Tín hiệu thẩm mỹ thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca từ của trịnh công sơn - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************

BÙI THÚY QUỲNH

TÍN HIỆU THẨM MĨ
THỂ HIỆN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************

BÙI THÚY QUỲNH

TÍN HIỆU THẨM MĨ
THỂ HIỆN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học
ThS, GVC LÊ KIM NHUNG

như thi sĩ Horace đã từng nói. Phải chăng vì thế thời gian trong các ca khúc
của ông cũng muôn màu muôn vẻ như cách ông nhìn nhận về nó vậy.


Việc tìm hiểu giá trị ca từ của Trịnh Công Sơn đang là một vấn đề khá
mới thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là soi chiếu dưới góc độ
ngôn ngữ. Là một người yêu và say mê nhạc Trịnh và xuất phát từ mong
muốn khám phá, tìm tòi những vấn đề mới mẻ, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn
đề tài nghiên cứu: “Tín hiệu thẩm mĩ thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca
từ của Trịnh Công Sơn”. Với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp một tiếng
nói mới mẻ, góp phần khẳng định thêm tài năng nghệ thuật của Trịnh Công
Sơn _ một “phù thủy ca từ của thế kỉ XX”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Trịnh Công Sơn trong cách nhìn nhận của các nhà phê bình,
nghiên cứu văn học và âm nhạc
Trịnh Công Sơn đã từng xuất hiện trong cảm nhận của Trịnh Cung và
Nguyễn Quốc Thái với cuốn “Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ, Hội Họa và Suy
Tưởng” của Nhà xuất bản Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh năm 2001. Sau đó
cuốn sách gây được nhiều ấn tượng hơn trong lòng bạn đọc là “Trịnh Công
Sơn- một người thơ ca một cõi đi về” do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy
Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn.
Ấn phẩm đặc biệt viết về Trịnh Công Sơn xuất bản tháng 10 và 11 tại
California, Mĩ với chủ đề “Trịnh Công Sơn/ Tình yêu, Quê hương, Thân
phận” cũng tổng hợp nhiều bài viết về cuộc đời riêng và cuộc đời âm nhạc
của ông như các bài viết của Cổ Ngư: “Đôi dòng về Trịnh Công Sơn”, Nam
Dao: “Ngỡ ngàng nước đục bụi trong”, Trương Thìn: “Ngẫm nghĩ về Sơn”,
Trúc Chi: “Về một tâm hồn nghệ sĩ”,…
Cũng trong năm 2001, năm mà cố nhạc sĩ từ giã cõi đời nhiều nhà
nghiên cứu đã tìm về cuộc đời riêng đầy bi kịch của ông để nhìn lại những
thăng trầm và những cuộc vượt thoát mà Trịnh Công Sơn đã cố gắng vượt

nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có một vị trí rất quan


trọng và về mặt ca từ Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ. Lời ca anh
không quá dễ dãi tùy tiện, mà luôn luôn ẩn sâu một triết lí về cuộc đời và điều
đáng nói là anh đã tìm được những giai điệu phù hợp, dung dị, không cầu kì,
kiểu cách để thể hiện nội dung đó…”.
Tác giả Trần Hữu Thục trong bài “Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công
Sơn” đã phân tích về giái trị những từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần.
“Cách cấu tạo ngôn ngữ Trịnh Công Sơn tài hoa, táo bạo và lạ. Trong quá
trình tạo vần cho phù hợp với âm và với nét nhạc, anh bật ra những từ, những
ý, những hình ảnh và ngôn ngữ hết sức bất ngờ, mới lạ đôi khi khiến ta sửng
sốt y như chúng từ trên trời rơi xuống”.
Trong bài viết “Góc nhỏ cho những người mới tiếp cận nhạc Trịnh Công
Sơn” tác giả Trịnh Tuấn đã trình bày bài viết với bốn chương, trong đó
chương I đã bàn về ca từ Trịnh Công Sơn và đưa ra kết luận:
Thứ nhất, ca từ Trịnh Công Sơn là những “ngôn từ rất thơ, rất đời và
đầy chất triết lí. Cái nền tảng cho sự đam mê có lẽ xuất thân từ đây và định
hình trong tâm thức một hoài vọng tìm hiểu chân lí bí hiểm, nằm sâu dưới
đáy mồ nhân thế bao nhiêu năm chợt bừng thức bởi một thứ ánh sáng diệu
kì nơi lòng mình”.
Thứ hai, khi nói về “Tính thông tin trong ngôn ngữ Trịnh Công Sơn” tác
giả đã khẳng định: “Ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn tính thông tin vươn xa hơn
những dự cảm và mơ ước. Những câu chữ thể hiện cốt cách một trái tim lớn
một nhân sinh quan đã được hình thành bởi pha lê và cát bụi nên sự óng ả
trong nó không dễ nhận biết”.
Còn Trần Hữu Thục lại đưa mình “Đi vào thế giới ca từ của Trịnh Công
Sơn”: “ca từ của Trịnh Công Sơn là một hôn phối giữa nhiều nỗi nhiều niềm
nhiều sự khác nhau: nỗi tuyệt vọng nhân sinh, sự phẫn nỗ chiến tranh nỗi khát
khao hòa bình, nỗi băn khoăn siêu hình, niềm vui tình yêu, đoàn tụ, nỗi buồn



Tạp chí “Hợp lưu” (2001) tại Hoa Kỳ dành 72 trang viết đầu về Trịnh
Công Sơn. Trong đó có bài “Chiêm ngắm đóa hoa vô thường” của Hà Vũ
Trọng, khẳng định nhạc của Trịnh Công Sơn là thơ, ông viết: “Chúng ta yêu
nhạc Trịnh Công Sơn bởi trong nhạc của anh có thơ. Vậy chúng ta có cả
hai…Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để bay chở tình yêu trong những
ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể tách lìa được”.
Kì công hơn cả là bài viết của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc (Hoa Kỳ),
“Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”. Ông đã khảo sát
kỹ thời gian, không gian nghệ thuật và cách sử dụng ngôn ngữ kì ảo trong các
ca khúc của Trịnh Công Sơn. Theo ông trong nhạc Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ
thường được kết hợp với các biện pháp tu từ, và ông tìm ra nhiều loại thời
gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật. Ông chia không gian nghệ thuật trong
tác phẩm của Trịnh Công Sơn thành không gian tự nhiên như: trời đất, núi,
biển,…không gian rừng, không gian phố. Còn thời gian căn cứ vào các
THTM để xếp thành thời gian phai tàn, thời gian thực tại, hay thời gian hướng
vọng thiên thu,… Cuối cùng ông kết luận: “Trịnh Công Sơn là một thi sĩ. Anh
sống trong thời đaị của mình, và anh có những giấc mơ. (…) Có lẽ, nếu
muốn, chúng ta cũng thấy được tầm cỡ của thời đại mình qua những giấc mơ
và thế giới mà Trịnh Công Sơn đã sống, đã yêu và đã cùng xót xa với chúng”.
Trong bài viết “Hiện tượng Trịnh Công Sơn” của John C.Schafer (Hải
Phi và VY Huyền dịch) đăng lại trên trang web tác giả viết:
“Trịnh Công Sơn đã sáng tạo ra những bài hát của ông bằng cách đi thẳng
vào con tim thay bằng đi vòng qua trí óc. Để đạt được tầm ảnh hưởng này
ông dùng phương pháp giống như nhiều thi sĩ hiện đại, đó là lí do vì sao ông
thường được gọi là một thi sĩ chứ không phải chỉ là một người viết nhạc.
Những phương pháp này bao gồm: 1.Sự thiếu mạch lạc có chủ đích. 2. Giới
hạn có thể chấp nhận được. 3. ca từ, hình ảnh và phép ẩn dụ mới lạ. 4. Cách


