đề án
25
Trong những năm qua, Việt Nam tích cực mở rộng các mối quan hệ, tham
gia tích cực vào các tổ chức kinh tế quốc tế nên thị trờng xuất khẩu hàng hoá
của Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt theo chiều hớng đa dạng hơn. Trớc
kia, hàng hoá của Việt Nam chủ yếu xuất sang Liên xô và các nớc XHCN.
Nhng từ những năm 90 trở lại đây do sự sụp đổ của hệ thống này, hàng hoá của
ta xuất sang những thị trờng mới ở nhiều châu lục khác nhau. Thị trờng xuất
khẩu của Việt Nam đợc mở rộng nh vậy là nhờ vào chính sách đa dạng hoá
mặt hàng và đa phơng hoá các quan hệ kinh tế thơng mại. Mỗi mặt hàng khác
nhau đã xuất đi nhiều nơi trên thế giới để vùa khai thác đợc lợi thế của thị
trờng vừa phân tán đợc rủi ro. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với
120 nớc và vùng lãnh thổ.
Hàng năm doanh số xuất khẩu chè chiếm trên 90% trong tổng số doanh
thu của Tổng công ty cho nên vấn đề chính là thị trờng nớc ngoài. Đây là triển
vọng để Tổng công ty có thể mở rộng thị trờng, khuếch trơng uy tín của Tổng
công ty trên thị trờng thế giới. Để thực hiện những mục tiêu trên thì vấn đề cốt
yếu đầu tiên phải giải quyết là thị trờng tiêu thụ, vì đó là mục tiêu lớn nhất để
cho một ngành hàng kinh tế kỹ thuật phát triển, nó quyết định toàn bộ quá trình
kinh doanh và sự phát triển trong tơng lai. Để giữ vững đợc thị trờng đã có
và ngày càng mở rộng nhiều hơn điều quan trọng là phải tạo ra đợc sản phẩm
chè có chất lợng cao, bao bì đẹp thu hút đợc ngời tiêu dùng, giá thành hợp lý,
sản phẩm cạnh tranh đợc trên thị trờng mà trong đó chất lợng là nhân tố
quyết định hàng đầu. (Xem biểu3)
Biểu3: Thị trờng và doanh thu xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt
Nam.
Đơn vị tính: USD/Năm
Năm
4.624
957.520
Đức 104.564 83.284
Syria 402.443 412.767 1.532.049
156.684
Iraq 7.961.889
1.762.181
31.589.909
28.065.690
Libi 2064812 1.090.743Mỹ 90,362 11,541 70,917
Srilanka 126.01
172.800
Nguồn của tổng công ty chè
Mặc dù đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể song thị trờng xuất khẩu
chè của chúng ta còn nhiều yếu kém, cha thâm nhập đợc vào các thị trờng lớn
nhiều tiềm năng, đặc biệt khi gặp các đối thủ nặng ký Tổng công ty trở nên
quá nhỏ bé và chịu nhiều thua thiệt. Vì vậy, trớc mắt chúng ta đặc biệt là
Tổng công ty chè cần chủ động hơn nữa trong việc tìm kiếm và khai thác thị
trờng mới, duy trì và củng cố những thị trờng truyền thống với sự hỗ trợ của
nhà nớc trong việc khai thác các mối quan hệ kinh tế chính trị, ký kết các
thỉtờng mới đầy tiềm năng nh :irap, Nhật Bản, Mỹ không còn phụ thuộc vào
thị trờng Liên Bang Nga và các nớc Đông Âu nh trớc kia, và hiện na chúng
ta có rất nhiều mối quan hệ với các nớc bạn hàng. Điều nay làm cho các doanh
nghiệp của nớc ta học hỏi đợc rất nhiều điều và nắm bắt đợc những thông tin
quan trọng, làm cho các doanh nghiệp chủ động trớc những sự biến động của
thị trờng, chúng ta đã tạo ra nhiều giống tốt để ohục vụ cho qua trình xuất khẩu
trình độ quản lý cũng đợc cải thiện, trình độ thâm canh cây chè cung đợc từng
bớc nâng cao
2. Những hạn chế còn tồn tại
đề án
28
- Trong sản xuất nguyên liệu: Năng suất bình quân thấp do tổ chức sản
xuất sai lầm trong nhiều năm.
