Phương thức huyền thoại
trong sáng tác văn học
Mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học diễn ra trên nhiều bình diện
khác nhau. Có những huyền thoại xưa giầu tính chất văn chương, đóng góp
vào kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú của nhân loại. Bài viết
này không đi vào nghiên cứu giá trị văn chương của các huyền thoại xưa,
lâu nay vẫn quen gọi là thần thoại.
Tính chất thơ ca sâu sắc khiến huyền thoại cổ đại trở thành chất liệu
quý giá cho văn học, nghệ thuật từ bao đời. Không ít các văn nhân, nghệ sĩ
trên thế giới xưa nay đã khai thác đề tài từ kho tàng hầu như không bao giờ
cạn kiệt ấy. Tính chất thơ ca của thần thoại còn là nguyên nhân khiến về
sau nhiều văn nghệ sĩ đã sáng tác theo dáng dấp huyền thoại xưa, với
những yếu tố hoang đường kỳ ảo, tuy hoàn cảnh lịch sử sản sinh ra nó đã
lùi xa vào dĩ vãng. Bài viết này cũng không bàn đến văn chương các thời
đại khai thác chất liệu và dáng dấp của kho huyền thoại xưa.
Chúng tôi muốn xem xét huyền thoại như một phương thức nghệ
thuật đang có xu hướng trở thành một trong những kỹ thuật sáng tác của
tiểu thuyết hiện đại.
*
Phương Tây bàn nhiều đến huyền thoại từ giữa thế kỷ XX. Vấn đề
này cũng thu hút sự quan tâm ở nước ta từ thời kỳ đổi mới. Nhưng đây lại
là một khái niệm có nội hàm không tường minh như bản thân thuật ngữ
huyền thoại, nội hàm ấy thay đổi khi xem xét ở những bình diện khác nhau.
Không phải ngẫu nhiên Gilbert Durand và Simone Vierne trong ban tổ chức
cuộc hội thảo Huyền thoại và cái huyền thoại ở Cerizy-la-salle tuyên bố
rằng sở dĩ có cuộc hội thảo ấy là vì “hiện nay có sự lạm phát trong sử dụng
thuật ngữ huyền thoại, và sự nhập nhằng của thuật ngữ cái huyền thoại”.
Huyền thoại là một thuật ngữ xuất hiện từ xa xưa và nội dung của nó
thay đổi không ngừng. Khái niệm huyền thoại trong hệ thống thần thoại Hy
Lạp không giống với khái niệm huyền thoại trong chữ dùng của nhà sử học
cổ đại Hérodote. Huyền thoại của đạo Thiên chúa khác với huyền thoại theo
xa hơn nội hàm ấy bao nhiêu. Từ vựng các thuật ngữ văn học của M.
Jarrety
(1)
định nghĩa huyền thoại là “truyện hoang đường truyền từ đời nọ
qua đời kia, trái với truyền thuyết có tầm hạn hẹp (nó gắn với một địa điểm
chẳng hạn), huyền thoại có khuynh hướng mang ý nghĩa phổ quát (vũ trụ,
siêu hình hoặc nhân loại) ” Từ điển thuật ngữ văn học của P. Aron, D.
Saint Jacques, A. Viala
(2)
có vẻ đi ngược xa hơn về ngọn nguồn “lời nói” khi
viết : “Huyền thoại bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp mythos có nghĩa là truyện kể
(récit), truyện hoang đường (fable), và truy nguyên xa hơn nữa là lời nói (tôi
nhấn mạnh - PVT) ” ; tiếc rằng sau đó các ông lại chỉ dựa vào “récit” và
“fable” khi định nghĩa: “Huyền thoại là một truyện hoang đường tự kể ra”.
