Motip Kyto giáo trong tiểu thuyết "Nghệ nhân và Magarita của M. Bulgakov (Thử nghiệm tiếp cận liên văn bản) - Pdf 19

Motip Kyto giáo trong tiểu
thuyết "Nghệ nhân và Magarita
của M. Bulgakov (Thử nghiệm
tiếp cận liên văn bản)
Trong thế giới nghệ thuật của các nhà văn Nga và Xô viết – N. Gogol,
F. Dostoevsky, A. Chekhov, A. Blok, V. Mayakovsky, M. Bulgakov, Ch.
Aitmatov chẳng hạn – môtip Kyto giáo chiếm một vị trí đặc biệt. Đây là một
trong những “tham số” chủ yếu để các nhà văn thực hiện bài toán “đoán giải
những bí ẩn của tâm hồn Nga” – một thứ “bài toán thế kỷ” rất hóc búa. Và
mặc dù biết rõ không có lời giải cuối cùng, nhưng không một nhà văn cổ
điển Nga nào từ bỏ cơ hội thử sức. Đến lượt mình, giới nghiên cứu văn học
Nga lại xem xét, lý giải nó từ nhiều góc độ: thi pháp, thể loại, xã hội học,
văn hóa học, nghiên cứu so sánh
(1)
Trong bài viết này chúng tôi thử tiếp
cận đối tượng từ điểm nhìn liên văn bản, thông qua trường hợp tiểu
thuyếtNghệ nhân và Margarita của M. Bulgakov – một hiện tượng độc đáo,
gây nhiều tranh luận trong giới phê bình nghiên cứu Nga và phương Tây
(2)
.
1. Liên văn bản (intertext)
(3)
là một thuật ngữ của văn bản học chỉ mối
liên hệ tác động qua lại giữa văn bản đang được xem xét với những văn
bản khác (có thể là/ không là văn bản văn học) hoặc với môi trường
(context) văn hóa- lịch sử nói chung. Với tư cách một thuật ngữ lý luận văn
học xác định, một phạm trù của thi pháp học, một tham số lý luận và phê
bình văn học, nó từng được sử dụng từ những năm 20 và 30 của thế kỷ
trước dưới những tên gọi khác nhau: đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn
bản, ngữ cảnh. Những thuật ngữ này đã được M. Bakhtin và N. Voloshilov
sử dụng trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn học, về thi

Faust, ) trong việc tạo nên tư tưởng của tác phẩm.
Theo hệ thống phân loại những kiểu tác động qua lại giữa các văn
bản do Genette đưa ra, có các hình thức liên văn bản sau đây: 1) văn bản
(text), đúng ra là hai hay nhiều văn bản khác nhau (đoạn trích, đoạn sao
chép, ám chỉ) cùng hiện diện trong một văn bản; 2) cận văn bản (paratext)
là quan hệ của văn bản với bộ phận của nó (lời đề từ, nhan đề, truyện lồng
vào); 3) á văn bản (metatext) là quan hệ của văn bản với các tiền văn bản
của nó; 4) siêu văn bản (hypertext) là quan hệ nhái lại của văn bản với các
văn bản khác bị nó giễu nhại; 5) nguồn văn bản (archetext) là những mối
liên hệ thể loại của văn bản.
Về cấp độ liên văn bản, có 3 cấp độ khác nhau.
Thứ nhất, trên cấp độ đối tượng phản ánh tạo nên ám gợi liên văn
bản, tác phẩm hiện đại quay về với một số tác phẩm cụ thể của quá khứ từ
môi trường khác biệt, trong khi đó tác phẩm hậu hiện đại lại thiết lập quan
hệ với một cái gì đó chung hơn, hướng đến một thể loại, một thời đại hoặc
một quy ước văn học (đề tài, phong cách)
Thứ hai, quan hệ liên văn bản phát triển trên cấp độ hình thức theo
một quy trình mà đối với các nhà hiện đại chủ nghĩa “đối thoại liên văn bản
được hoàn tất dưới dạng trích dẫn, ám chỉ, tranh luận, bắt chước, giễu
nhại” và trong khi văn bản được xem xét vẫn còn là nó thì các nhà hậu hiện
đại “chấp nhận thể loại của những quy ước khác tuân theo các văn bản cũ”
và để đi đến kết cục đó họ sử dụng “những trích dẫn giả và đánh lừa”. Với ý
nghĩa đó, trích dẫn được hiểu không chỉ (và không hẳn) là sự vay mượn
trực tiếp một đoạn văn bản mà chủ yếu là vay mượn mã phong cách-chức
năng thuộc kiểu tư duy trước đó.
Thứ ba, ở cấp độ phong cách, mục tiêu của nhà hiện đại chủ nghĩa
khi thiết lập quan hệ liên văn bản là làm cho nghĩa của văn bản mới phong
phú thêm, trong khi các nhà hậu hiện đại xây dựng quan hệ này là gắn văn
bản mới vào nghĩa hiện tồn có trước: nhà hiện đại chủ nghĩa tập trung chú
ý vào văn bản mới, còn nhà hậu hiện đại lại nhắm đến văn bản cũ. Họ làm

