Kiểu thời gian sử thi trong tiểu thuyết "Những người lao động biển cả" doc - Pdf 19

Kiểu thời gian sử thi trong
tiểu thuyết "Những người lao
động biển cả"
1) Không khí sử thi là một nét đặc trưng trong các sáng tác của
Victor Hugo (1802-1885) mà bất kỳ người đọc nào cũng dễ dàng nhận ra
điều đó. Để tạo được âm hưởng này, Victor Hugo thường sử dụng một thủ
pháp thường gặp của chủ nghĩa lãng mạn là ngoa dụ. Có thể bắt gặp rất
nhiều biến thái của thủ pháp này ở những hình thức khác nhau. Đó có thể
là những nhân vật phi thường quá khổ kiểu Gilliatt, Quasimodo, Jean
Valjean về hình thức, về tham vọng, về hành trạng Cũng có thể là
những ngoa dụ về mặt tu từ học rất phổ biến trong các trường đoạn trữ tình
ngoại đề. Trong bài viết này chúng tôi sẽ lý giải không khí nghệ thuật sử thi
của tiểu thuyết Hugo dưới góc độ thời gian, và giới hạn trong tiểu
thuyết Những người lao động biển cả (Les travailleurs de la mer- 1866).
2) Thời gian trong một tiểu thuyết hiện diện ở nhiều dạng để tạo
nên nhịp điệu: thời gian nhân vật, thời gian cốt truyện, và thời gian trần
thuật (hay còn có thể được gọi là thời gian văn bản). Trong Dẫn luận thi
pháp học của giáo sư Trần Đình Sử, thời gian nhân vật được hiểu bao
gồm thời gian tiểu sử và thời gian “được nếm trải qua tâm hồn của nhân
vật. Hoạt động tâm lý, ký ức dòng ý thức tạo thành thời gian nhân vật. Nếu
nhân vật thiếu đời sống nội tâm thì thời gian của nó chỉ còn tồn tại trên cấp
độ sự kiện nhân quả, trên cấp độ thời gian đồng hồ và lịch. Thời gian nhân
vật gắn với những thời điểm có ý nghĩa riêng của nhân vật đó Mỗi nhân
vật có một thời khoá biểu, một nhịp độ hoạt động. Thời gian nhân vật có độ
dài hiện diện trong tác phẩm khác nhau. Chỉ có nhân vật chính là có thời
gian bằng thời gian tiền sử và thời gian cốt truyện”
[1]
.
Các nhân vật trong tiểu thuyết Những người lao động biển cả cũng
như hầu hết những tác phẩm khác của ông đều không có nét đặc sắc về
tâm lý: Gilliatt không có những biến đổi tâm lý mạnh. Không có nhiều

nhau: tạo độ sai lệch thời gian (anachronie) như trong sử thi, làm giãn tốc
độ truyện kể, trở nên khoan thai, chậm rãi.
Trong những chương này, cách kể cũng rất tiêu biểu cho nghệ thuật
dẫn dắt kịch tính gợi âm vang phiêu lưu rất thích hợp kiểu tiểu thuyết đăng
báo dài kỳ (roman-feuilleton) đang thịnh hành đương thời: mạch kể có khi
tưởng đứt lại hoá nối. Trong chương II quyển năm có một chi tiết rất có thể
bị người đọc bỏ qua vì được trần thuật vắn tắt: Clubin nhìn thấy Rantaine,
nhân vật trước đó đã bỏ trốn cùng một số tiền lớn của Lethierry. Ngay sau
đó là việc Clubin mua vũ khí, mà người kể- vốn thường theo thói quen thâm
nhập sâu bên trong tính toán của nhân vật để mách bảo cho người đọc -
cũng không hề bình luận gì thêm, chương tiếp theo kể về việc Clubin đi đâu
đó một cách bí hiểm. Xen vào đó đột nhiên là một chương kể về lũ trẻ
chuyên đi phá tổ chim và những câu chuyện bí hiểm chúng vô tình nghe
được trong ngôi nhà ma. Đó là câu chuyện kể về sự kiện Clubin đi tìm gặp
bọn buôn lậu để chuẩn bị cho kế hoạch bỏ trốn. Như vậy thời gian tiền sử
của toàn bộ cốt truyện được xếp lại theo hình nan quạt, kế tiếp nhau và đều
xoay về cùng một trục: kỳ công của Gilliatt cứu chiếc Durande ở hòn
Douvre. Đây là một cách kết cấu quen thuộc trong tiểu thuyết của Hugo. Xét
theo dung lượng tác phẩm thì Victor Hugo đã dành tới phân nửa cho quá
trình kể về những sự việc chuẩn bị cho sự kiện chính. Xét trong tiến trình
thời gian truyện kể
[2]
, có thể nhận ra rằng mặc dù tác phẩm dài khoảng 539
trang (theo bản dịch của Hoàng Lâm) nhưng chi tiết liên quan chỉ bắt đầu từ
trang 54 (tức là được kể trong 485 trang) và sự kiện chính của câu chuyện
theo đúng tên gọi của truyện chỉ tập trung trong phần thứ nhì Gilliatt tinh
khôn (190 trang). Có nghĩa là thực tế cốt truyện chính chỉ chiếm khoảng
34% tổng số trang truyện kể. Có lẽ chính kiểu xây dựng kết cấu đó vừa phù
hợp với phong cách kể chuyện của Hugo, vừa làm nổi rõ một cảm nhận:
con người cô đơn trong hành động và con người đương đầu với biển cả -