đưa các vật vô tri, vô giác cũng trở nên sinh thể sống động, có linh hồn, có
tâm trạng, có cảm xúc,..nó chuyên chở những dòng tâm trạng của bản thân
ông. Không những thế, nó còn đại diện cho những trăn trở, khát khao của biết
bao nhiêu thế hệ người Việt Nam sống cùng thời với ông, từng mất mát trong
tình yêu, trong chiến tranh và có những hoài nghi về cuộc đời”.
Đặc biệt về vấn đề thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn đã
được nhà nghiên cứu Bùi Vĩnh Phúc khảo sát trong cuốn “Trịnh Công Sơn –
ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật” (Nhà xuất bản Trẻ). Tuy nhiên thời gian
nghệ thuật chỉ được ông xem xét trong một phạm vi hẹp chứ chưa mở rộng ra
thành một đề tài riêng. Như vậy, có thể coi chưa có một công trình nào nghiên
cứu riêng về thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn.
Như vậy, điểm lại các công trình nghiên cứu khác nhau về Trịnh Công Sơn
và ngôn ngữ trong những sáng tác của ông chúng tôi đều nhận thấy như sau:
- Các công trình nghiên cứu đều cố gắng dựng lại trung thực cuộc đời âm
nhạc của Trịnh Công Sơn.
- Hầu như các nhà nghiên cứu đều khẳng định Trịnh Công Sơn là một
hiện tượng văn hóa lớn của thế kỉ XX.
- Nghiên cứu, đánh giá Trịnh Công Sơn nhìn chung thường trong trạng
thái hỗn hợp giữa nhạc và lời. Nhưng dù vậy, căn cứ trực tiếp hơn vẫn thiên
về phần lời, phần ca từ.
Nhận xét về ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn, hầu hết đều khẳng định ông
là một thi sĩ, ca từ của ông đích thị là thơ. Một kiểu thơ lãng mạn, siêu thực
mà trữ tình, có giá trị lớn về nội dung trong lòng văn hóa Việt Nam. Ngôn
ngữ Trịnh Công Sơn đã tạo thành một trường phái ngôn ngữ mang phong
cách Trịnh.
Ngôn ngữ nhạc Trịnh, cuộc đời của nhạc sĩ đã được nghiên cứu ở rất
nhiều phương diện. Tuy nhiên nỗi ám ảnh thời gian trong các nhạc phẩm của


ông thì vẫn chưa có một chuyên luận thực sự nào bàn đến. Vì thế, đề tài này

biểu thị thời gian nghệ thuật trong thơ.
6.2. Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp dùng để miêu tả những trường hợp, những ngữ liệu
điển hình.
6.3. Phương pháp phân tích ngữ cảnh
Phương pháp này dùng để xác định giá trị nghệ thuật đích thực của tín
hiệu ngôn ngữ có chức năng biểu thị thời gian trong thơ.
6.4. Phương pháp phân tích phong cách học
Đây là phương pháp đặc thù của phong cách học. Trong khóa luận chúng
tôi sử dụng phương pháp này để xác định hiệu quả của các THTM thể hiện
thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn.
6.5. Một số phương pháp khác
Sau khi thống kê, phân tích các trường hợp sử dụng ngôn ngữ thể hiện
thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn chúng tôi sử dụng
phương pháp tổng hợp để rút ra nhận xét và những kết luận cần thiết.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm ba phần chính:
1. Chương 1. Cơ sở lí luận
2. Chương 2. Kết quả thống kê, khảo sát
3. Chương 3. Hiệu quả của những THTM thể hiện thời gian nghệ thuật
trong ca từ của Trịnh Công Sơn.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tín hiệu ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm
Dựa vào ý kiến của F.Sausure, các nhà Việt ngữ học đã đưa ra những

