Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm
nhìn đa tuyến qua truyện ngắn
"Trong quán rượu" và "Con
người cô độc"' của Lỗ Tấn
ối với một tác phẩm thuộc loại hình văn học tự sự, phương thức tự sự đặc
biệt quan trọng. Cùng một câu chuyện, nếu được sử dụng các phương thức tự sự
khác nhau, rất có thể hiệu quả nghệ thuật đem lại sẽ khác nhau, những thông tin
mà người đọc thu nhận được từ câu chuyện ấy cũng có thể khác nhau. Nghệ thuật
tự sự không chỉ đơn thuần là cách thức kể chuyện sao cho câu chuyện trở nên đậm
đà ý vị, đó còn là cách thức để nhà văn lí giải sự vật hiện tượng một cách sâu sắc,
hiệu quả và thuyết phục. Lỗ Tấn (1881-1936) là nhà văn khai sáng nền văn học
hiện đại Trung Quốc. Trong sự nghiệp hơn hai mươi năm sáng tác, nhà văn đã sử
dụng thành công ở cả ba thể loại: truyện ngắn, tạp văn và thơ, nhưng thành công
đáng ghi nhận hơn cả là ở thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn ông viết không nhiều,
nhưng mỗi tác phẩm là một hình thức mới, đúng như Mao Thuẫn từng nói. Xuất
phát từ mục đích sáng tác muốn lay gọi, thức tỉnh tâm hồn của con người thời đại,
nhà văn không chủ trương chồng chất các biến cố, sự kiện khi dựng truyện. Ông
thường lấy các trạng thái tâm lý, những diễn biến của ý thức nhân vật làm đối
tượng miêu tả. Truyện Lỗ Tấn phần nhiều không có cốt truyện phức tạp, không
chứa đựng những mâu thuẫn đầy kịch tính, những tình tiết ly kì, gay cấn. Nói
đúng hơn, nhiều truyện chỉ đơn giản là những truyện không có chuyện. Thế
nhưng, viết về những đề tài hết sức quen thuộc, các thiên truyện của ông vẫn
không đơn điệu mà chứa nhiều sức gợi cảm và suy nghĩ sâu xa. Mỗi lần đọc, độc
giả lại vỡ thêm nhiều điều mới mẻ, thấy tâm hồn vang vọng không dứt những dư
âm. Đó là những tác phẩm “nói” được nhiều hơn chính bản thân nó. Có thể chỉ là
“mẩu chuyện nhỏ”, chỉ là câu chuyện bên lề cuộc sống, song chúng chuyển tải ý
nghĩa lớn lao về mối quan hệ giữa con người- con người, vấn đề lương tâm xã hội,
sự thức tỉnh những trái tim đang có nguy cơ cằn cỗi, chai sạn… Để kể truyện
không có chuyện mà đầy sức thuyết phục, Lỗ Tấn đã thể hiện một khả năng đặc
biệt trong việc vận dụng các phương thức tự sự. Trong phạm vi bài viết này,
chúng tôi muốn đề cập tới một phương diện nghệ thuật đã làm nên thành công của
sau đó họ lại tự triết lý, thanh minh cho sự bất lực của mình và cuối cùng chìm sâu
hơn trong cái vòng luẩn quẩn cam chịu. Còn một bộ phận trí thức nữa - giới trí thức
cấp tiến, lương thiện, ôm ấp những hoài bão lớn lao. Mơ ước của họ không phải là
giấc mộng nhỏ bé, bình thường như: danh vọng, tiền tài, hạnh phúc cá nhân mà là
khát vọng cao cả gắn với công cuộc cải cách xã hội và đấu tranh cho quyền tự do dân
chủ. Đương thời, khi tư tưởng phong kiến còn đè nặng lên mỗi con người, nhiều phần
tử trí thức còng lưng bó gối, phó mặc cuộc đời cho số phận thì bộ phận trí thức tiên
tiến này không bằng lòng với cuộc sống đơn điệu, không qui thuận kiếp sống an
phận, đã thức tỉnh sâu sắc về ý thức cá nhân và cả về lẽ sống ở đời. Sống là phải đem
đến cho cuộc đời những điều tốt đẹp, sống là góp phần làm cho cuộc đời có ý nghĩa
hơn. Rũ bỏ cái bản chất nô lệ ăn sâu bám chặt trong tiềm thức bao đời, họ đã dám
khát khao, mong mỏi kiếm tìm, vươn tới những gì cao đẹp nhất. Những khát vọng kì