ngoại đề Quần đảo Manche (54 trang) vào mùa đông 1835, cuốn sách đã
ra mắt bạn đọc đồng thời ở Paris và Bruxelles ngày 13.3.1866 thành ba tập.
Thế nhưng chưa hết. Sinh thời, ông còn có thêm một chương Biển và
gió (24 trang) không được đưa vào tác phẩm một cách chính thức. Việc
chèn thêm toàn bộ phần viết thêm này là do ý định của những người biên
tập sau này khi thực hiện tổng tập (oeuvres complètes), mặc dù còn nhiều ý
kiến khác nhau đề nghị nên đưa vào phần di cảo (reliquat)
*
. Có thể nói nếu
nhìn từ góc độ thời gian cốt truyện thì 87 trang hoàn toàn trữ tình ngoại đề
này không đóng vai trò gì. Nhưng xét trong tổng thể hiệu quả nghệ thuật, do
số lượng tạo nên chất lượng, mà ngòi bút của Hugo tác động tới người đọc
nên quả thật khó có thể bỏ qua.
Trước hết là sức hấp dẫn của nghệ thuật ngôn từ trong lối viết của
ông. Đúng như giáo sư Đặng Thị Hạnh nhận xét ở chuyên luận Tiểu thuyết
V.Hugo, “ngoại đề chính luận trong quyển Waterloo [ ] có phần do sức đẩy
của ngôn từ và của những ẩn dụ đẹp, cũng như do sức đẩy của một tư duy
đầy nghịch lý, luôn luôn tìm tòi cái đối nghịch với chính điều mình vừa
nói”
[3]
. Có thể trong chừng mực nào đó thì những đoạn trữ tình ngoại đề đó
không khỏi gây cảm giác nặng nề. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng xét trong
tổng thể thời gian trần thật còn có một ý nghĩa khác nữa. Sự gia tăng các
đoạn kể này tạo ra hai hiệu ứng: một mặt nó tạo ra nhịp điệu trì hoãn của
kiểu thời gian sử thi, mặt khác cái mà nhà văn kể lại vẫn đang thuộc về hiện
tại. Hiện tượng này có thể gần giống với cách miêu tả mở rộng trong sử thi,
như ở chi tiết vết sẹo của Ulysse trong sử thi Odyssée.
Nếu như những trường đoạn miêu tả trong sử
thi Iliade hay Odyssée được coi là mẫu mực trong nghệ thuật tu từ cổ đại,
thì đồng thời từ khía cạnh thời gian cũng được các nhà phê bình hiện đại