Đây chính là một đặc trưng mang tính đặc thù của tín hiệu ngôn ngữ một loại ước hiệu.
Võ đoán nghĩa là không đoán định được vì sao các thành viên trong cộng
đồng ngôn ngữ bắt buộc lựa chọn cái biểu đạt này, làm hình thức biểu đạt của
cái được biểu đạt kia. Theo F.Saussure: “Tín hiệu ngôn ngữ có đặc trưng này,
bởi vì chính là kết quả quy ước của các thành viên trong cộng đồng sử dụng
ngôn ngữ”.
Như vậy, nói đến tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ, chính là ta nói đến
tính không có lí do trong mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu.
1.1.2.3. Tính bất biến và tính khả biến
Bất biến theo F.Saussure nghĩa là khó biến đổi. Theo tác giả tính bất biến
của tín hiệu ngôn ngữ biểu hiện ở chỗ tín hiệu khi được các thành viên trong
cộng đồng chấp nhận và nạp vào hệ thống thì cái biểu đạt và cái được biểu đạt
của nó sẽ ổn định và tương đối bền vững.
Tác giả giải thích điều đó như sau: Ngôn ngữ phải có tính bất biến để
việc giao tiếp và tư duy của con người được thuận lợi. Giao tiếp trong xã hội
sẽ gặp trở ngại và rất khó thực hiện nếu các tín hiệu ngôn ngữ luôn thay đổi.
Bên cạnh tính bất biến, tín hiệu ngôn ngữ có tính khả biến. Nghĩa là tín
hiệu ngôn ngữ có khả năng biến đổi để phát triển.
F.Saussure giải thích đặc tính này như sau: Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp
và tư duy của con người trong những giai đoạn phát triển mới, cộng đồng đã


quy ước cải tiến một số ít tín hiệu lỗi thời bổ sung dần dần những tín hiệu
mới. Nhờ có tính khả biến mà theo thời gian ngôn ngữ ngày càng phong phú,
ngày càng lớn mạnh.
1.1.2.4. Tính hình tuyến
Theo F.Saussure, tính hình tuyến của ngôn ngữ là một đặc trưng không
kém phần quan trọng so với tính võ đoán. Ông cho rằng đặc trưng này thể
hiện ở cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ. Trong Đại cương ngôn ngữ học,
ông viết: “Vốn là vật nghe được, cái biểu đạt diễn ra trong thời gian và có

- THTM đơn (THTM cấp cơ sở)
Theo tác giả, đó là loại THTM ứng với một chi tiết, một sự vật, một hiện
tượng thuộc thế giới khách quan.
Ví dụ: con thuyền, ngôi nhà, dòng sông, cánh đồng, nỗi nhớ,…
Theo Đỗ Hữu Châu, CBĐ của tín hiệu loại này tương ứng với đơn vị từ
trong hệ thống ngôn ngữ của dân tộc. “THTM đơn” có chức năng tạo THTM
ở cấp độ cao hơn.
- THTM phức
Đỗ Hữu Châu cho rằng: đây là loại THTM ứng với nhiều sự vật, nhiều
hiện tượng. Chúng được xây dựng từ những THTM đơn nhưng ý nghĩa không
phải là kết quả của phép cộng giản đơn những THTM đơn. CBĐ của THTM
loại này tương đương với những đơn vị: câu, đoạn văn bản, văn bản.
Ví dụ:
Đêm mơ lay ánh trăng tàn
Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn.
(Chiều xưa – Huy Cận)
1.2.4. Những đặc trưng của THTM
a) Tính hệ thống
Một cách hiểu thường gặp về hệ thống được phát biểu như sau: “Đó là
một tổng thể những yếu tố có liên hệ qua lại và quy định lẫn nhau tạo thành


một thể thống nhất phức tạp hơn”. (Dẫn theo Mai Ngọc Chừ (…), “Cơ sở
ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Nxb Đh và GD chuyên nghiệp, Hà Nội 1992).
Các THTM có tính hệ thống. Theo các tác giả Sách giáo khoa Tiếng Việt
10: “Các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để
cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau
và hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung”. (Đỗ Hữu Châu,
Đặng Đức Siêu, Diệp Quang Ban, “Tiếng Việt 10”, Nxb Giáo dục, 1990,
tr.18).

