Thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài Loan tại Cty cổ phần đầu tư và thương mại - 4 - Pdf 19

so với năm trước do Công ty đã nhận thấy tầm chiến lược và đẩy mạnh hoạt động này.
Năm 2001, có xu hướng giảm về doanh thu so với năm 2000 là 18,25%, tương ứng với số
tiền là 158 triệu đồng. Có sự giảm sút này là do sự biên động về kinh tế của một số nước
đã ảnh hưởng trực tiếp đến các nước tiếp nhận lao động ở nước ngoài. Nhu cầu tiếp nhận
lao động nước ngoài ở một nsố nước giảm xuống do nhiều doanh nghiệp bị phá sản, thu
hẹp sản xuất. Còn tại các thị trường trọng điểm như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,
nhiều ngành nghề đã bị lao động các nước khác chiếm lĩnh.
Sau biến động kinh tế của năm 2001 thì năm 2002,2003 doanh thu lại tăng cao.
Doanh thu 2002 tăng so với 2001 là 300,28% tương ứng với số tiền là 2.113 triệu đồng,
năm 2003 tăng so với năm 2002 là 30,14% tương ứng với số tiền là 853 triệu đồng. Có sự
tăng trưởng đáng kể như vậy là do người lao động đã thực sự nhận thấy lợi ích từ xuất
khẩu lao động, bên cạnh đó là sự chú trọng vào phát triển hoạt động của Công ty.
- Về lợi nhuận: Song song với sự gia tăng của doanh thu thì lợi nhuận cũng tăng
qua các năm, chỉ có năm 2001 có giảm so với năm 2000 do doanh thu giảm. Và các năm
2002, 2003 lại có sự tăng vọt.
Cụ thể: Lợi nhuận năm 2000 tăng so với năm 1999 là 96,18% tương ứng với số
tiền là 285 triệu đồng. Năm 2001 giảm so với năm 2000 là 12,18% tương ứng với số tiền
là 47 triệu đồng. Năm 2002 tăng so với năm 2001 là 225,66% tương ứng với số tiền là
765 triệu đồng. Năm 2003 tăng so với năm 2002 là 31,52% tương ứng với số tiền là 348
triệu đồng.
- Về chi phí: Cùng với sự tăng, giảm của doanh thu và lợi nhuận qua các năm, chi
phí cũng có sự thay đổi tương ứng. Năm 1999, chi phí là 209 triệu đồng; năm 2000 là 479
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
triệu đồng; đến năm 2001 giảm xuống 368 triệu đồng; năm 2002, 2003 lại tăng cao đến
1.726 triệu đồng và 2.231 triệu đồng.
- Về nộp ngân sách Nhà nước: xuất khẩu lao động là hoạt động đã đóng góp cho
Ngân sách Nhà nước một mức khá cao trong các năm 2002, 2003. Năm 1999 chỉ đạt 46
triệu đồng, năm 2000 là 138 triệu đồng. Đến năm 2001 có giảm xuống do doanh thu của
hoạt động này giảm, còn 98 triệu đồng. Năm 2002, 2003 do doanh thu tăng cao nên mức
nộp ngân sách Nhà nước cũng tăng lên tới 424 và 552 triệu đồng.
Mặc dù năm 2001 có sự biên động kinh tế làm doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân

2003 là 6,11 triệu đồng/người.
Doanh thu từ thị trường Palau là khá cao và rất ổn định qua các năm. Vì vậy đây là
thị trường mà Contrexim - TM tiếp tục khai thác mạnh trong những năm tới.
* Thị trường Nhật Bản: Thị trường này chủ yếu tiếp nhận lao động Việt Nam đi tu
nghiệp và thực tập kỹ thuật (gọi chung là tu nghiệp sinh). Tu nghiệp sinh Việt Nam sang
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
tu nghiệp tại Nhật Bản theo nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có lĩnh vực dệt, may,
điện tử và xây dựng chiếm tỷ lệ lớn.
Số người đi qua các năm là rất nhỏ, năm 1999 không có người đi, năm 2000 chỉ có
23 người đi và ngày càng giảm mạnh. Năm 2001 là 9 người, năm 2002 là 5 người và năm
2003 có tăng lên 30 người. Doanh thu trên 1 người đi năm 2000 là 12,39 triệu
đồng/người, đây là con số khá cao, nó có giảm qua các năm tiếp theo; năm 2001 là 11,56
triệu đồng, năm 2002 là 11,6 triệu đồng và năm 2003 tăng vọt lên tới 26,73 triệu đồng. Sở
dĩ năm 2003 có sự tăng vọt như vậy là do trong đó có số tiền đặt cọc của 14 người lao
động đang trong thời gian hợp đồng đã bỏ trốn.
So với thị trường Palau thì thị trường Nhật Bản đem lại doanh thu trên một người
đi lớn hơn. Tuy nhiên một khó khăn lớn cho bên xuất khẩu lao động là tại thị trường này
số lượng lao động bỏ trốn là khá cao. Riêng năm 2003 , trong tổng số lao động xuât đi đã
có tới 14 người bỏ trốn. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động
và uy tín của Công ty với phía đôí tác. Trong thời gian tới, việc ổn định thị trường Nhật
Bản đang là một thử thách lớn cho ngành xuất khẩu lao động Việt Nam nói chung và xuất
khẩu lao động của Contrexim - TM nói riêng.
* Thị trường Đài Loan: Bắt đầu từ năm 2001, Contrexim - TM mới xuất khẩu lao
động sang Đài Loan. Đây là thị trường có một số thuận lợi cơ bản đối với lao động Việt
Nam:
- Môi trường sống và làm việc rất tốt, phong tục tập quán có nhiều nét tương đồng
với Việt Nam, vị trí địa lý không xa.
- Cơ cấu ngành nghề đa dạng và có nhu cầu lao động ở mọi lĩnh vực.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Thu nhập của người lao động khá cao so với khu vực khác.