chiếu, giao cắt của các tầng không gian, các kiểu nhân vật và các lớp cốt
truyện.
2.1. Ở cấp độ không gian hành động.
Người đọc không khó nhận ra ba không gian – ba thế giới với những
ám gợi, giễu nhại: không gian thực của thủ đô Moskva trong những năm ba
mươi của thế kỷ trước, không gian huyễn tưởng của bọn quỷ Voland và
không gian huyền thoại-lịch sử thành Yershalaim của Ponti Pilat. Trong bài
báo rất lý thú “Nghệ nhân và Margarita” của Bulgakov: vì sao các nhà phê
bình không thể thống nhất về những gì tác phẩm đề cập?
(6)
, Olga Gurevich
đã sử dụng sơ đồ của B.V. Sokolov
(7)
để phân tích đặc điểm cấu trúc và mối
quan hệ ba không gian này. Theo đó, có thể tái lập và phân xuất 3 không
gian này thành những khung song hành, và căn cứ vào sự tham dự cũng
như chức năng của các nhân vật, chia chúng thành các cặp tương ứng
(Xem sơ đồ).
Sơ đồ cấu trúc không gian tác phẩm của B.V. Sokolov
Ba không gian - Moskva “đời thường” những năm ba mươi,
không gian của Quỷ, thành Yershalaim trong lịch sử-huyền thoại Thánh
Kinh – vừa có tính độc lập tương đối vừa có quan hệ phụ thuộc, bởi sự
tham dự của các nhân vật vào những sự kiện xảy ra trong mỗi không gian
và định hướng vận động của chúng. Đặc điểm cấu trúc chung của ba không
gian là mang tính thứ bậc, trong đó mọi nhân vật hành động đều ở trong
quan hệ chi phối/phụ thuộc lẫn nhau. Trong không gian lịch sử-huyền thoại,
những người ở trên cao (Ponti Pilat trong cung điện Herod Đại đế, Tổng
Giám mục Caiaphas trên đỉnh đồi Solomon, Yeshua bị hành hình ở Núi
Trọc) đều có quyền lực ảnh hưởng cả thành Yershalaim. Trong không gian
huyễn tưởng, chỉ khi nào nhân vật biết bay trên không trung mới đến được

2.2.3. Cặp Mark Krysoboi – Azazello – Archibald Archibaldovich có bề
ngoài hao hao giống nhau: vai rộng, dây lưng đeo vũ khí, đều giúp cấp trên
làm điều ác (qua vai trò đao phủ - Mark Krysoboi, Azazello và “kẻ cướp” –
Archibald Archibaldovich).
2.2.4. Cặp chó Banga – mèo Behemoth – chó cảnh sát Tuz Buben,
những con vật thông minh từ cao sang đến tinh quái, tầm thường, tương
ứng với sắc thái chuyển dần từ nghiêm chỉnh sang hài hước, giễu nhại.
2.2.5. Cặp Niza – Gella – Natasha, những kẻ đầy tớ/ tay sai, khéo
léo quyến rũ các “con mồi” (Niza đối với Yuda, Gella đối với Maigel), như là
phù thủy (Natasha).
2.2.6. Cặp Caiapha – Mikhail Berlioz - Gã “người nước ngoài”: có vẻ
ngoài hao hao giống nhau (Berlioz và “gã nước ngoài”), cố thực hiện điều
ác (Đại Tư tế Caiaphas và Berlioz trong thái độ với Yashua/Jesus), được
báo trước thảm họa (Berlioz chết dưới gầm tàu điện, “gã nước ngoài” ngã
vào thùng cá trích muối).
2.2.7. Cặp Yuda – Maigel – Aloisy Mogarych, ba kẻ đã/ sẽ phản bội
và đều/ đáng bị trừng phạt. Riêng việc Mogarych tránh được sự trừng phạt
lại còn trở thành viên chức cấp cao thể hiện sự giễu nhại đối với Moskva,
chứng tỏ tình trạng xuống cấp về đạo đức.
2.2.8. Cặp Levi Matvei – Ivan Bezdomny – Riukhin: Những kẻ tông
đồ, môn đệ, trung thành nhưng đều không thực thi thành công những gì
được thụ giáo.
Các cặp ba nhân vật trên đây đều không chỉ song hành trong 3 không
gian tương ứng riêng biệt mà một số còn thâm nhập vào không gian của
nhau ở phần cuối tác phẩm, tạo nên sự pha trộn, tổng hợp không- thời gian
hết sức độc đáo. Trong cảnh trước “Phần kết” có sự hiện diện của những
nhân vật đến từ ba không gian: Pilat, Banga và Yeshua đến từ không gian
lịch sử-huyền thoại, Nghệ nhân và Margarita đến từ không gian Moskva và
Voland đến từ không gian huyễn tưởng. Điều đáng chú ý là giờ đây các
nhân vật đã bộc lộ nhân dạng “đích thực” để thực thi nốt “phần việc” của

