Công ty Cổ phần Đầu tư Công nghệ Giáo dục IDJ
Biên t
ậ
p viên: Tr
ầ
n H
ả
i Tú www.hoc360.vn
1
VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TÂM LÝ TRONG
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN NAM CAO
TÓM TẮT
Nam Cao là tác gia tiêu biểu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt
Nam giai đoạn 1930-1945, đồng thời là nhà văn có phong cách độc đáo với những cách tân
quan trọng về nội dung và nghệ thuật phản ánh hiện thực. Để có thể đi sâu tìm hiểu giá trị
đặc sắc của tác phẩm Nam Cao, tác giả bài báo đề xuất sử dụng khái niệm chủ nghĩa hiện
thực tâm lý - một khái niệm mới, gắn với quan niệm về chủ nghĩa hiện thực hiện đạị, bên
cạnh khái niệm chủ nghĩa hiện thực truyền thống vốn được phổ biến trong giới nghiên cứu ở
ta suốt nhiều thập kỷ qua. Nội dung bài báo gồm phần giới thiệu khái niệm đồng thời tập
trung chứng minh những đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực tâm lý đã được thể hiện rõ nét
trong tác phẩm Nam Cao.
hoàn cảnh điển hình”. Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu, lý luận ở ta đã dựa
Công ty Cổ phần Đầu tư Công nghệ Giáo dục IDJ
Biên t
ậ
p viên: Tr
ầ
n H
ả
i Tú www.hoc360.vn
2
trên định nghĩa nổi tiếng nói trên của Ăng-ghen làm cơ sở chủ yếu để nghiên cứu, xem xét,
đánh giá các trào lưu và tác phẩm văn học.
Tuy nhiên, lịch sử phát triển của trào lưu văn học hiện thực thế giới đã bổ sung
những thực tiễn sáng tác mới. Bên cạnh chủ nghĩa hiện thực truyền thống, đã song song
tồn tại những loại hình chủ nghĩa hiện thực hiện đại, điều mà các nhà kinh điển chưa có
điều kiện đề cập tới. Trong số đó có một loại hình chủ nghĩa hiện thực mà một số nhà
nghiên cứu gọi là ch
ủ nghĩa hiện thực tâm lý.
Đây là khái niệm để chỉ một chủ nghĩa hiện
thực đi sâu khám phá hiện thực của tâm hồn, “m
Đánh giá Nam Cao sáng tác theo phương pháp của chủ nghĩa hiện thực tâm lý,
chúng ta vẫn khẳng định ông là nhà văn hiện thực đúng với nghĩa nghiêm ngặt của từ này.
Ông cũng đề cập trực diện đến cái đói và miếng ăn; phản ánh cuộc sống của những con
người bị “áo cơm ghì xuống đất”. Nhưng với Nam Cao, phản ánh cái hiện-thực-đói không chỉ
là sự báo động về nạn đói vật chất đơn thuần mà hơn thế, là lời cảnh báo về phẩm giá con
người trước cái đói. Nam Cao luôn hiện ra như một trí tuệ luôn băn khoăn trước câu hỏi làm
gì để giữ nhân phẩm con người trước sức công phá dữ dội của hoàn cảnh. Vì thế, ông đã
chọn một lối đi riêng trong cách tiếp cận thẩm mỹ đối với hiện thực, công phu tìm kiếm
những sự thật kín đáo, tiềm ẩn đằng sau những mâu thuẫn hiện diện trong xã hội, đi sâu
khám phá hi
ện thực
c
ủa
tâm h
ồn con người
. Nói một cách công bằng thì tâm lý, tính cách
con người bao giờ cũng là đối tượng phản ánh của văn học mọi thời đại, bởi lịch sử văn học
xét cho cùng là lịch sử tâm hồn một dân tộc. Tuy nhiên, cái để làm nên một Nam Cao trong
Công ty Cổ phần Đầu tư Công nghệ Giáo dục IDJ
Biên t
ậ
p viên: Tr
ầ
n H
ả
i Tú www.hoc360.vn
được vì nó được dệt nên chỉ bởi những hồi ức, những nỗi buồn vui của nhân vật, mặc dầu
những hồi ức, những nỗi buồn vui ấy đều gắn liền với hiện thực đời sống xã hội Việt Nam
trước 1945. Khi đã xác định tâm lý con người là đối tượng phản ánh, Nam Cao thường
không chọn bối cảnh rộng lớn để đưa vào tác phẩm như nhiều nhà văn hiện thực khác. Ông
đã soi chiếu vào những không giản nhỏ hẹp để trên đó, nhân vật hiện ra với triền miên
trong những suy nghĩ, qua đó bộc lộ tính cách, bộc lộ tình cảm, thái độ xã hội của mình.