vĩ, dự định lớn lao ấy đã biến họ trong con mắt những kẻ tầm thường, trở nên “kì
quái”, “khác người”. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, do địa vị kinh tế và chính trị
bấp bênh, giới trí thức này cũng mang nhược điểm vốn có: hay do dự, dao động, dễ
thoả hiệp, đầu hàng. Khi chạm trán với thực tế đen tối, họ dễ sinh ra tâm lí bi quan,
chán nản, thất vọng. Cái lý tưởng cá nhân mỏng manh của họ không đủ sức chống
chọi nổi hoàn cảnh khốc liệt. Cuộc đời bị vùi dập, hoài bão lớn lao tan vỡ, tấn bi kịch
trong tâm hồn họ không tài nào tả xiết. Từ chỗ có lý tưởng, “muốn xông pha với
đời”, họ dần mất hết niềm tin, chỉ còn biết kéo lê cuộc sống thảm hại qua chuỗi ngày
vô vị, tẻ nhạt. Càng cố gắng gượng, giãy giụa tìm lối thoát ra, họ càng bị bủa vây, bị
thít chặt hơn trong ngao ngán, lẻ loi, khổ đau, bế tắc. Trong quán rượu và Con người
cô độc đi sâu phản ánh bi kịch tinh thần của bộ phận trí thức này - những con người
khắc khoải, bàng hoàng, cô độc trước thời cuộc.
Trong quán rượu và Con người cô độc có tới ba người kể chuyện. Trong đó,
có một người kể xuất hiện với vai trò thứ yếu: bà cụ Phát (Trong quán rượu) kể về
cái chết của nhân vật Thuận (lời kể chỉ chiếm 1/14 trang sách dịch) và bà nội thằng
Lương (Con người cô độc) kể về nhân vật Nguỵ Liên Thù trước khi chết (lời kể
chiếm khoảng 2/30 trang sách dịch). Chiếm phần chủ yếu trong mỗi tác phẩm là lời
của hai người kể chuyện chính. Hai người kể này là hai chủ thể mang ý thức độc
không biết một cái gì hết, ngày mai đây làm gì cũng không biết, phút sắp đến cũng
thế”. Bi kịch của Lã Vi Phủ là ở chỗ, tuy ý thức được sự bạc nhược tinh thần của
mình nhưng anh ta cảm thấy hoàn toàn vô vọng, biết làm “những việc chẳng ra gì,
coi như là không làm gì cả” nhưng anh ta vẫn làm.
Nguỵ Liên Thù (Con người cô độc) cũng vậy. Từng được tiếp thu nền tư
tưởng tiến bộ, từng mong ước, kì vọng vào sự đổi mới của tương lai, nhưng khi vấp
phải hiện thực phũ phàng, anh ta đã vứt bỏ tất cả. Cái xã hội hủ bại làm cho cuộc
sống của anh ta tồi tệ đến mức một cái tem để dán thư cũng không có tiền mà mua,
song tệ hại hơn, nó làm ngọn lửa lòng trong anh lụi tắt. Nỗi đau nhất của con người
là khi niềm tin vào cuộc sống đã không còn. Mất niềm tin vào cuộc sống, Nguỵ
Liên Thù đâm ra hận đời. Có lúc, anh ta chợt nghĩ mình thà chết còn hơn: “Chính
tôi cũng cảm thấy mình không đáng sống nữa”. Nhưng anh ta lại không có gan để
chết. Sống để tự nhạo báng mình và trả thù cuộc đời, Nguỵ Liên Thù hoàn toàn
quay lưng lại cuộc đời. Rồi “Như con tằm, anh tự bủa xung quanh anh một tổ kén,
nhốt mình trong đó”, “chính mình làm cho mình cô độc” để sau đó, phản lại chính
lý tưởng cao đẹp của mình: “Tất cả những gì xưa kia tôi thù ghét, phản đối, bây giờ
tôi làm hết. Tất cả những gì xưa kia tôi sùng bái, chủ trương, bây giờ tôi bỏ hết”. Cự
tuyệt với quá khứ, tương lai vời xa trống rỗng, tạm chấp nhận cuộc sống thực tại
“vui lòng ăn xin, chịu đói rét, chịu quạnh hiu, chịu đắng cay cốt sao đừng chết mất
thì thôi”, Nguỵ Liên Thù đã bị chính hiện tại thối nát và tính cách tha hoá của anh ta
đào thải. Giao lưu với Nguỵ Liên Thù, “tôi” cũng không tránh khỏi cảm giác kinh
ngạc trước sự đổi thay tới mức “không ngờ” của anh ta. So với Lã Vi Phủ, con
người Nguỵ Liên Thù phức tạp hơn, bi kịch tinh thần của anh ta cũng nặng nề hơn.
