Những yếu tố Hậu hiện đại
trong văn xuôi Việt Nam qua so
sánh với văn xuôi Nga
Xuất phát từ quan niệm về thực tại hỗn loạn, về tính đa trung tâm - nhiều sự thật và nguyên
tắc mô hình hoá thế giới đặc trưng, văn học hậu hiện đại Nga sử dụng và làm phong phú
thêm hệ thống thi pháp của chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới được tích luỹ trong mấy thập
niên vừa qua.
Dựa trên những yếu tố cơ bản trong hệ thống thi pháp của văn học hậu hiện đại Nga,
như: liên văn bản (còn là nguyên tắc mô hình hoá thực tại), mô thức trần thuật nhại -
Pastiche - thể hiện thái độ giễu-nhại đa sắc thái của nhà văn đối với tính ngụy tạo (simulac)
của mô hình văn hoá HTXHCN, văn học cổ điển Nga và văn hoá đại chúng; phi lựa chọn
(nonseletion) - nguyên tắc kÕt cÊu chñ ®¹o thể hiện tính mâu thuẫn, đứt gãy của văn bản
hậu hiện đại, diễn ngôn đứt đoạn về sự tiếp nhận thế giới hỗn loạn, bị lạ hoá, “mặt nạ tác
giả” - sự xâm phạm đặc quyền “siêu văn bản của độc giả” của tác giả hậu hiện đại, chúng tôi
nêu ra một số nét tương đồng chủ yếu giữa văn xuôi hậu hiện đại Nga với văn xuôi đương
đại Việt Nam.
3.Văn họcViệtNamvàvăn họcNgađươngđại -một “món nộmsuồngsã”?
Ví von này là của Nguyễn Huy Thiệp, tuy trong văn bản tác phẩm nó ám chỉ nền
chính trị hậu hiện đại của thế giới, song để định tính văn học đương đại, kể cũng không có gì
quá đáng. Khái niệm “suồng sã” (luôn đi kèm với yếu tố tự do) đối lập với tính trang nghiêm,
quan phương, khuôn mẫu, còn “nộm” chỉ sự tạp phí lù, hỗn độn, nhưng rất đời, phong phú
và đa dạng.
Tính “suồng sã” chính là “đích danh thủ phạm” gây nên sự bất bình, phản kháng của
người đọc cùng thời (kể cả người đọc lí tưởng - nhà lí luận, phê bình), vốn quen với nền văn
học HTXHCN đoan trang không biết cười, đối với các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
và Phạm Thị Hoài. Ngoài tính suồng sã, người đọc vốn thích những gì dễ hiểu, “sờ mó, nắm
bắt được”, thật sự khó chịu vì “chẳng biết nó định nói gì”. “Nó” ở đây còn là Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh và những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và nhiều nhà văn,
nhà thơ của các thế hệ sau này. Sự bất bình, khó chịu ấy khiến chúng tôi liên tưởng tới phản
ứng của giới phê bình và độc giả Xô Viết đối với những tiểu thuyết Viện Puskin,Moskva -
Petuski, Trường học giành cho lũ ngốc và thơ Brodski - những sáng tác bị liệt vào loại sách
điểm của mình, nhà nghiên cứu đã đưa ra một loạt những đặc điểm trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, như sự chuyển hoá giữa thực và mộng, huyền thoại và phản huyền thoại,
nghịch lí chân-thiện-mỹ, những đối nghịch tạo sự nghịch dị và kinh dị. Tuy vậy, người đầu
tiên dùng khái niệm “hậu hiện đại” trong phân tích sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, đó là
Greg Lockhart. Trong bài Tại sao tôi dịch truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh,
tiến sĩ người Úc này, sau khi kể ra các lối viết mới của văn chương thế giới, đã đi tới kết
luận: “Và ở Việt Nam ta có truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Đây là những phương pháp
biểu hiện cuộc sống trên thế giới thế kỉ này. Tức là, đây là hiện tượng văn học chúng ta gọi
“hậu hiện đại chủ nghĩa” (postmodernism)”
(8)
. Như vậy, ngay từ năm 1989, vô thức, hay ý
thức, các nhà nghiên cứu, phê bình đã nói tới những yếu tố đầu tiên của khuynh hướng sáng
tác hậu hiện đại trong văn học đương đại Việt Nam.