Thời gian trong tác phẩm Nam Cao dường như cũng ngưng đọng, quẩn quanh, bị tãi ra, kéo
dài miên man. Nó là một thứ thời gian tâm trạng. Con người hiện hữu của Nam Cao thường
hay hồi tưởng lại thời gian quá khứ để quên đi những nỗi khổ về vật chất và tinh thần hiện
tại.
Nam Cao không né tránh, trái lại, ông đặc biệt thành công với những "ca" tâm lý
phức tạp nhất, những tâm trạng chứa chất nhiều mâu thuẫn. Và chính ở đó, bức tranh hiện
thực về đời sống và tính cách nhân vật càng được khắc họa đến mức điển hình sống động.
Ông đã khám phá nhiều khía cạnh khác nhau, thậm chí tương phản nhau trong cùng một
tính cách. Vì vậy về mặt thi pháp phản ánh, Nam Cao cũng phải thể hiện nhân vật rất đa
dạng, đa chiều trong tính phức hợp và khả năng lưỡng phân của nó.
Không phải là hiếm trên những trang truyện của Nam Cao, những tâm trạng như thế
này: "ngay lúc ấy hắn nghẹn ngào trong cổ. Nh ưng chỉ một lúc sau, hắn đã bật cười" (Xem
bói ); hoặc: "giọng y nửa đứng đắn, nửa đùa. Nói xong, y cười ăng ắc. Tiếng cười thái quá
ấy nghe còn đau đớn hơn tiếng khóc. Tiếng cười im, mặt y dãn ra ngay, trở nên buồn rười
rượi" (S
ống m
òn). Nam Cao biệt tài trong việc mô tả tâm trạng d
ở cười dở
khóc, d
ở say dở
t
ỉnh.
Nó là cái ngoại hiện của những tấn bi kịch bên trong con người. Diễn tả những tình
cảm phức tạp của nhân vật, Nam Cao sử dụng những từ ngữ có sức gợi lớn. Nhân vật của
Biên t
ậ
p viên: Tr
ầ
n H
ả
i Tú www.hoc360.vn
4
cười
ặc ặc
" v.v Tâm trạng d
ỗi hờn
cũng là một biểu hiện tâm lý phức tạp của nhân vật
Nam Cao. Nhân vật của Nam Cao vốn cũng "hay tủi thân, hay khóc như những bà già".
Chẳng hạn một văn sĩ Điền trong truyện
Nước
m
ắt
: "Điền vẫn ngồi cúi mặt. Một nỗi chua
xót gần như thuộc về thể chất ứ lên trong lòng Điền", "Điền cực lắm. Hắn thấy một lớp
buồn tủi nữa chất thêm vào lòng!'. Và một anh giáo Thứ: "Thứ đột nhiên thấy nổi lên trong
lòng một nỗi uất ức tối tăm. Nó nâng một cục gì lên, lấp họng y " Những nhân vật nông
dân hay người lao động khác của Nam Cao cũng có lúc mang một tâm trạng dỗi hờn như
4. Kết luận
Tóm lại, khi bàn về những đóng góp đặc sắc của Nam Cao vào tiến trình hiện đại
hoá văn xuôi Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945, chúng ta khẳng định Nam Cao- với tư
cách là nhà văn hiện thực xuất sắc - đã không đi ra ngoài những nguyên tắc của chủ nghĩa
hiện thực nhưng ông đã mang đến cho văn học một loại hình chủ nghĩa hiện thực mới, đó là
chủ nghĩa hiện thực tâm lý, khai thác hiện thực ở chiều sâu mang tính triết luận về đời sống
tinh thần nhân vật, vượt lên trên lối kể tả thông thường. Sự cách tân sâu sắc này đã đưa
Nam Cao trở thành “người đại diện tiêu bi
ểu nhất”
(chúng tôi nhấn mạnh) của trào lưu hiện
thực phê phán trong thời kỳ phát triển cuối cùng” [1, tr.329].
Công ty Cổ phần Đầu tư Công nghệ Giáo dục IDJ
Biên t
ậ
p viên: Tr
ầ
n H
ả
i Tú www.hoc360.vn
[4] C.Mác - Ph.Ăng-ghen -V.I. Lê-nin: V
ề văn học v
à ngh
ệ thuật
, NXB Sự thật, Hà
Nội, 1977.
[5] Trần Đình Sử (1993), “Lời giới thiệu”,Nh
ững vấn đề Thi pháp Đôtxtôiepxki
, NBX
Giáo dục, HN.
[6] Trần Đăng Xuyền (2001), Ch
ủ nghĩa hiện thực
Nam Cao, NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội.