Hiện nay TTKDTM đã và đang không ngừng được đẩy mạnh nâng cao số lượng
cũng như chất lượng và ngày càng hoà nhập vào công cuộc phát triển kinh tế toàn
quốc nói chung và Cao Bằng nói riêng. Mặc dù đại bộ phận dân chúng nước ta
vẫn có thói quen dùng tiền mặt để mua bán thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ đặc
biệt là trên địa bàn tỉnh Cao Bằng một tỉnh miền núi có nền kinh tế phát triển chậm
và nghèo so với cả nước. Nhưng TTKDTM vẫn phát triển sở dĩ như vậy là do các
tckt sử dụng và có nhu cầu thanh toán ngày một tăng. Tuy vậy, việc TTKDTM
chưa được phát triển trong dân cư là một vấn đề tồn tại lớn cần sớm khắc phục vì
phát triển thanh toán trong dân cư không chỉ tăng thu nhập cho các Ngân hàng mà
nó còn có ý nghĩa to lớn trong việc giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, góp
phần tăng trình độ dân trí cho người dân.
2.3.1.2. Tình hình vận dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại
NHĐT&PT Cao Bằng.
Các hình thức TTKDTM luôn được thay đổi cho phù hợp với tốc độ phát triển của
nền kinh tế. NHĐT&PT Cao Bằng đã tiếp nhận và triển khai thực hiện tốt nhằm
khai thác triệt để tính năng động của nó. Để thấy được cụ thể ở mỗi hình thức
thanh toán được vận dụng ở NHĐT&PT Cao Bằng ta nghiên cứu sâu từng hình
thức thanh toán.
a) Hình thức thanh toán bằng séc.
Trong các hình thức TTKDTM có thể thấy séc là công cụ thanh toán có nhiều lợi
thế hơn hẳn so với các công cụ khác, nếu như những điều kiện đảm bảo cho sự
phát triển của hình thức thanh toán này được thoả mãn chắc chắn nó sẽ mang lại
hiệu quả kinh tế rất lớn. Hiện nay, thanh toán bằng séc được sử dụng phổ biến ở
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
các nước trên thế giới, nhưng ở Việt Nam việc thanh toán bằng séc vẫn còn rất hạn
chế. Tuy nhiên, từ sau nghị định 30/CP của chính phủ ban hành về quy chế sử
dụng séc và Thông tư 07/TT - NHNN1 ngày 27 tháng 12 năm 1996 hướng dẫn
thực hiện quy chế phát hành và sử dụng séc, đã có một số quy định mới loại bỏ
quy định bất hợp lý trước đây về séc nên thanh toán séc từng bước được đẩy mạnh,
việc sử dụng séc trở nên phổ biến hơn trong các giao dịch thanh toán, phần nào
làm tăng khối lượng TTKDTM trong tổng số thanh toán chung của Ngân hàng.
trước khi giao séc cho người thụ hưởng nên người phát hành séc không bị mất một
khoản tiền sinh lời trên số tiền ký gửi như séc Bảo chi.
Tuy nhiên thanh toán bằng séc chuyển khoản cũng bộc lộ những nhược điểm nhất
định do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Séc chuyển khoản được thanh toán theo nguyên tắc ghi nợ tài khoản người phát
hành trước, ghi có cho người thụ hưởng sau. Do vậy khi khách hàng gửi vào tài
khoản tiền gửi thanh toán ở hai Ngân hàng khác nhau thì quá trình luân chuyển
chứng từ kéo dài 1 - 2 ngày, nếu tài khoản tiền gửi của người phát hành séc không
đủ tiền để thanh toán ngay thì người thụ hưởng vô tình bị chiếm dụng vốn trong
một khoảng thời gian làm cho vốn bị ứ đọng trong thanh toán, dẫn đến luân
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
chuyển vốn chậm, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người thụ
hưởng.
- Người mua có thể phát hành séc quá số dư trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng,
do đó người bán có thể bị chiếm dụng vốn, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của họ.
- Một tờ séc phải ghi quá nhiều yếu tố, gây khó khăn và tâm lý ngại sử dụng cho
người phát hành trong việc gi các yếu tố lên trên tờ séc.
- Phạm vi thanh toán séc chuyển khoản hẹp, chỉ áp dụng thanh toán đối với các
khách hàng mở tài khoản tại 1 chi nhánh hoặc 2 chi nhánh Ngân hàng có tham gia
thanh toán bù trừ. Chính điều này đã làm cho doanh số thanh toán của séc chuyển
khoản thấp hơn nhiều so với uỷ nhiệm chi
b) Hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi .
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân
hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản
của mình để trả cho người thụ hưởng. Bởi vậy Uỷ nhiệm chi có một quy trình luân
chuyển rất đơn giản, nhanh chóng. Uỷ nhiệm chi được áp dụng ở phạm vi rộng,
bao gồm thanh toán trong cùng một Ngân hàng và khác Ngân hàng. Vì những ưu
điểm của Uỷ nhiệm chi nên nó được sử dụng khá phổ biến trong TTKDTM tại
NHĐT&PT Cao Bằng.
song cũng còn một số hạn chế cần khắc phục để công tác thanh toán được tốt hơn,
cụ thể là:
- Uỷ nhiệm chi được lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng, phần để ghi nội dung
chuyển tiền hẹp nên không ghi được đầy đủ nội dung chuyển tiền.
- Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng hoá, dịch
vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống Ngân hàng, Kho bạc
Nhà nước. Đối với chứng từ chuyển tiếp, chương trình máy vi tính chưa phù hợp.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đễ dẫn đến trường hợp đơn vị mua chiếm
dụng vốn của đơn vị bán.
2.3.1.3 Tình hình thu phí dịch vụ thanh toán.
Ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng bao gồm
dịch vụ trong cùng một Ngân hàng và dịch vụ thanh toán khác Ngân hàng thông
qua chuyển tiền hai phạm vi cung ứng dịch vụ thanh toán có áp dụng thu phí khác
nhau.
- Các khoản thanh toán trực tiếp giữa khách hàng với khách hàng trong cùng Ngân
hàng và giữa khách hàng với Ngân hàng nơi mở tài khoản về trả nợ, trả lãi, mua
giấy tờ in, các khoản vay, trả nợ thì Ngân hàng không được thu phí dịch vụ thanh
toán.
- Các khoản thanh toán khác Ngân hàng phải qua chuyển tiền thì Ngân hàng thu
phí.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
Phí với NHĐT&PT Việt Nam nói chung và NHĐT&PT Cao Bằng nói riêng áp
dụng theo công văn 2496/cv-NHĐT&PT của TGĐ NHĐT&PT Việt Nam:
+ Chuyển tiền trực tiếp từ tài khoản với lệ phí 0,06% số tiền chuyển và tối đa là
700.000đ/món
+ Nộp tiền mặt để chuyển tiền với lệ phí 0,10% số tiền chuyển và tối đa là
100.00đ/món.
+ Chuyển tiền đi TTBT là 3000đ/món.
+ Phí tra soát là 20.000đ/món/lần.
Trong các năm qua việc thu phí dịch vụ của chi nhánh không ngừng tăng lên thể
do không phải thực hiện vận chuyển tiền mặt từ nơi này đến nơi khác Tạo điều
kiện để Ngân hàng sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả góp phần làm tăng lợi
nhuận của Ngân hàng.
b) Thanh toán bù trừ.
Về TTBT qua NHNN: Trên địa bàn thị xã Cao Bằng, NHĐT&PT Cao Bằng tham
gia TTBT qua NHNN cùng các NHTM trên địa bàn, và kho bạc nhà nước. Các
thành viên tham gia TTBT, hàng ngày theo giờ quy định lập bảng kê chứng từ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
TTBT mẫu 12 gửi cho các ngân hàng thành viên có liên quan. Các ngân hàng
thành viên căn cứ vào bảng kê mẫu 12 lập bảng kê TTBT (mẫu 14) gửi ngân hàng
chủ trì, căn cứ vào bảng kê mẫu 14 của các ngân hàng thành viên NHNN cuối
ngày lập và gửi kết quả TTBT (mẫu 15) cho các ngân hàng thành viên.
TTBT qua các năm đạt những doanh số đáng khích lệ, cụ thể:
Năm 2001 doanh số là 309.930 triệu đồng.
Năm 2002 doanh số là 327.999 triệu đồng, tăng hơn năm trước 18.069 triệu đồng.
Năm 2003 doanh số là 441.730 triệu đồng, tăng hơn so 2001 là 131.800 triệu đồng
và tăng 42.53%
Qua số liệu trên cho thấy tình hình về TTBT phát triển rõ rệt, năm sau cao hơn
năm trước.
Những mặt được: Hàng ngày ngân hàng đã thực hiện tốt phiên giao dịch, các
chứng từ được giao nhận kịp thời ngay trong phiên giao dịch tại NHNN, kết quả
TTBT được thực hiện kịp thời. Tuy nhiên do nhu cầu thanh toán của khách hàng
ngày càng lớn,yêu cầu thanh toán nhanh chóng kịp thời, bởi vậy số phiên giao dịch
cần quy định cho phù hợp.
2.3.2 Hiện đại hoá công nghệ thanh toán và trình độ cán bộ.
TTKDTM là nghiệp vụ rất quan trọng, chất lượng hiệu quả hoạt động này có tác
động rất lớn tới việc phát triển của ngân hàng nói riêng và của các ngành trong nền
kinh tế nói chung.
TTKDTM rất đa dạng, phong phú, phục vụ khối lượng khách hàng rất lớn nên yêu
cầu của nghiệp vụ này phải nhanh, chính xác, an toàn tài sản. Đảm bảo điều này thì
NHĐT&PT Cao Bằng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong tất cả các
mặt hoat động trong đó có nghiệp vụ kế toán và TTKDTM .