Việt Nam với dân số đông, đứng thứ 13 trên thế giới, số người trong độ tuổi lao động
chiếm tỷ lệ lớn, nền kinh tế phát triển thấp so với các nước khác thì xuât khẩu lao động là
con đường đúng đắn nhất, một mặt giải quyết công ăn việc làm, mặt khác mang lại một
mức thu nhập đáng kể cho người dân và tăng mức đóng góp vào GDP/đầu người của toàn
xã hội. Từ đó giải quyết được rất nhiều vướng mắc trong nền kinh tế xã hội Việt Nam
hiện nay.
Ngoài các ưu điểm nói trên thì hoạt động xuất khẩu lao động còn có nhiều hạn chế, đó là
những rủi ro mà hoạt động này gặp phải:
Một là, rủi ro từ phía đối tác: Có trường hợp đối tác khó khăn về vốn, thiếu việc làm,
chậm trả lương cho người lao động, thiếu am hiểu hoặc không tuân thủ luật pháp, ỷ thế "
ông chủ" để gây sưc sép trong việc thực hiện hợp đồng lao động, làm khó dễ cho người
lao động Điều này đã dẫn đến việc bên cung ứng lao động phải tốn kém rất nhiều để giải
quyết các vụ việc đó.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Hai là, rủi ro từ phía người lao động: Thực tế cho thấy bên cung ứng lao động đã từng bị
thất thu nặng nề do một bộ phận không nhỏ lao ddộng ra nước ngoài làm việc không thực
hiện đúng thoả thuận và cam kết, đã tự ý bỏ hợp đồng trước thời hạn, tìm nơi làm việc
cho chủ khác. Bên cung ứng lao động vừa bị đối tác phạt tiền, vừa mất đi khoản phái dịch
vụ được thu theo quy định của Nhà nước.
3. Những thuận lợi, khó khăn trong hội nhập và cạnh tranh trên thị trường lao động quốc
tế:
3.1. Thị trường lao động thế giới và yêu cầu của các nước tiếp nhận lao động:
Hiện nay hoạt động xuất khẩu lao đông hay còn gọi là di cư lao động quốc tế ngày
càng trở nên phổ biến tại mọi quốc gia trên thế giới. Theo Tổ chức Lao động quốc tế hiện
có khoảng 60 nước có di cư và xuất khẩu lao động, làm việc ở nước ngoài với tổng số gần
120 triệu người trong đó các nước Châu á chiếm khoảng 50%. Tất cả các quốc gia xuất
khẩu lao động đều nhận thức được vai trò của xuất khẩu lao động trong chiến lược phát
triển của mình, do đó đều có đặc điểm chung là xây dựng một hệ thống chính sách, luật
lệ, quản lý Nhà nước nhằm tăng cường xuất khẩu lao động trên quy mô lớn.
Bên cạnh đó, để cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường lao động quốc tế, các nước