sinh động hình ảnh quê hương đau thương. Sự kết hợp tài tình giữa hoán dụ
“dây thép gai” và ẩn dụ “đâm nát” đã khắc họa sâu sắc bản chất dã man của
kẻ thù và thảm họa mà chúng gây ra. Đằm sâu trong hai câu thơ là tiếng lòng
của Nguyễn Đình Thi với quê hương và thái độ căm phẫn của ông đối với kẻ
thù. Hai câu thơ trên của nhà thơ rất giàu tính tạo hình – biểu cảm.
d) Tính tác động
Ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng giao tiếp, nó là phương tiện để tác
giả giao tiếp với độc giả. Vì thế, ngôn ngữ nghệ thuật có khả năng tác động
rất lớn. Nó giúp người đọc tư duy bằng hình tượng. Thông qua các tín hiệu
ngôn ngữ nghệ thuật, bạn đọc không chỉ nhận ra hiện thực được phản ánh mà
còn hiểu được tấm lòng của tác giả, xác định được tài năng của mỗi nghệ sĩ.
Nhờ tác động của mỗi tín hiệu ngôn ngữ, người đọc tưởng tượng để đồng
sáng tạo với tác giả ngôn từ.
e) Tính biểu trưng
Theo Phạm Thị Kim Anh (2005), đây là đặc tính của THTM xét theo
mối quan hệ CBĐ và CĐBĐ của chúng. Tác giả cho rằng: “đó là mối quan hệ
có lý do liên quan đến khả năng biểu trưng hóa của THTM – loại tín hiệu vừa
có khả năng biểu hiện, nói lên một cái gì; vừa có tính chất hàm nghĩa – tức là
thêm nghĩa trên một nghĩa đã có sẵn.


Pierce cho rằng: “biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua
một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta “gán” cho nó trong một hoàn cảnh
nào đó…Nghĩa đó là do con người trong một cộng đồng đặt ra mà thôi”.
(Dẫn theo Hoàng Trinh (1998), “Tuyển tập Văn học”, Nxb Hội nhà văn,
tr.186).
Ví dụ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

nguồn gốc của chúng. Các tín hiệu ngôn ngữ trong các tác phẩm văn chương
được các nghệ sĩ ngôn từ lựa chọn trong hệ thống ngôn ngữ dân tộc. Ngay cả
những THTM được tạo ra theo sáng tạo cá nhân của tác giả thì sự sáng tạo đó
đều phải dựa vào các tín hiệu ngôn ngữ thuộc hệ thống tín hiệu thứ nhất.
Ví dụ 1:
Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
Ví dụ 2:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mầy thằng gian bút chẳng tà
(Than đạo – Nguyễn Đình Chiểu)
Ở hai ví dụ trên “thuyền” là ẩn dụ tượng trưng. Đây là THTM thể hiện
cách vận dụng sáng tạo của tác giả, nhưng tín hiệu đó được tạo ra theo phép
chuyển nghĩa dựa vào sự liên tưởng tương đồng với một nét nghĩa của tín
hiệu “thuyền”trong hệ thống.


Ở bài ca dao, cơ sở để tác giả dùng ẩn dụ tu từ để chỉ người đi xa đó là
nét nghĩa giống nhau ở đặc điểm của hai đối tượng (cả hai đều di chuyển).
Trong “Than đạo”, Nguyễn Đình Chiểu dùng “thuyền” để tượng trưng
cho văn chương. Cơ sở để nhà thơ tạo ra ẩn dụ tượng trưng này chính là sự
tương đồng về chức năng chuyên chở của “thuyền” và “văn chương”.
Chính việc sử dụng CBĐ của tín hiệu “thuyền” trong hệ thống ngôn ngữ
dân tộc và việc sáng tạo nghĩa mới THTM có thể giải thích bằng cách thức
nhất định giúp độc giả cảm nhận những tín hiệu trong tác phẩm rất gần gũi,
rất dễ hiểu.
Nói đến tính truyền thống của THTM, chúng ta cần phải nói đến chức
năng và hiệu quả của nó trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống con người.
Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả phải giúp người đọc nhận thấy con người,