Như vậy, nói đến huyền thoại là người ta nghĩ ngay đến những yếu tố
siêu nhiên, hoang đường. Huyền thoại xưa tôn vinh các nhân vật, các sự
kiện siêu phàm, nên ngày nay trong đời sống xã hội, ta cũng dùng thuật
ngữ ấy để nói về những sự kiện, những nhân vật kiệt xuất hoặc tài ba trong
cuộc sống đời thường, chẳng hạn huyền thoại Trường Sơn, huyền thoại
Maradona Do tính chất hư cấu, không có thật của huyền thoại xưa, nên
nhiều khi thuật ngữ ấy còn được dùng để chỉ những sự việc, những mơ
ước hão huyền
Vì huyền thoại theo nghĩa gốc Hy Lạp cổ xưa là lời nói, nên xuất hiện
một khuynh hướng giải thích huyền thoại từ góc độ ngôn ngữ học. Ở mục
từ “Myth” trong cuốn Từ điển các thuật ngữ văn học
(3)
, M.H. Abrams sau khi
định nghĩa “trong tiếng Hy Lạp cổ, mythos có nghĩa là mọi câu chuyện hoặc
tình tiết, dù là có thật hay hư cấu ”, đã viết hẳn một đoạn liên quan đến
Lévi-Strauss, Saussure và ngôn ngữ học cấu trúc: “Nhà cấu trúc luận Pháp
trước ” Đến Lời nói đầu ở lần tái bản năm 1970, tác giả lại viết: “Bạn đọc
sẽ thấy ở đây hai điều xác định : một mặt là việc phê phán về phương diện
tư tưởng đối với ngôn ngữ của cái gọi là văn hóa đại chúng; mặt khác là
việc tháo dỡ về phương diện ký hiệu học đối với ngôn ngữ ấy: tôi vừa đọc
Saussure và tôi sẽ rút ở đấy ra niềm tin chắc là bằng cách xem xét các “thể
hiện tập thể” như những hệ thống ký hiệu, người ta hy vọng có thể vượt lên
khỏi sự bác bỏ có tính chất kính nhi viễn chi và chỉ ra một cách chi tiết sự
lừa phỉnh muốn biến văn hóa tiểu tư sản thành bản chất phổ quát”
(6)
.
Ferdinand de Saussure (1857-1913) là nhà ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ,
người mở đường cho ngôn ngữ học hiện đại và sáng lập ngành ngôn ngữ
học cấu trúc, tuy rằng từ “cấu trúc” chưa một lần nào được ông nói đến.
Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cours de linguistique générale,
1916) xuất bản ba năm sau khi ông qua đời, Saussure dùng hai từ phân
biệt “langage” và “langue”, trong khi tiếng Việt và tiếng Anh chỉ có một từ
tương đương là “ngôn ngữ” hoặc “language”. Ngôn ngữ (langage) là hoạt
động nói năng, không chỉ bao gồm ngôn ngữ nói mà rộng hơn (người ta có
thể nói với nhau bằng các động tác ). Ngôn ngữ (langue) là tập hợp các ký
hiệu được một cộng đồng sử dụng để liên lạc, trao đổi với nhau, như tiếng
Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Cùng với các khái niệm langage
và langue là khái niệm “lời nói” (parole); đó là việc sử dụng cụ thể các ký
hiệu ngôn ngữ trong ngữ cảnh nhất định. Ngôn ngữ học chỉ là một nhánh
của ký hiệu học nói chung, nhưng là nhánh quan trọng và được phát triển
mạnh mẽ nhất.
Trong ngôn ngữ (langue), ông phân biệt hai mặt: cái biểu đạt (le
signifiant) và cái được biểu đạt (le signifié). Cái được biểu đạt là ý niệm về
một sự vật nào đó hình thành trong đầu ta; còn cái biểu đạt là âm thanh của
một từ phát ra để chỉ ý niệm kia. Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được
biểu đạt hoàn toàn có tính chất võ đoán, vô cớ. Chẳng hạn, không có lý do
đạt (những bông hồng) và cái được biểu đạt (tình yêu say đắm); không phải
thế, nói đúng ra ở đây chỉ có những bông hoa hồng đã “thấm đượm tình
yêu”; nhưng trên bình diện phân tích, rõ ràng có ba vế, vì những bông hồng
thấm đượm tình yêu hoàn toàn có thể phân tích thành những bông hồng và
tình yêu say đắm, hai vế đó tồn tại độc lập trước khi kết hợp với nhau để
tạo thành đối tượng thứ ba là ký hiệu. “Đúng thế, ông viết, trên bình diện
cuộc sống trải nghiệm, tôi không thể tách những bông hồng ra khỏi thông
điệp chúng mang theo, thì cũng vậy, trên bình diện phân tích, tôi lại không
thể lẫn lộn những bông hồng với tư cách cái biểu đạt và những bông hồng
với tư cách ký hiệu: cái biểu đạt thì rỗng, ký hiệu thì đầy, nó là một ý
nghĩa”.