§ Có nhiều tông đồ,
trong đó có
một kẻ phản bội là
Juda
§ Chỉ có một
học trò là Levi
Matvei, Yuda chỉ là người
mới quen.
§ Cưỡi lừa đến
Jerusalem
§ Đi bộ đến
Ershalaim
Có thể quan sát thấy sự “sai lệch” cả ở tính chất của hình tượng:
Yeshua của Bulgakov không còn được miêu tả trong vầng hào quang
thiêng liêng mà “đời thường” hơn. Vả chăng, “tiểu thuyết” của Nghệ nhân
chủ yếu kể về Ponti Pilat, trong khi sách Phúc Âm chú ý đến cuộc đời của
Jesus. Với việc miêu tả Yeshua, Bulgakov đã chứng minh cho tư tưởng của
M. Gorky: “Jesus không có chỗ trong cuộc đời này”.
Tình hình cũng tương tự xảy ra đối với cuốn “tiểu thuyết” về Quỷ. Quả
thật có một số nhân vật và tình tiết chứng tỏ có mối liên hệ
giữa Faust và Nghệ nhân và Margarita. Nhưng việc ký thỏa thuận với quỷ
(Mephistopheles/Voland) để đạt được ước vọng (tri thức/tự do), việc quỷ
hiện hình dưới dạng con vật (chó đen/ mèo Behemoth), tên gọi và hành
động của các nhân vật ở hai tác phẩm,… chỉ là những dấu hiệu tương
đương bề ngoài, tuy không thật sự trọn vẹn. Theo G.Lesskis, trong tên gọi
con mèo Behemoth có 2 mã nguồn: con chó xù mà Quỷ Mephistopheles đội
lốt được Faust ví như con hà mã (behemoth), mặt khác, theo tín ngưỡng
dân gian, mèo là bạn đồng hành với thế lực hắc ám
(9)
. Chính sự phát tán và

tưởng tự nhiên đến Ngày phán xử cuối cùng trong Thánh Kinh. Trong cái
đêm cuối cùng đó, không phải “mọi món nợ đều được thanh toán” như
Voland tuyên bố: Nghệ nhân và Margarita đã được Voland “làm điều có ích”
là giải phóng khỏi những nỗi dằn vặt, khổ đau trần thế để “đi từ Tự do tới
Tất yếu”, còn Ponti Pilat mãi mãi “không thể nào bước chân lên con đường
bằng ánh trăng” để đến gặp Yeshua Ha-Notsri “nói cái điều ông ta còn chưa
nói hết vào cái ngày mười bốn tháng Nisan mùa xuân xa xưa nọ”.
Nhận xét về một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Nga thế
kỷ XIX, nhà triết học tôn giáo Nga N.L. Berdyaev (1874-1948) đã viết:
“Trong văn học Nga, ở các nhà văn Nga vĩ đại, các motip và đề tài tôn giáo
có tác động mạnh mẽ hơn bất kỳ nền văn học nào. Toàn bộ nền văn học
thế kỷ XIX của chúng ta bị hành hạ bởi đề tài Kyto giáo, nó luôn kiếm tìm sự
cứu rỗi, sự giải thoát khỏi cái ác, niềm khổ đau, nỗi sợ hãi trong cuộc sống
của cá nhân con người, của dân tộc và của thế giới. Tư tưởng tôn giáo
nhức nhối trong những tác phẩm lớn của nó”
(10)
. Những lời nhận xét này
cũng hoàn toàn thích hợp với tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita – một tác
phẩm lớn của nền văn học Nga thế kỷ XX. Từ những phân tích các motip
Kyto giáo trong sự thống hợp với những hình ảnh, biểu tượng và mẫu gốc
ở Nghệ nhân và Margarita trên đây, chúng tôi rút ra hai kết luận như sau:
1. Bằng những “trích dẫn”, “cắt dán”, ám gợi trên cơ sở liên kết các
văn bản Phúc Âm, Faust và “văn cảnh” văn hóa-xã hội Nga, bằng sự kết
hợp những biện pháp đa dạng của nghệ thuật trang trí hội họa, tân huyền
thoại, huyễn tưởng và giễu nhại, tiểu thuyết của M. Bulgakov đã khái quát
hóa những vấn đề Tình yêu, cái Thiện, cái Ác như là căn bản cốt lõi trong
sự tồn tại của con người, mang tầm triết-mỹ rộng lớn. Đây chính là dấu hiệu
của loại hình “văn xuôi bản thể luận” trong văn học Nga thế kỷ XX.
2. Với hình thức của một á văn bản (metatext), bằng một kết thúc
“dang dở”, khi “không bố trí được” cuộc gặp giữa Ponti Pilat và Yeshua Ha-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status