CHỦ THỂ THẨM MĨ VÀ ĐIỂM NHÌN KHÔNG THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG THU VỊNH CỦA NGUYỄN KHUYẾN
Nguyễn Thanh Trường
1
ó nhiều hướng tiếp cận một văn bản nghệ thuật. Trong tâm thức của
người tiếp nhận đương đại, một tác phẩm văn học trung đại có lẽ không
còn là một nhu cầu tiếp nhận thúc bách, song nẻo đường đi vào thế giới nghệ
thuật thơ trung đại vẫn còn nguyên sức mời gọi. Giải mã điểm nhìn không
thời gian của "Thu vịnh" cũng là một cách tiếp nhận gợi nhiều suy ngẫm về
mối liên hệ giữa chủ thể thẩm mĩ và cảm thức thẩm mĩ trong một văn bản
nghệ thuật. Tác phẩm là một bức tranh thu hoàn chỉnh trong chùm thơ thu
của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Đây là bài thơ Nôm Đường luật hài hoà giữa
yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật với nghệ thuật xử lí không
thời gian theo
lối tản điểm
một đặc trưng của thi pháp không gian
thời gian nghệ thuật
Đường thi.
1. MỞ ĐẦU
Tiếp nhận một tác phẩm văn học trung đại không còn là sự mời gọi đầy hấp dẫn với bạn
đọc đương đại, song thử đưa ra một cách đọc, một cách tiếp nhận đối với một bài thơ trung
đại vẫn còn là lối đi chưa hẳn đã cũ. Như đối với Thu vịnh
tưởng đã được khám phá đến tận
( ) đối với những hiện tượng của cuộc sống, ở sự độc đáo và ở ý nghĩa của những khái quát
mang tính chất sáng tạo" [1, tr.92]. Điểm nhìn trong phương thức quan sát sự vật của người
nghệ sĩ phương Đông nhìn chung khá linh hoạt. Từ tâm điểm hướng ngoại và từ bên ngoài
hướng về trung tâm đôi khi là hướng vào nội cảm. Điểm nhìn đa chiều, luân phiên như thế,
trong tâm thức của người phương Đông, đặc biệt là trong tư duy không thời gian của các
nghệ sĩ thơ Đường, đã tạo nên một trường nhìn phá vỡ cấu trúc "vuông rỗng" của tư duy
không thời gian phương Tây. Đây là điểm nhìn tản điểm. Thu vịnh là một một kết cấu
tương giao giữa cảnh thu và tình thu, xoay quanh trục không thời gian nghệ thuật tản điểm
này. Với sáu câu thơ đầu, ấn tượng về một bầu trời thu thanh sạch đến lắng sâu: Trời thu
xanh ngắt mấy tầng cao. Vẫn là thu thiên trong Đường thi, Nguyễn Khuyến thanh thoát trong
cái nhìn hướng về tầm xa nhất, cao nhất trong vũ trụ và bắt gặp một trời thu xanh ngắt. Với
cảm thức Đường thi, chủ thể sáng tạo kéo không gian vũ trụ trở về bên mình. Cảnh vật hoá ra
gần gũi. Không gian vũ trụ tưởng xa ngút tầm mắt, lại nhờ tâm thức Đường thi, trở về gần với
chủ thể. Nhờ đứng từ hệ quy chiếu tản điểm, các nhà thơ Đường đã sáng tạo những bức tranh
huyễn ảo, vừa là dư ảnh hút sâu của tình và ý. Nguyễn Khuyến đã sử dụng nhuần nhuyễn lối
quan sát tản điểm của tư duy nghệ thuật Đường thi. Xa gần, cao thấp, nông sâu. Tất cả
tạo nên một sự hoà phối phức cảnh, phức điệu trong tình thu. Chủ thể thẩm mĩ tựa vào nền thi
pháp trung đại, đồng thời lại bám sát vào góc nhìn phức diện của lối thu nạp không gian với
kĩ thuật xử lí không gian của thơ Đường. Song với hồn thơ mẫn cảm, thi sĩ đã tô thêm cho
nền trời thu một mảng màu rực rỡ. Tính từ cực tả làm cho da trời rạng ngời, huyền diệu hơn.