Huyền thoại cũng có dạng thức ba chiều: cái biểu đạt, cái được biểu
đạt và ký hiệu. Nhưng “huyền thoại là một hệ thống đặc biệt ở chỗ nó được
xây dựng từ một chuỗi ký hiệu tồn tại trước nó : đó là một hệ thống ký
hiệu thứ hai. Cái là ký hiệu (nghĩa là tổng kết hợp của một khái niệm và
một hình ảnh) trong hệ thống thứ nhất nay chỉ là cái biểu đạt trong
hệ thống thứ hai”
(7)
.
Barthes đưa ra sơ đồ:
Ngôn ngữ
HUYỀN THOẠI
Sơ đồ cho ta thấy có hai hệ thống ký hiệu chèn lên nhau. Hàng thứ
nhất và hàng thứ hai của sơ đồ hợp thành hệ thống ngôn ngữ; hàng thứ hai
và hàng thứ ba hợp thành hệ thống huyền thoại. Cái ký hiệu của hệ thống
thứ nhất trở thành cái biểu đạt mà huyền thoại sử dụng để xây dựng hệ
thống của riêng mình: CÁI BIỂU ĐẠT – CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT – KÝ
HIỆU
(8)
. Barthes gọi hệ thống thứ nhất là ngôn ngữ-đối tượng (langue-
Hung, tác giả của những tiểu thuyết Vụ án (Der Prozess, 1924), Lâu
đài (Das Schloss, 1926), Nước Mỹ (Amerika, 1927) và một số truyện ngắn,
truyện vừa. Picasso là hoạ sĩ Tây Ban Nha, sống nhiều năm ở Pháp, gia
nhập đảng Cộng sản Pháp năm 1944, nổi tiếng với hội hoạ lập thể. Saint-
John Perse (bút danh của Alexis Léger), được Giải thưởng Nobel (1960), là
nhà thơ Pháp, một chính khách hoạt động nhiều năm trong ngành ngoại
giao, sang Mỹ sống từ năm 1940; thơ của ông khó hiểu, nhiều chỗ bí ẩn,
muốn vươn lên tầm diễn tả thân phận siêu hình của con người, như các
tập Lưu đầy (Exil, 1942), Những ngọn gió (Vents, 1946) Garaudy hoàn
toàn có dụng ý lựa chọn ba tác gia ấy để bàn về chủ nghĩa hiện thực. Tuy
nhiên, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh huyền thoại trong lập luận
của ông; vấn đề chủ nghĩa hiện thực chúng tôi sẽ trình bày trong một bài
khác.
Tác giả tiếp cận tranh lập thể của Picasso từ góc độ huyền thoại.
Theo ông, “sáng tạo các huyền thoại là chức năng đặc thù của nghệ thuật,
từ Homère đến Don Quichotte của Cervantes,Faust của Goethe và Người
mẹ của Gorki ”; nghệ thuật xưa và nay cùng thể hiện nỗi lo âu, sợ hãi ,
nhưng khác nhau ở chỗ thời cổ nói lên điều đó “bằng cách sáng tạo một thế
giới thần tượng và linh vật qua đó con người biểu thị và cô đúc những
quyền lực cao siêu hơn những quyền lực của tự nhiên, những quyền lực
huyền thoại”, còn ngày nay bằng cách “sáng tạo một thế giới khác với thế
giới của tự nhiên, một thế giới huyền thoại”. Với Picasso, đó là “cái nhìn có
tính chất huyền thoại”, Picasso “đã phác thảo cái nhìn huyền thoại vừa có
tính chất trữ tình vừa có tính chất sử thi ấy của thế kỷ chúng ta”; bức tranh
kiệt tác Guernica của ông là “một chân dung huyền thoại của thời đại chúng
ta”. Ý đồ sáng tạo lớn lao đó chẳng phải là không mạo hiểm, trước hết là
“khiến tác phẩm trở nên khó hiểu đối với chính những người mà Picasso
muốn ủng hộ trong cuộc đấu tranh của họ”