Việc làm của chúng tôi bây giờ là tiếp tục phát triển hướng tiếp cận không hiểu vì sao
vừa mới manh nha đã dừng lại ấy, bằng cách soi chiếu dòng mạch văn học mang yếu tố hậu
hiện đại này với khuynh hướng tương đồng trong văn học Nga, nền văn học có cùng loại
hình hậu HTXHCN.
Một trong những điểm chung nhất trong sáng tác của các nhà hậu hiện đại Nga với
sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy
Anh, Hồ Anh Thái là sự giã từ không hề lưu luyến lối viết của chủ nghĩa hiện thực cổ điển
và HTXHCN. Trong các tác phẩm của họ, không thấy bóng dáng của nhân vật điển hình
(anh hùng hay gian hùng - ý Hoàng Ngọc Hiến) mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn
lao trong đời, mà thay vào là đủ mọi thứ hạng trong nhân gian, đại đa số là đám người u tối,
dị nghịch cả về thể xác lẫn tinh thần và khá nhiều người điên. Tiểu thuyết của S. Sokolov có
hẳn một trại tâm thần, mà ông gọi diễu là “trường học giành cho lũ ngốc” làm liên tưởng tới
cái xã toàn những người điên và tật nguyền trong tiểu thuyết Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình
Phương. Cái thế giới người dị nghịch trong sáng tác của Erofeev, Petrusevskaia, Iu. Buida,
sau này là của Sorokin, Pelevin gần với thế giới người trong các truyện của Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, trong sáng tác của Bình
Phương và Hồ Anh Thái Đám nhân vật này không có “hoàn cảnh điển hình” nào để mà
Gia bo: Tụi suy rng tht di l th va phi, nhiu ngi mua, chng bao gi . Vy cú
th vn chng no tng t th khụng, ch va phi, nhiu ngi theo thỡ cho chỏu hc -
Git mỏu). Vớ von vn chng (cho dự l vn chng i chỳng) vi tht ba di ch cú th
l cỏc nh hu hin i! (chỳng ta nh li nhng oskimoron trong th ca Brodski: Những
hiệu ăn cũ ở bên ngoài cũng nh bên trong/ làm nhớ tới Nhà thờ Đức mẹ Paris"; "Địa Trung
Hải động đậy sau những dẫy cột nham nhở/ tựa nh cái lỡi mặn sau những chiếc răng vừa bị
nhổ" ). Trong Ni bun chin tranh, Bo Ninh ginh hn nhng on di, trong ú (thụng
qua nhõn vt - nh vn Kiờn) gii thớch lớ do cm bỳt ca mỡnh, than vón thng xuyờn bt
lc trong cụng vic sỏng to v k v nhng giõy phỳt thng hoa him hoi. V hỡnh nh th
cng vn cha , cỏc tỏc gi cũn mt s nhõn vt ca mỡnh hnh ngh vn chng,
viết nhật kí, thư từ, phát ngôn thay cho mình về văn hoá, văn học: từ gia đình nhà Odoev
(Viện Puskin) toàn những văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá, ngữ văn, luôn tranh luận với nhau
và tranh luận với tác giả-người trần thuật về công việc viết văn, tới nhà thơ dân gian Erofeev
(Moskva-Petuski), kiểu Homer, không mù, nhưng luôn say sỉn, lang thang theo đúng một
tuyến đường Moskva-Petuski; từ “nghệ sỹ nhân dân” Trương Chi trong truyện ngắn cùng
tên, đến nhà thơ đồng quê Bùi Văn Ngọc trong Thương nhớ đồng quê của Nguyễn Huy
Thiệp (sau này anh hay trích dẫn “nhà thơ nhân dân” Nguyễn Bảo Sinh, kiêm giám đốc
khách sạn và nghĩa trang chó, mà anh chơi khá thân), nhà văn bộ đội giải ngũ xuất thân trí
thức có tên Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nhà văn tên Phùng ẩn dật ở cái
xã lắm người điên, có hẳn một tác phẩm mang tựa đề cũng điên điên: Và cỏ, trong tiểu
thuyết Thoạt kì thuỷ của Bình Phương Thủ pháp “siêu văn bản tác giả”, hay “mặt nạ tác
giả” không chỉ là một trong những phương thức thể hiện quan niệm nghệ thuật mới của các
tác gia hậu hiện đại Nga,Việt (khác với các nhà hiện thực cổ điển, hoặc hiện đại chủ nghĩa
và HTXHCN), mà nó còn là phương thức tạo những kết cấu hết sức tự do cho tác phẩm của
họ, khắc phục nguy cơ “phá sản về giao tiếp” luôn đe doạ những tác phẩm hậu hiện đại
thường được xây dựng trên những chất liệu tạp nham, rời rạc, thiếu vắng chất người và bộ
xương - cốt truyện lúc nào cũng lỏng lẻo, chỉ chực rời ra. Có thể coi “mặt nạ tác giả” là chiếc
âm thoa cộng hưởng sóng, là nhân vật “thực” của trần thuật có khả năng liên kết và lôi kéo
sự chú ý của độc giả
(9)
bẩn thỉu, chật chội (Kiêm ái của Phạm Thị Hoài), mà đơn giản là nó không tồn tại, đúng hơn,
nó chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi mà may mắn lắm người ta mới có được một lần trong đời.
