đề án
37
ngành chè, mức thu nhập bình quân ngày một tăng và hiện nay toàn ngành tiếp
tục phấn đấu nâng lên 500 ngàn dồng/tháng.Đây có thể coi là việc doanh nghiệp
thực hiện vai trò Nhà nớc nhỏ điều chỉnh thị trờng, phân phối lại thu nhập,
từ đó làm động lực của quá trình quy hoạch xây dựng các vung nguyên liệu. Đây
xẽ là những vùng sản xuất chè nguyên liệu ổn định nhất và là nguồn cung cấp
sản phẩn thờng xuyên cho nội tiêu và xuất khẩu. Việc quy hoạch lại vùng
nguyên liệu tạo ra sự ổn định sản xuất sẽ có vai trò định hớng và đòn bẩy nhằn
thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất tăng sản lợng.
*Tăng cờng công tác thị trờng
Thị trờng cho sản phẩn chè bao gồm thị trờng trong nớc và thị trờng
thế giới. Đối với thị trờng nội tiêu, nhu cầu ngày càng ra tăng, đòi hỏi chất
lợng chè ngày càng cao hơn và đa dạng về chủng loại, nhất là chè đặc sản nh
chè Shan tuyết, chè hữu cơ chè hơng và đặc biệt là chè đen cao cấpt úi lọt.
Tuy nhiện, nhu cầu về các loại chè xanh truyền thống có tiếng lâu đời trong dân
gian vẫn rất lớn. Muốn chiếm đợc thị trờng trong nớc , ngành chè cần thay
đổi trong nhìn nhận thị trờng trong nớc, trong sản xuất đẻ chế tạo ra đợc
những sản phẩn đáp ứng yêu cầu của ngời tiêu dùng. Đối với những loại chè đặc
sản trồng ở vung cao , vùng xa, đi đối với chế biến cần phải hình thành tổ chức
để cung cấp cho các thị trờng lớn ở vùng đồng bằng.Đối với thị trờng xuất
khẩu chè Việt Nam đã có mặt trên thị trờng thế giới nhiều thập kỷ và đứng hàng
thứ 6 về khối lơng xuất khẩu. Trong hơn 30 nớc nhập khẩu chè của ta đã có
những thị trờng trở thành bạn hàng quen thuộc, có những thị trờng mới. Do
vậy củng cố và tìm kiến thị trờng xuất khẩu chè là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của chiến lợc phát triển ngành chè. Với thị trờng quen thuộc nh
Liên Bang Nga, các nớc thuộc khối SNG và các nớc Đông Âu cần phải tăng thị
phần nhập khẩu của họ đối với sản phẩn chè của Việt Nam và khâu cải tiến về
bao bì nhãn mác, đặc biệt chất lợng chè phải đợc chú trọng. Thị trờng Trung
mạnh việc quản lý dịch hại tổng hợp ( IPM ), áp dung các chế phẩn thảo mộc.
Tuyệt đối không đợc sử dụng các loại thuốc cấm, thuốc có tồn d lâu ngày, tuân
thủ thật tốt thời gian cách ly cần thiết khi tu hái chè.Thuốc trừ sâu sẽ do xí
nghiệp cung cấp, dân thực hiện phun khi có sâu.
+Xây dung bổ xung và hoàn thiện các công trình phụ trợ trên đồi chè, đảm
bảo các điều kiện sinh thái nh bể nớc, cây che bóng và tới tiêu nớc trên đồi
chè. Riêng thuỷ lợi trên đồi chè rất cần co sự hỗ trợ đầu t của nhà nớc về các
đề án
39
công trình đầu mối và tuyến trục đến đầu mối nơng đồi, giúp giảm chi phí trực
tiếp trong giá thành sản phẩn chè.
-Thu hái và bảo quản:Trớc đây khi cần nhân nguyên liệu không có tình
trạng ngyên liệu trong cấp no lại có tỷ lệ phần trong cấp kia, chẳng hạn trong B
có A có C hay trong B có C,D. Chính hàng loạt doanh nghiệp Phi quy trình kỹ
thuật tranh chấp thu mua nguyên liệu đã làm việc phát sinh dần việc hái lẫn loại
, mua giá vựơt cấp, tác động sấu trở lại sản phẩn , thậm trí nhiều vùng dân c thu
hái không cần phẩm chất, chỉ cần thảo thuận theo lô nguyên liệu. Rất cần thiết áp
dụng trở lại việc thu hái đúng cấp, đúng trật, đúng số lá chừa, sửa bằng mặt tán
để vừa tăng năng suất đồi chè 10 15,5 vừa có chất lợng nguyên liệu đúng,
đây cũng là cơ sở tiền đề cho chế biến công nghiệp không lẫn loại, tiết kiệm,
hiệu quả.
Đê thực hiện đợc mục tiêu trên, đầu t phát triển các vùng chè và đổi mới
thiết bị công nghệ các cơ sở chế biến thì nhu cầu về vốn đầu t cho sản xuất
nông nghiệp trồng mới , chăn sóc chè (1999- 2000) là 2.107 tỷ đồng; Nhu cầu
vốn đầu t cho công nghiệp gồm thiết bị, nhà xởng là 2.628 tỷ đồng. Đây là
số vốn lớn nhất cần tạo ra từ các chính sách thu hút vốn đầu t trong nớc và
ngoài nớc, trong đó việc huy động vốn trong nớc là quan trọng nh vốn của
dân , vốn từ các chơng trình 327, 773Mặt khác cần có sự hỗ trợ của nhà nớc
thiết bị, hoá giá tài sản, tạo điều kiện cho ngời lao động đóng góp cỏ phần bằng
những hình thức khuyến khích nh cho vay dài hạn đợc nhà nớc bảo hộ, áp
dụng tỷ lệ lãi suất thấp, mua cổ phiếu và các hình thức tín dụng nhân dân khác.
Bên cạnh đó cần nâng cao hơn nữa vai trò của hiệp hội chè Việt Nam làm chỗ
dựa cho các hội viên. Cần tổ chức cho các hệ thống thu thập thông tin về thị
trờng chè, tăng cờng tiếp tiệp, quảng cáo để mở rộng thị trờng chè xuất khẩu
. Đây sẽ là cơ sở để tạo dựng sự tăng trởng cao cho ngành chè trong tơng lai
* về nguồn hàng:
Nguồn hàng để ohục vụ cho quá trình xuất khẩu thờng đợc Tổng công
ty chè Việt Nam đảm nhiện .Với đặc thù của một DNNN lớn, lại hoạt động trong
một ngành đợc Nhà nớc giao nhiệm vụ góp phần phát triển kinh tế miền núi,
vùng sâu, vùng xa, việc quản trị nguồn hàng của Tổng công ty không chỉ nhằm
đảm bảo đủ nguồn hàng XK mà còn phải phát triển đợc vùng nguyên liệu, phát
triển đợc sản xuất ở các đơn vị thành viên. Quan hệ giữa Tổng công ty với các
đề án
41
nhà cung cấp trong ngành trong thời gian tới vẫn là quan hệ hợp tác, hỗ trợ, nên
tổ chức quản lý nguồn hàng theo hớng sau:
- Liên kết giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở hai
bên cùng có lợi.
Tổng công ty đã có những thành công đáng kể trong việc tạo ra các mối
liên kết này trong phạm vi quản lý của mình, nên tiếp tục duy trì và củng cố. Gắn
hơn nữa lợi ích ngời sản xuất nông nghiệp với lợi ích của sản xuất công nghiệp
và XK. KNXK tăng phải kéo théo năng lực sản suất ở các đơn vị sản xuất tăng và
đời sống ngời trồng chè đợc cải thiện.
Bên cạnh đó, từng bớc thống nhất lợi ích giữa các đơn vị thuộc Tổng
công ty và các đơn vị khác trong cùng một địa bàn (ở vùng chè lớn hay trên toàn
tỉnh) nhằm loại bỏ yếu tố cạnh tranh không lành mạnh, gây phơng hại tới lợi ích
biện pháp mạnh nh thu lại đất chè.
Khuyến khích phát triển các mô hình trang trại và tiểu trang trại. Có thể
tham khảo một số công thức đã có kết quả nh (5+10+4) (với trang trại) và
(2+3+5) (với tiểu trang trại). Nghĩa là: chè cà phê, các cây công nghiệp khác
chiếm 2 - 5 ha, rừng khoanh nuôi chiếm 3 - 10 ha, nuôi 4 loại gia súc (trâu, bò,
lợn dê, hơu, ). Xoá bỏ thế độc canh, thực hiện đa dạng cây, con, hoa màu để
phân tán rủi ro.
*Chơng trình cải tạo đất, giữ ẩn cho vờn chè:
Làm cho đất mầu mỡ trở lại: bằng cách bón phân sinh hoá tổng hợp, phân
vi sinh, ép xanh , tủ cỏ, trồng cây phân xanh, cây bóng mát để tạo mùn và giữ ẩn
cho vờn chè, hạn chế bón phân vô cơ đơn lẻ. Chỉ đạo các đơn vị htực hiện khửa
chua cho đất, làm rãnh thoát nớc cho vờn chè, hía chè tơi theo thớc, năm
2002 đa 15% diện tích chè đợc hái và đốn bằng máy.
Thực hiện tới cho cây chè bằng biện pháp hợp lý, phù hợp với từng điều
kiện nh: tạo hợp thuỷ, đắp hồ ngăn nớc, đào giếng, khoan giếng, làm hồ trên
đồi., sử dụng hiều hình thức tới phun khác nhau: tới bằng nớc tự nhiện,
phân bón hoà nớc vào gốc chè Thực hiện khửa chua cho đất bằng cách bón
vôi. Năm 2002 cả nớc có 8 công ty thực hiện tới cho 35% diện tích chè, các
công ty khác đảm bảo 20-25% diện tích chè đợc tới.
Từ năm 2001 tổ chức sản xuất 30.000 tấn phân hữu cơ vi sinh tổng hợp
dặc chủng cho chè đã đợc kiểm nghiệm trong thời gian qua để bón phân trên