Có thể thấy khối lượng và doanh số thanh toán KDTM gia tăng qua các năm. Năm
2001 thanh toán đạt 1.276.668 triệu trong đó TTKDTM là 948.562 triệu đồng, năm
2002 thanh toán đạt 2.148.768 triệu đồng trong đó TTKDTM đạt 1.620.239 triệu
đồng tăng so vơí 2001 là 671.677 triệu đồng. Đến năm 2003 thanh toán đạt
2.864.792 triệu đồng và TTKDTM là 2.117.272 triệu đồng tăng so 2002 là 497.033
triệu đồng.
Nhìn chung về số lượng món và doanh số thanh toán đều tăng qua các năm. Khối
lượng công việc hàng ngày phát sinh lớn nhưng công tác thanh toán đều đảm bảo
kịp thời và ít phải tra soát lại.
Các nghiệp vụ về chuyển tiền liên hàng và thanh toán bù trừ cũng được thực hiện
tốt và ổn định.Thực hiện đúng quy định về thời gian gửi lệnh và nhận lệnh của
NHĐT&NHĐT&PT Cao Bằng trung ương, tiếp nhận và xử lý kịp thời mọi chứng
từ đi đến, xử lý các sai lầm được tiến hành nhanh chóng và hầu như không để xảy
ra sai lầm. Nêu cao được tính chủ động, hiệu quả trong điều hành, công tác chuyên
môn coi đây là điều kiện để hình hành các nghiệp vụ khác, luôn bám sát nhu cầu
của khách hàng, của thị trường. Tăng cường nghiêm túc kiểm tra kiểm soát nội bộ,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
tích cực đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ. Đầu tư thích
đáng cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực nâng cao cơ sở vật chất và công nghệ
ngân hàng.
Với phong cách nhiệt tình chu đáo tin cậy, chi nhánh đã thu hút được nhiều khách
hàng đến với NHĐT&PT . Trong hoạt động luôn phục vụ nhanh chóng, kịp thời
nhu cầu của khách hàng cả về tiền vay, tiền gửi, các khâu thanh toán cũng như tạo
được niềm tin với bạn hàng, cùng với việc mở rộng các loại hình dịch vụ đã ngày
một nâng cao khả năng phục vụ nhu cầu đa dạng của thị trường trong giai đoạn
mới.
2.4.2 Một số tồn tại, hạn chế
Là một chi nhánh miền núi, quy mô nhỏ so với toàn ngành, ngoài những kết quả
Tỷ trọng của TTKDTM có cao với doanh số tăng theo năm nhưng mới chỉ dừng lại
ở séc (SCK) và ủy nhiệm chi, các thể thức khác vẫn chưa được áp dụng.
2.4.3 Nguyên nhân
Chủ quan:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
Đã chú trọng công tác tuyển dụng, đào tạo góp phần nâng cao số lượng và chất
lượng cán bộ, nhưng một số cán bộ chưa phát huy hết năng lực, tính chủ động
trong công việc, còn thiếu cán bộ có năng lực ở một số vị trí chủ chốt như công tác
điện toán, việc triển khai quản lý kiểm soát ở từng bộ phận chưa triệt để.
Khách quan:
Cao Bằng là một tỉnh có nền kinh tế chậm phát triểnvà nghèo nhất so với cả nước.
Bởi vậy môi trường kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, sự phối hợp giải quyết
các vấn đề kinh tế xã hội vẫn chưa cao, chưa kịp thời. Các dự án đầu tư ít, quy mô
không lớn, nhiều dự án đầu tư hoàn thành và đã đi vào khai thác nhưng kém hiệu
quả. Số lượng tổ chức kinh tế không nhiều phần lớn tập chung vào hoạt động xây
dựng cơ bảnchủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhiều tồn tại về khả năng tài
chính, năng lực thi công.
Do môi trường hoạt động nên các dịch vụ thanh toán cũng có phần hạn chế, các
thể thức thanh toán áp dụng vào chi nhánh chưa nhiều, đây cũng là một trở ngại rất
lớn ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của chi nhánh.
chương III:Các giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng Thanh toán không dùng
tiền mặt tại Ngân hàng đầu tư và phát triển cao bằng
3.1 mục tiêu – chiến lược hoạt động của NHĐT&PT Cao Bằng trong những năm
tới.
a) Mục tiêu chung:
Tăng trưởng tổng tài sản. Đẩy mạnh huy động vốn với cơ cấu hợp lý, ổn định
nguồn vốn, tự chủ về vốn hoạt động. Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, chú trọng
khai thác khách hàng, dự án đầu tư trung dài hạn. Mở rộng khách hàng, phát triển
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
hoạt động dịch vụ. Duy trì chất lượng hoạt động, nợ quá hạn dưới mức quy định,