Kết thúc trong truyện Người đàn bà có con chó nhỏ của Tchekhov: “Có cảm giác chỉ một lát
nữa thôi không cần nhiều lắm, là lối thoát sẽ được tìm ra, và lúc ấy, một cuộc đời hoàn toàn
mới, thật đẹp đẽ sẽ đến ” - một kết thúc, mặc dù không xác định, song vẫn gieo vào lòng
người niềm hi vọng vào tình yêu và cái Đẹp trong đời. Còn kết thúc truyện ngắn Người đàn
bà và hai con chó nhỏ của Phạm Thị Hoài xác định đến nghiệt ngã: “Họ tranh nhau trình
bày cái dự định lớn lao, mới mẻ, táo bạo, biểu hiện vô giá của tình yêu đang nồng cháy nhất.
Và, trong khi nghe sâu vào giọng nói trầm trầm đầy gợi cảm của nhau, nghe sâu vào tương
lai rực rỡ đang hiện ra dưới những từ ngữ cao quý nhất, cả hai đều linh cảm, thuần tuý linh
cảm, thước đo tinh lọc nhất của trái tim, đó là buổi gặp gỡ cuối cùng giữa họ. Trong lúc yêu
nhau - lần chót - ở căn phòng ngột ngạt mùi hôi và chiếu mốc ấy, cả hai đều hiểu rõ, họ có
thể đánh đổi tất cả để một lần nữa được chứng kiến vầng mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống
ấy, tiếng chó ấy, bãi cỏ ấy.
“Không có cỏ may ”, anh nghĩ và sờ xuống chiếu.
Chị có hai con chó, con đực tên Pa, con cái tên Vi, và những nét vẽ run rẩy, xiêu vẹo.
Anh có ba chương sách trên giấy và rất nhiều chương, mỗi chương ba mươi lăm trang
chẵn, trong đầu.
Ngoài ra, họ chẳng có gì để đánh đổi”.
Tỡnh yờu v cỏi p, hoỏ ra, cng ch l simulac - ngy to, c bao bc bi nhng
kớ hiu ngụn t vụ ngha!
Cho n nay vn cũn mt vi nh phờ bỡnh coi nhng tỏc phm kiu Ngi n b
vi hai con chú nh, Thiờn s, Chớn b lm mi ca Phm Th Hoi, hay Khụng cú
vua, Huyn thoi ph phng, Ti ỏc v trng pht ca Nguyn Huy Thip l nh
hng, bt chc cỏc nh vn nc ngoi (Tchekhov, Kafka, Puskin, Dostoevski ).
Thm chớ h cũn gỏn cho nhng nh vn ny ti o vn (hiu theo ngha xu). Trờn thc
t, õy l s liờn kt trong i thoi gia cỏc mu hỡnh vn hoỏ khỏc nhau, m Kristeva gi
bng thut ng liờn vn bn. Liờn vn bn mang nhiu chc nng khỏc nhau, va c
hiu nh s phi trung tõm hoỏ ch th: ch th b ho tan, bin mt v th gii c xem
nh vn bn, mt vn bn bao gm nhiu vn bn riờng l khụng ngng dn da vo nhau,
nếu như, tất nhiên, vứt sang bên những bờ vai thơm tho và làn sương mù đùng đục và những
đỉnh tháp màu hồng khoác tấm áo lễ - màn sương, ở đó, trung tâm trường ca là nhân vật trữ
tình bị đuổi việc vì nát rượu và lêu lổng chơi bời. Tôi nói với họ: “Một cuốn sách rất cấp
thời, - tôi bảo thế, - các bạn đọc sẽ có lợi cho bản thân”. Sao hả? Họ đã đọc. Nhưng cho dù
có mọi thứ ấy, cuốn sách vẫn gây cho họ sự ức chế nặng nề: trong tất cả các cửa hàng đồng
loạt biến mất toàn bộ “Tươi mát” (“Cvezect” - Một loại odecolon có cồn dùng cho đàn ông.