Một ngôi sao / chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín chẳng nên mùa vàng
(Tố Hữu)
Ví dụ 2:
Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)
Ở ví dụ 1, câu thơ ngắt nhịp 3/3; còn trong ví dụ 2 câu lục lại được ngắt
thành hai dòng thơ.
Chính tính cách tân của THTM góp phần làm cho loại tín hiệu ngôn ngữ
này có sức hấp dẫn đặc biệt với độc giả. Từ việc nhận ra những cái mới mẻ trong
THTM, người đọc khao khát, say mê đọc tác phẩm để chiếm lĩnh được nó.


h) Tính thẩm mĩ
Đây là đặc trưng phản ánh bản chất của nghệ thuật, bởi vì “cái đẹp là
điều kiện không thể thiếu của nghệ thuật” (Beelinxki). Tính thẩm mĩ của tín
hiệu ngôn ngữ thể hiện ở việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ, ở việc sử dụng
các biện pháp tu từ để tạo ra lời nói nghệ thuật có sức hấp dẫn với người đọc.
Ví dụ:
Xanh cây xanh cỏ xanh đồi
Xanh rừng xanh núi da giời cũng xanh
(Vài nét rừng – Nguyễn Bính)
Hai câu thơ trên có mười bốn chữ nhưng từ “xanh” được lặp lại tới sáu
lần. Việc lặp lại nhiều lần từ “xanh” ở hai câu thơ kết hợp với sự sáng tạo
trong cách dùng kết cấu đảo cú pháp, để biến đổi nhịp thơ, tác giả đã vẽ nên
một bức tranh thiên nhiên tươi tắn, tràn ngập một màu xanh. Phép điệp trong
hai câu thơ góp phần khắc họa sắc xanh của thiên nhiên.
1.3. Thời gian nghệ thuật

chương nhạc…).Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung
một khái niệm: “ca từ”.
Theo Từ Điển Tiếng Việt của Văn Tân: “Ca từ là lời ca bài hát. Bài từ
khúc có thể hát được”.
1.4.2. Một số đặc điểm trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Mọi người thường hỏi tại sao âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại có
sức sống, sức lan toả vượt thời gian và không gian như vậy? Bởi nhạc Trịnh
không chỉ đẹp ở phần nhạc mà còn đẹp, còn lạ, còn tuyệt vời trong những ca
từ của ông.
Nhận định về ca từ của Trịnh Công Sơn, Văn Cao viết: “Tôi gọi Trịnh
Công Sơn là người ca thơ (chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau
đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”.


Bùi Vĩnh Phúc nhận định: ‘Người ta thường cho rằng những lời ca từ
của ông là thơ. Thì đúng như vậy. Chúng là những lời thơ thả bay cho gió
cuốn. Chúng là những hình ảnh bất chợt hiện ra lạnh lùng, kì bí và đầy hư ảo
trong những giấc mơ của ta. Chúng bay rải rác và rồi đột ngột xếp lại thành
những bức tranh lạ lùng mang đầy tính huyền ảo. Đó là lời thơ của một người
thường thấy mình mộng du ngay trong đời sống,và thấy đời sống trở về với
giấc mộng của mình. Đó là những câu thơ nhặt được trong đời, hay trong mơ.
Có khi Trịnh Công Sơn xếp đặt nó theo một thứ vần điệu nào đó dễ nhận ra,
qua những hình thức của thi ca mà chúng ta đã quen biết, có những khi,
chúng giống như những câu thơ tự do, những câu thơ dài ngắn không đều ,
những mảnh giấy mà trẻ con xé nghịch thả bay cùng trời đất. Có lẽ đa số
những câu hát của ông nằm trong dạng thức đó. Những câu thơ tự do, như
những mảnh giấy mỏng nhiều màu sắc thả bay trong trời”
1.4.2.1. Lời ca từ mang đậm tính nhân văn và chất triết lý nhân bản.
Ngoài phần nhạc nhẹ nhàng như gió thoảng mây bay có sức len lỏi vào
từng ngóc ngách tâm hồn con người, thì phần lời lại nêu bật được hình ảnh,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status