có thể đồng ý với ý cậu là cái ấy không phải
tầm hiệu quả. Nhưng tớ không đồng ý là BVR chỉ có sau này như cậu nói, nhắc lại là cả dạng
tuyệt đối BVR (true BVR) đều được phát triển từ chiến tranh Việt Nam trong nổ lực của Mỹ nhằm
khắc phục hạn chế của ROE.
Còn chuyện radar của mấy cái máy bay điện tử, cậu giỏi đi tra ra tầm radar nó, nhưng cho tớ hỏi
nhẹ thôi nhe: cậu biết EC-121 dò liên tục được bao nhiêu mục tiêu một lúc không. Cậu đi tra đi
rồi tiếp tục. Nên nói Mỹ có máy bay điện tử bao phủ cả miền Bắc là chỉ nghe theo thông tin tuyên
truyền của chúng nó trước đây ở miền Nam, nếu cậu có một mớ radio signal mà chả phân tích
nhiều mục tiêu được vì máy tính kém mà gọi là "bao phủ" cả miền Bắc thì quả là quá đấy. Trong
phạm bản quyền nghiêm trọng đấy. Mấy kẻ mà photo hay scan sách gốc cả quyển nó xử một, thì
loại mà dịch ra ngôn ngữ khác mang lại giá trị thương mại mới nó xử mười đấy. Tớ nói về
chuyện scan hay photo chẳng ai rình bắt cậu để cậu bớt yếu bóng vía kiểu con gái nhằm đem tư