Chính phủ nhiều nước coi xuất khẩu lao động là chiến lược quốc sách lâu dài nên
đều có chương trình quốc gia về xuất khẩu lao động. Thực hiện xã hội hoá triệ để, coi đây
là công việc thường xuyên của xã hội. Thiết lập bộ máy quản lý Nhà nước hoàn chỉnh,
bao gồm các cơ quan hữu trách, đại diện các công ty xuất khẩu lao động tại nước sở tại,
một số nước cũng có tuỳ viên lao động ở các cơ quan đại diện ở nước ngoài. Hệ thống
luật lệ và quy định minh bạch, chặt chẽ, nhưng cũng rất thông thoáng tạo chủ động cho
người lao động và các doanh nghiệp. Chính phủ khuyến khích mọi thành phần kinh tế
tham gia xuất khẩu lao động kể cả hình thức di cư, thăm thân nhân, tự tìm kiếm việc làm
ở nước ngoài.
Việc xã hội hoá xuất khẩu lao động ở Việt Nam còn hạn chế, thể hiện các khía
cạnh: ít về số lượng và địa bàn chủ lực, nghèo về loại hình lao động, chưa triển khai mạnh
mẽ và phổ cập các yêu cầu về kiến thức chuyên môn, tay nghề, ngoại ngữ, văn hoá, lối
sống ở nước sở tại cho người lao động trước khi họ đi làm việc ở nước ngoài, chủ yếu là
xuất khẩu thô, chưa khai thác, đầu tư cho xuất khẩu lao động có tay nghề cao như chuyên
gia, kỹ sư máy tính, hoặc đi theo các công trình thầu
So với các nước khác, bộ máy tuyển dụng đưa lao động đi của Việt Nam còn nhiều
phiền hà, chi phí để đi lao động ở nước ngoài còn quá cao, rất tón kém, đặc biệt đối với
người nghèo, bao gồm nhiều khâu chi phí khác nhau như tiền làm thủ tục giấy tờ ( hộ
chiếu, khám sức khoẻ, giấy tờ tư pháp ), tiền đặt cọc, chi phí đào tạo, thường lên tới
hàng chục triệu đồng, do đó đã tạo ra gánh nặng vật chất, sức ép lên người đi lao động,
phải tìm cách hoàn bù lại nhanh số tiền đã chi phí. Vì vậy, đã dẫn đến nhiều tiêu cực, vượt
rào, vi phạm pháp luật nước sở tại của lao động. Trong khi đó, ngoài việc hỗ trợ đào tạo
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
qua hệ thống các trung tâm đào tạo định hướng về ngoại ngữ, tay nghề trước khi đi, các
nước xuất khẩu lao động khác còn có những hình thức hỗ trợ thiết thực cho người lao
động như cung cấp thông tin miễn phí, cấp giấy phép nhanh với chi phí thấp (khoảng 100
USD cho cả thời kỳ lao động), không đánh thuế thu nhập đối với người lao động ở nước
ngoài, miễn thuế chuyển tiền về nước, quy định giới hạn số tiền người lao động phải đặt
cọc ở mức hợp lý, lập quỹ phúc lợi xã hội để hỗ trợ tư pháp, trợ giúp vật chất cho người
lao động bị tai nạn, trả tiền vé về nước, phụ cấp cho gia đình họ khi gặp khó khăn Việc

Chúng ta đã xây dựng và thực hiện các đề án cụ thể cho từng thị trường như Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Trung Đông, Châu Phi, lao động trên biển
Các Bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp đã thường xuyên tổ chức các đoàn
doanh nghiệp đi khảo sát, tìm hiểu thị trường xuất khẩu lao động và chuyên gia tại Châu
Phi, Trung Đông và Châu á; tổ chức các hội nghị khách hàng tại Nhật Bản, Đài Loan và
hội nghị, hội thảo để cung cấp thông tin thị trường, đặc biệt là về các thị trường mới và thị
trường trọng điểm, hỗ trợ doanh nghiệp để tăng thị phần ở các thị trường hiện có, mở thị
trường mới.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Kế thừa và phát huy kinh nghiệm trên 20 năm về hợp tác, xuất khẩu lao động và
chuyên gia; đồng thời quán triệt quan điểm của Đảng về kinh tế đối ngoại, đến nay Nhà
nước đã ban hành hàng loạt văn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạt động mở rộng thị
trường xuất khẩu lao động và chuyên gia.
1.1 Malaysia
Sau nhiều năm trao đổi nghiên cứu, cuối tháng 2 năm 2002, Chính phủ ta và Chính
phủ Malaysia đã đạt được sự thống nhất về chủ trương tiếp nhận lao động Việt Nam vào
làm việc trong 4 lĩnh vực: xây dựng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của
Malaysia. Ngay sau đó, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã đàm phán và thống nhất
cho phép các Doanh nghiệp thực hiện hợp đồng đưa lao động Việt Nam sang Malaysia
theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là tổ chức thực hiện chặt chẽ, mở rộng
dần theo nhu cầu thị trường. Đồng thời, thành lập Ban Quản lý lao động và quy định trách
nhiệm của công tác cung ứng lao động và chuyên gia.
Hiện nay, có 70 doanh nghiệp được đưa lao động sang Malaysia. Từ tháng 5 năm
2002 đến nay, đã đưa được gần 70.000 lao động. Chỉ trong vòng hơn một năm, Malaysia
đã trở thành thị trường xuất khẩu lao động lớn của ta. Với yêu cầu về ngành nghề phù hợp
với ta, tạo cơ hội cho một số lượng lớn lao động nông thôn, người thuộc đối tượng chính
sách, người nghèo đi làm việc ở nước ngoài, góp phần tích cực vào công tác xoá đói giảm
nghèo.
Ngày 1 tháng 12 năm 2003 vừa qua tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương
binh và xã hội và Bộ trưởng Nguồn nhân lực Malaysia đã thay mặt hai Chính phủ ký kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status