Đây cũng là sự hoà phối tinh diệu giữa cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ và nghệ thuật gieo
thanh, nhả nhạc cho tứ thơ của tư tưởng phương Đông, mà Đường thi là một điển hình. "Thơ
là cái mối tự lòng người cảm xúc với ngoại vật mà phát ra âm thanh" [2, tr.28]. Bức tranh của
một thi sĩ lại mang hồn của một bức tranh hội hoạ, lại còn mang cả linh hồn của một bức ảnh
được kết nối bằng những nốt thanh nhạc. Vừa như thăm thẳm, vừa như sâu hút; vừa gần mà
cũng xa xôi. Nghệ thuật của phương Đông đã thấm vào hồn thơ Nguyễn Khuyến. Ở đây, màu
da trời chồng chất lên nhau tạo nên một khối màu dày dặn mà chan hoà. Nhưng dẫu tầng tầng
lớp lớp thì con người vẫn có cảm giác trống vắng. Thơ Đường có cái mênh mông của đất trời
nhưng trong thơ Đường vẫn xuất hiện những nét chấm phá, đôi khi khiến con người cảm thấy
tự thân bé nhỏ; vạn vật nhờ vậy mà có sức ám ảnh mê người. Con người không chịu được cái
như đã xuất hiện sự xâm lấn của thời gian. Trong Phong Kiều dạ bạc, Trương Kế cũng vẽ
nên một bức tranh thu hài hoà nhưng không có nét nhòe, cũng không thấy bước đi lặng lẽ của
thời gian: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hoả đối sầu miên. Một cảnh
đêm thu hiển hiện ngay từ đầu bài thơ. Cũng có sự hài hoà giữa cái tĩnh và cái động đặc
trưng của Đường thi, cũng có tiếng quạ kêu, tiếng chuông vang vọng song vẫn khó gợi lên
được sự rung động thầm kín, ý nhị trong lòng người vì cảm thức thời gian hiển lộ quá.
Lí Bạch từng cất lên tiếng hồ hởi của cái tôi khi giỡn chơi dưới bóng trăng. Không gian
như rung lên trong niềm hưng phấn tột độ của nguồn cảm hứng thưởng ngoạn của chủ thể trữ
tình: Ngã ca nguyệt bồi hồi/ Ngã vũ ảnh linh loạn/ Tỉnh thì đồng giao hoan (Nguyệt hạ độc
chuốc). Ở Thu vịnh, bóng trăng vào song cửa lặng lẽ, phong kín hơn. Không gian đã không
còn là một cõi tĩnh tại nữa. Bóng trăng hồn vía đã thực sự mời gọi. Trăng không viên mãn,
tràn đầy mà trăng như mảnh mai hơn qua song cửa. "Thi trung hữu hoạ". Chủ thể không vẽ
mà cảnh vật tự nhiên sắc nét. Người tiếp nhận cảm ánh trăng thu không chỉ bằng thị giác mà
còn bằng cả sự "thức nhọn". Lòng yêu thiên nhiên của thi nhân thể hiện rõ qua cử chỉ mời
trăng. Để mặc thân mật như xưa nay các nhà thơ vẫn đãi ngộ với người bạn thiên nhiên
này. Một ánh trăng mang vẻ đẹp cổ điển lại được đón nhận bởi cõi lòng đầy đặn của một con
người ưu ái với thiên nhiên. Có lẽ khó có từ nào diễn đạt hết tình hơn từ để mặc thân mật
mà không suồng sã. Ngôn ngữ giản dị và gần gũi lạ thường. Lòng người không còn chút vách
ngăn nào với ngoại giới. Trong Đường thi, con người và vũ trụ tương giao diệu kì. Không
gian đã ngấm thế giới tâm linh con người. Đây cũng là nét nổi bật trong cảm thức thơ ca
phương Đông. Nguyễn Khuyến cởi lòng với thiên nhiên trong tâm thế của một người ở ẩn.
Nhiều tâm trạng, hay có thể nói là hỗn loạn tâm trạng. Vì thế, tác giả góp mình làm hồn vía
hơn nét đẹp Đường thi. Quả thật "cái có ảnh hưởng đối với sáng tạo nghệ thuật không phải là
cái được nhìn thấy một cách đơn thuần, nó là cái được nhận thức một cách tích cực, cái được
thể nghiệm qua, cái làm cho nghệ sĩ phải xúc động, cái đã trở thành một bộ phận của cái "tôi"
tinh thần của nghệ sĩ" [1, tr.113].