Ở Liên Xô thời kì cấm rượu, các bợm rượu Nga đã phải uống thứ nước thơm này - ĐTA).
Không tài nào hiểu được vì sao sika (một loại rượu Nga - ĐTA) bị quên, vermut (Một loại
vang của Nga - ĐTA) bị quên, sân bay quốc tế Seremenchevo bị quên, - chỉ “Tươi mát” là
đăng quang chiến thắng, tất cả chỉ uống có “Tươi mát”!
Ô sự thanh thản! Ô những con chim thiên đường không tính đậu lại chốn trần gian! Ô
cháu con Solomon ăn mặc dã chiến hàng nối hàng! - Họ uống tất cả “Tươi mát” từ ga
Dolgoprudnaia đến tận sân bay quốc tế Seremechevo”.
Không biết văn hóa, văn học Nga và “truyền thống uống rượu” của dân Nga, khó
lòng hiểu được tiếng cười, phong cách Erofiev thông qua trích đoạn liên văn bản nêu trên.
Mở đầu, trong lời giải thích giễu cợt, phong cách thi ca cao cả của kỉ nguyên Bạc được tái
dựng (“những bờ vai thơm tho và sương mù đùng đục và những đỉnh tháp hồng khoác áo lễ
- màn sương), sau đó đột ngột bị hạ thấp bởi ngôn ngữ dân giã, hè đường (rượu chè, lêu lổng
chơi bời) và trích dẫn Lênin (“một cuốn sách rất cấp thời”). Nhưng phần kết của trích đoạn
lại là sự quay trở về với thanh điệu cao cả của thi ca, trong đó “Tươi mát” - tên loại nước
thơm thời Xô Viết mang âm điệu làm liên tưởng tới “Vườn hoạ mi” và phù hợp với văn
phong thánh kinh sau đó (“Ô, cháu con Solomon ). Cái cao cả và cái thấp kém trong phong
cách Erofiev không phá nhau, không thay thế cho nhau, mà tạo nên sự thống nhất mang
nghĩa hai chiều. Có thể nói, đây chính là nguyên tắc xây dựng hình tượng văn hoá trong
trường ca của Erofiev.
Nếu Người đàn bà với hai con chó nhỏ của Phạm Thị Hoài được coi là sự “nhại”
Tchekhov một cách nghiêm túc (tác giả thậm chí còn chú thích xuất xứ văn bản của mình
lấy từ Người đàn bà có con chó nhỏ của Tchekhov), trong đó có sự kết hợp chất thơ của tình
yêu lãng mạn (vầng mặt trời đỏ ối từ từ lặn xuống biển, cỏ may, tiếng chó sủa) với hiện thực
trần trụi, nghiệt ngã đời thường: căn phòng tồi tàn, hôi mùi chiếu mốc, thì truyện ngắn Một
rừ rt. Trong cuc th nghim ny, hi vng, ging nh cỏc th h nh vn n anh, h cng
s lm c iu gỡ ú mi m cho vn hc, lm giu thờm h thng thi phỏp mi ó thnh
hỡnh, y nhanh hn na vn hc dõn tc vo giũng chy chung ca vn hoỏ th gii.
Kt lun:
- Hậu hiện đại là một khuynh hướng lớn trong văn học thế giới, nên việc xuất hiện
những yếu tố hậu hiện đại trong văn học Việt Nam là điều dễ hiểu.
- Hướng tiếp cận so sánh loại hình cho phép “đọc khác” những tác phẩm văn học
đương đại, qua đó nhận diện rõ hơn những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam hai
thập niên vừa qua, thấy được sự tìm tòi, thể nghiệm của các nhà văn, đặc biệt các nhà văn trẻ
Việt Nam, nhằm tạo dựng được một thứ văn học mới có khả năng soi chiếu những vấn đề và
các góc tối của thời đại họ đang sống.
- Nếu thể nghiệm này thành công, thì đây cũng là một đóng góp cho việc nghiên cứu
văn học hậu hiện đại nói chung, bằng cách đưa ra những đặc trưng riêng biệt của các yếu tố
hậu hiện đại trong văn học dân tộc giai đoạn hai thập niên vừa qua