Trong con người này, luôn tồn tại một mâu thuẫn gay gắt. Một mặt, anh ta tìm mọi
cách thoát khỏi tình cảnh khốn khó về vật chất, chỉ để “tiếp tục sống”; một mặt, anh
ta lại tự khinh thường kiểu sống “thiếu tư cách” của mình. Sau khi bước chân vào
chốn thượng lưu “làm cố vấn cho sư trưởng họ Đỗ”, bề ngoài anh ta tỏ ra vui vẻ, tự
đắc, nhưng trong lòng là cả một nỗi đau, nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Nguỵ Liên Thù
cũng như Lã Vi Phủ đều không muốn bị diệt vong, nhưng về mặt tinh thần, họ đã bị
huỷ diệt. Qua ngôn ngữ của những người kể chuyện xưng “tôi”, người đọc đồng
sống trong sự “lãnh đạm và hoài nghi”, cô độc “một mình giữa cõi sa mạc” vô biên.
Hình ảnh Lã Vi Phủ, Nguỵ Liên Thù tự phá huỷ cuộc đời, lý tưởng của mình bằng
những công việc vô nghĩa lý, chẳng đâu vào đâu, cũng tương tự hình ảnh Lỗ Tấn
bao năm trời bị thái độ bi quan, tiêu cực án ngữ, quằn quại trong nỗi buồn chán vô
hạn, tìm mọi cách “làm cho tâm hồn mình tê dại đi”. Chính nhà văn thừa nhận: “Tôi
từng là một người theo chủ nghĩa bi quan hoàn toàn. Sau này tôi dần dần phát hiện
ra bản thân mình, dần dần sinh ra hoài nghi cả sự hoài nghi của mình”
(2)
. Đề cập tới
giới trí thức tiên tiến cũng có nghĩa nhà văn tự nói về mình. Đây là việc làm có ý
nghĩa sâu sắc. Sự hoài nghi, thất vọng, bi quan, suy sụp tinh thần của các nhân vật
vừa phản ánh cảm nhận cá nhân của tác giả, vừa phản ánh tâm trạng chung của giới
trí thức đương thời. Không ít nhà nghiên cứu cho rằng, cuộc đối thoại giữa “tôi” với
Vi Phủ phản ánh quá trình tự đối thoại trong tư tưởng của Lỗ Tấn. Mỗi nhân vật
trong hai nhân vật ấy cũng là “một trong hai mặt” của “cái tôi” tác giả. Và trong
mỗi nhân vật lại thể hiện mâu thuẫn nội tại của ý thức nhà văn. Cũng vậy, những
xung đột diễn ra nơi sâu thẳm nội tâm của nhân vật Liên Thù ít nhiều có sự liên
thông với nội tâm của Lỗ Tấn những năm 20… Thông qua các nhân vật, tác giả
không chỉ chiết xạ tâm trạng bi phẫn của mình mà còn tiến hành thẩm vấn, nhìn lại
tâm hồn mình. Cái “tôi” của mỗi người là kẻ thù lớn nhất của mỗi người. Vì lẽ đó,
con người phải luôn biết vượt lên chính mình, và tiến hành “cuộc chiến” hàng ngày
với chính bản thân mình. Không phải mọi cái “tôi” đều có thể sửa đổi, nhưng phải
để nó đối diện với nó thì mới có cơ hội sửa đổi. Lỗ Tấn từng nói: “Tôi rất hiểu tôi,
tôi mổ xẻ bản thân tôi cũng không nể nang hơn khi mổ xẻ người khác”. Hai tác
phẩm thực chất thể hiện tinh thần tự giải phẫu của chính bản thân tác giả. Ngòi bút
Lỗ Tấn khi dám can đảm, mạnh dạn nhìn sâu vào mình, vào tầng lớp mình để
nghiêm túc phân tích, mổ xẻ, cũng là mục đích qua đó, tìm lối thoát cho cả một lớp
người, cho cả một xã hội - một xã hội đau bệnh với những con người “cả nhân thể
lẫn cõi lòng đều nhuốm bệnh”.
Như vậy, vẫn mang đặc điểm chung của các truyện kể ở ngôi thứ nhất theo