Điểm nhìn của tác giả dịch chuyển đến cận cảnh và dừng lại trước một thực thể thẩm mĩ
hữu hình, hữu hình một cách tưởng có thể dang tay là nắm bắt được. Dưới sức lan toả của
bóng trăng, lòng người như bình yên. Chủ thể thẩm mĩ đã dịch chuyển điểm nhìn vào tâm
cảnh. Vẫn trong cảm thức mùa thu, song người nghệ sĩ đã đứng hẳn vào thế giới của đời
Đào Tiềm? Xưa nay, các nhà thơ cổ Việt Nam dường như luôn có một nhà thơ Đường để
ngưỡng vọng. Nguyễn Du ngưỡng mộ Khuất Nguyên, Đỗ Phủ. Trong thơ ông, ta thường thấy
dáng dấp của những nhà thơ mà ông hết lòng mến mộ và Nguyễn Khuyến cũng có Đào Tiềm.
Nhưng ở đây, cái tình của nhà thơ thật sâu kín. Thật khó giải mã là nỗi thẹn ấy xuất phát từ
đâu? Là tài năng hay phẩm cách Đào Tiềm làm ông day dứt? Nếu Đào Tiềm từng tự cày
ruộng để lấy cái ăn, từng không luồn cúi vì năm đấu gạo thì Nguyễn Khuyến cũng đã từng
hoà mình vào cuộc sống nông thôn, từng cáo quan về vui với thú điền viên. Còn tài thơ của
họ, nếu so sánh thì mỗi người là một phong cách độc đáo. Nguyễn Khuyến đã sống trong
lòng người dân Việt như là một nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam. Thẹn với một tài
năng và một nhân cách lớn như Đào Uyên Minh cũng là cách Nguyễn Khuyến khẳng định
mình. Vẫn thấy một niềm tự hào trong nỗi thẹn đó. Đặt mình bên cạnh một con người đẹp đẽ
như thế, dẫu Nguyễn Khuyến thấy không sánh được nhưng rõ ràng chủ thể vẫn tự ý thức rằng
giữa mình và người xưa có điểm chung cùng. Nỗi thẹn ở đây là một nỗi niềm tự trọng. Và
không đơn thuần Nguyễn Khuyến thấy thẹn với người mà còn thẹn với bản thể "tôi". Có lẽ,
ông thẹn vì mình vẫn còn đâu đó một vết thương lòng chưa lành lặn Nỗi thẹn trong hai câu
cuối bài thơ càng tôn lên nhân cách Nguyễn Khuyến cái cốt cách trong sạch như bầu trời
thu, như ao thu
"Nguyện vọng tha thiết của nghệ sĩ nhằm đạt tới tác động thẩm mĩ cao nhất thể hiện rõ
rệt trong sự hình thành tính hoàn chỉnh bên trong của những tác phẩm nghệ thuật" [1, tr.151].
Cuối bài thơ là một tình thu thâm trầm, là cảm xúc thẩm mĩ sâu lắng đến nghẹn ngào của chủ
thể sáng tạo trên cái nền cảm thức không thời gian. Nguyễn Khuyến không để lộ lòng trắc
ẩn mà bức tranh thu vẫn hiển lộ tâm thức về vũ trụ, về vòng đời, về nhân sinh, về nhân gian,
về nhân bản. Nếu không có tiếng ngỗng bâng khuâng giữa trời thu vời vợi thì bức tranh thu
hẳn còn dang dở; chủ thể thẩm mĩ và cảm thức
không thời gian sẽ còn là một vách ngăn vời vợi. Cũng như nếu không có nỗi thẹn thì Thu
vịnh đã khuyết nửa hồn thơ và hơi thở của Đường thi sẽ không thể nào có cửa ngõ để len
thấm vào một thi phẩm thơ ca Việt một cách dịu nhẹ mà đầy sức ám ảnh đến vậy. Một bức
tranh được hoạ bằng ngôn từ mà chủ thể trữ tình ẩn trong sợi dây kết nối giữa chủ thể thẩm
mĩ và điểm nhìn nghệ thuật. Đó là cách để những bài thơ thu của thơ ca trung đại Việt Nam
vừa lan toả chất Đường thi, vừa hoà quyện hồn thơ dân tộc. Tất cả làm nên mối quan hệ mật
medieval poetry is still really attractive. For current readers, Thu vinh is worth reading and reading
it is considered as co-reativeness. Decoding space
time observing points in Thu vinh is one way of
absorbing which leads to the consideration of the connection between aesthetic subjects and aesthetic
perception in an artistic work. The work is a complete picture of autumn in a group of autumn poems
by Nguyen Khuyen. It is a Chinese-ranscribed Vietnamese poem bearing Tang style which
harmoniously combines the factor Chinese-ranscribed Vietnamese and Tang style with the space
time
handling way of spreading points
a specific characteristics
of space
time slyle in Tang poetry.