. Chính vì thế việc tạo nên phối cảnh thời
gian là không cần thiết. Bản chất của dòng thời gian ở đây đã mang tính
chất hiện tại. Đây chỉ là một tiếng đàn thời gian độc điệu.
Tương tự như vậy, ngoài giá trị về thời gian văn bản khi không tham
gia trực tiếp vào cốt truyện, cũng là một dấu hiệu cuối cùng của thuật tu từ
hùng biện trong văn học, các đoạn trữ tình ngoại đề trong tác phẩm của
Hugo còn có tác dụng tạo nên hiệu quả nhịp điệu trì hoãn gần giống như
trong nhịp điệu của sử thi. Chỉ từ góc độ đó mới có thể lý giải việc Victor
Hugo dừng lại trong cả chương II quyển bốn phần thứ nhì Con quái vật có
tính chất ngoại đề dài 9 trang để nhẩn nha kể và miêu tả về con quái vật-
bạch tuộc. Trong khi ngay ở phần kết thúc của chương I trước đó, ông hạ
một câu văn tưởng như đang chuẩn bị cho cuộc chiến dưới lòng biển:
“Gilliat nhận ra con thuồng luồng”. Phải đợi tới chương III thì Hugo mới
quay lại kể tiếp về cuộc chiến này. Đó là chưa kể rất nhiều những đoạn trữ
tình ngoại đề khác nằm rải rác trong toàn tác phẩm. Tính chất hiện tại trong
tiểu thuyết do vậy mang vẻ lóng lánh một mầu sử thi.
4) Kiểu cốt truyện sơ lược là một trong những nguyên nhân dẫn tới
tâm lý nhân vật nguyên phiến và đơn giản. Trong cách lý giải của
E.Auerbach khi so sánh sử thi Odyssée và Kinh Thánh, ông cho rằng kiểu
nhân vật tâm lý đơn giản trong sử thi có mối liên quan nhất định tới kiểu
thời gian một chiều không theo luật phối cảnh thời gian. Thông thường, các
nhà văn vẫn thường tạo độ chênh các tuyến thời gian sự kiện được kể
nhằm tạo nên một giả không-thời gian trong truyện kể (récit). Xen vào giữa
đó là đời sống tâm lý của các nhân vật. Còn ởNhững người lao động biển
cả, các nhân vật hiện ra do lối kể như trong sử thi nên sống bằng cả thời
gian tâm linh và thời gian có thực trong cuộc đời. Vả lại với một khoảng
cách gần như tuyệt đối về thời gian mang tính sử thi như vậy, nhà văn cũng
không cần thiết có những phân tích tâm lý tinh tế như kiểu của Balzac hay
Proust sau này. Quay lại điều mà rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới như
một hạn chế trong sáng tác của Hugo là tính giản lược ở tâm lý nhân vật,

“Trong khi chờ đợi, văn minh vẫn hành hạ người thuỷ thủ, thật là một
điều nhục nhã. Năm 1863, để chỉ kể năm ấy thôi, hải quân đã nhận hai vạn
năm nghìn năm trăm mười ba roi” (tr.407).
Điều quan trọng chính là câu chuyện luôn được kể trong một tâm thế
dường như toàn bộ mọi việc đã kết thúc, đã hoàn thành. Giống như trong
đoạn ngoại đề nổi tiếng về cảnh trận Waterloo của Những người khốn
khổ, mọi kết quả của trận đánh luôn được thông báo trước. Cốt truyện vì
vậy trở nên không còn quan trọng. Trong tiểu thuyết này, việc Victor Hugo
sử dụng các sơ đồ, các mẫu gốc quen thuộc có lẽ cũng là để thông báo một
cách gián tiếp rằng tất cả câu chuyện thực ra đã an bài ngay khi người kể
bắt đầu câu chuyện. Không gian và thời gian của truyện vì thế dù có những
chi tiết cụ thể theo kiểu truyện kể hiện đại vẫn làm cho người đọc dường
như thoát khỏi cái hiện tại để quay về với không khí cổ tích
[6]
, và nhấn mạnh
tầm vóc sử thi của nhân vật Gilliatt. Cũng do đó mà câu chuyện tuy mang
cái không khí cao rộng của sử thi cổ sơ do cách khắc họa hình tượng các
nhân vật, trong đó chủ yếu là Gilliatt, nhưng không xa lạ với một người đọc
bình dân bởi những mẫu gốc, những sơ đồ kịch dân gian mà nhà văn đã
vận dụng vào trong sáng tác của mình. Như vậy đi kèm việc gia tăng ngoại
đề là giản lược cốt truyện. Đọc tiểu thuyết của Hugo, vì thế người ta có
quyền ước mơ nhưng không bị huyễn tưởng. Ít nhất là cho đến giờ, khi
người đọc Việt Nam có thể đối mặt trước nhiều cách tân thử nghiệm của
tiểu thuyết hiện đại phương Tây nhưng vẫn chưa hề cảm thấy sự cũ mòn
khi đọc những trang tiểu thuyết Hugo. Điều này quay lại chứng minh cho
chúng ta một lần nữa nhận định về vai trò của ảnh hưởng văn học dân gian
tới chủ nghĩa lãng mạn phương Tây thế kỷ XIX.
Hơn nữa, góp phần vào dấu ấn thời gian kiểu sử thi - công bằng mà
nói có thể Hugo không hẳn có ý thức làm điều đó - ông còn đẩy công việc
của Gilliatt ra xa khỏi thế giới của loài người, nơi chỉ có sóng và gió, đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status