Một thời gian dài trớc đây, chè đợc phát triển tràn lan theo kiểu rải
mành mành, tập trung vào quảng canh.
Bộ giống chè nghèo, không có giống tốt, giống đặc sản.
Việc quản lý chăm sóc kém, mất khoảng nhiều do đầu t không đủ, quy
trình kỹ thuật cha đợc thực hiện nghiêm túc, không thâm canh ngay từ đầu.
Cộng với việc khai thác quá mạnh làm cây chè chóng cạn kiệt, rút ngắn chu kỳ
kinh doanh, sớm phải thanh lý.
Dùng nhiều phân vô cơ làm đất bị nghèo dinh dỡng, độ pH tăng cao.
Vờn chè thiếu hay không có cây bóng mát do nhận thức sai lầm rằng đây
là nơi trú ngụ của sâu bệnh nên đã cho chặt. Thiếu cây bóng mát làm cho đất bị
xói mòn, mực nớc ngầm xuống thấp, chè bị héo vào những tháng nóng.
Vờn chè không đợc quan tâm đồng đều. Thậm chí ngay trong một xí
nghiệp, có vờn chè tốt có vờn lại rất xấu. Có vờn đợc đầu t đúng mức, canh
tác đúng quy trình có thể đạt năng suất 15 - 20 tấn/ha. Có vờn bị buông lỏng,
khoán trắng chỉ khai thác, không đầu t làm năng suất chỉ còn 1,6 tấn/ha. Đặc
+ Quản lý: Vẫn còn nhiều đơn vị vì lợi ích cục bộ, chỉ chạy theo số lợng
cốt hoàn thành kế hoạch mà không có trách nhiệm với ngời tiêu dùng, không
quan tâm duy trì và cải tiên, làm cho chất lợng sa sút ảnh hởng tới chất lợng
chung của Tổng công ty. Đây là hậu quả của cơ chế cũ. Ngành chè ra đời và phát
triển trong thời kỳ hệ thống XHCN còn vững mạnh. Ta đã nhận đợc thiết bị chế
biến qua con đờng viện trợ không hoàn lại hay trên cơ sở hợp tác u đãi. Phần
lớn chè đợc xuất dới dạng bán thành phẩm. Sản phẩm sản xuất ra dù có chất
lợng hay không đều có thị trờng tiêu thụ ổn định. Sản xuất đến đâu bán hết
đến đó do đợc bao cấp cả đầu ra. Chính cơ chế này đã gây ra sự trì trệ và thói
quen coi thờng chất lợng ở một số cán bộ. Điều này đã thực sự làm cho tiêu
thụ chè nói riêng và hàng hoá Việt Nam nói chung bị "sốc" khi khối XHCN sụp
đổ, thị trờng cũ đột ngột co hẹp, buộc phải vơn ra các thị trờng mới mà chất
lợng mới chính là yếu tố cạnh tranh để sống còn.
- Tuy Tổng công ty đã mở ra nhiều thị trờng mới nhng cha có bạn hàng
thực sự lâu dài, thậm chí còn bị mất thị trờng chè vàng ở Hồng Kông. Nguyê
nhân là do:
đề án
30
Sản phẩm còn đơn điệu về chủng loại, mẫu mã, bao bì, ta chủ yếu xuất chè
có kích thớc và kiểu dáng tự nhiên. Trong khi ngời tiêu dùng đặc biệt ngời
tiêu dùng ở các nớc t bản lại a thích sản phẩm tiện dụng và cho phép tiết
kiệm thời gian.
Cha hình thành hệ thống phân phối trực tiếp ở nớc ngoài. Ngay cả ở các
thị trờng truyền thống, các thị trờng lớn nh Nga, I rắc cũng vẫn phải bán
qua các nhà nhập khẩu của họ. XK phải qua nhiều khâu trung gian vòng vèo (do
cơ chế trả nợ).
Với vai trò nhỏ bé trên thị trờng thế giới và tình hình chất lợng nh hiện
nay, chúng ta cha có khả năng áp dụng nhiều chính sách giá nh giá tấn công,