Những yếu tố Hậu hiện đại
trong văn xuôi Việt Nam qua
so sánh với văn xuôi Nga
Dẫn luận
Bài viết nhằm mục đích cung cấp thêm một hướng tiếp cận đối với văn xuôi
Việt Nam giai đoạn ba thập niên cuối thế kỉ XX, chính xác hơn, từ sau thời kì Đổi Mới
cho đến nay. Khảo sát văn xuôi Việt Nam giai đoạn nói trên trong tương quan so sánh
loại hình với văn học Nga hiện đại, chúng tôi xuất phát từ những lí do sau đây:
Xét về hệ hình xã hội - kinh tế - văn hoá, gần bốn thập niên giữa thế kỉ XX,
Việt Nam là mô hình thu nhỏ của Liên Xô. Văn học nghệ thuật hiện thực xã hội chủ
nghĩa (HTXHCN) ở Việt Nam, về cả nội dung nghệ thuật lẫn phương thức tổ chức, hiển
nhiên, cũng là mô hình thu nhỏ của văn học Xô Viết HTXHCN. Ở giai đoạn này, văn
học ViệtNam chịu ảnh hưởng trực tiếp văn hoá và văn học Xô Viết. Sách dịch thời kì
này chủ yếu là sách Liên Xô. Có thể nói, đây là giai đoạn “học hỏi” tự nguyện của một
nền văn học đang trưởng thành, tiếp tục đi trên con đường hiện đại hoá. Nó khác với sự
tiếp nhận văn hoá Pháp nửa cưỡng bức, nửa tự nguyện của văn học Việt Nam thời kì
Pháp thuộc trước đó.
Từ sau Cải Tổ ở Nga và Đổi Mới ở Việt Nam (diễn ra gần như cùng một thời
điểm, cuối những năm 1980, đầu 1990), tương đồng “loại hình” về phương diện chính
trị, xã hội giữa hai nước đã kết thúc. Người Nga đã rời bỏ mô hình xã hội chủ nghĩa tồn
tại gần một thế kỉ (mà để có được họ đã tốn không biết bao nhiêu xương máu), trong khi
Việt Nam vẫn kiên trì mô hình này. Do nhiều nguyên nhân từ cả hai phía, cuộc giao lưu
trong lĩnh vực văn hoá, văn học nghệ thuật trở nên rời rạc, mờ nhạt. Sách Nga vắng
bóng trên thị trường, ảnh hưởng do tiếp xúc trực tiếp và do cùng loại hình HTXHCN của
văn học Xô Viết đối với văn học Việt Nam đã chấm dứt. Thay vào đó giữa hai nền văn
học này lại có những tương đồng loại hình mới mà ta có thể tạm gọi là tương đồng loại
hình của văn học hậu - HTXHCN.
Loại hình văn học hậu HTXHCN bao gồm các nền văn học của các nước trong
phe xã hội chủ nghĩa trước đây. Bên cạnh những đặc trưng văn hoá dân tộc và tuỳ thuộc
mức độ ít hay nhiều, giữa các nền văn học này có nhiều đặc điểm chung: đó là sự hội tụ
các mảng văn học trước đây từng bị chia rẽ (văn học chính thống, văn học “ngoại biên”,
văn học thế giới bằng nhiều “kênh” khác nhau, cực kì không thuần nhất - cũng khác
trước.
Nền văn học Việt Nam “khác trước” hình thành trên cơ sở tâm thức mới của thời
đại, đòi phê bình, lí luận phải có tâm thức ấy để nhìn nhận, định giá trị. Và đương nhiên,
các nguyên tắc phê bình, “bộ công cụ” mổ xẻ văn học hiện thực cổ điển và HTXHCN
cũng không thể áp dụng đối với nền văn học mới này. Tất cả các cuộc hội thảo về lí luận
phê bình được tổ chức liên tiếp ở nước ta trong vài năm vừa qua, cùng các chuyên luận,
bài viết và những cuộc cãi vã trên diễn đàn, suy cho cùng, chính là để xác định cái tâm
thức ấy và tìm tòi những phương thức tiếp cận phù hợp với một nền văn học đang
chuyển mình.
Trong bối cảnh chung, tìm những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam
trong tương quan so sánh với văn xuôi hậu hiện đại Nga - một khuynh hướng đã được
xác định, là một trong những thể nghiệm, một mặt, nhằm khẳng định văn học hậu
HTXHCN Việt Nam là một hệ hình văn học mới bao gồm những khuynh hướng sáng
tác khác nhau đặc trưng cho nền văn học phát triển tăng tốc, mặt khác, giúp hình thành
một cách đọc mới với cái nhìn và tâm thế hậu hiện đại, đặng có thể “giải mã” một số
sáng tác văn học Việt Nam đương đại hiện đang được coi là những “hiện tượng”.
1. Những đặc điểm chung của văn học hậu hiện đại.
Trước khi tìm hiểu những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam, chúng ta
cần phải hiểu hậu hiện đại là gì và văn học hậu hiện đại nói chung có những đặc điểm gì.
V vn c bn ny ó cú nhiu nh nghiờn cu nc ngoi cp ti v a
ra nhng nhn nh sõu sc, thuyt phc. Chỳng tụi cng ó cú dp trỡnh by cỏch hiu
ca mỡnh v ch nghió hu hin i, mi liờn quan ca nú vi ch ngha hin i, cựng
nhng phõn tớch c th sỏng tỏc ca cỏc nh vn, nh th hu hin i Nga, ng trờn
tp chớ Nghiờn cu vn hc v mt s tp chớ, sỏch bỏo khỏc. õy chỳng tụi ch túm
tt mt s im ch yu ngi c tin theo rừi.
Mt cỏch khỏi quỏt nht, cỏc hc gi ó xỏc nh hu hin i l mt giai on
lch s xó hi quy nh hỡnh thỏi vn hoỏ, tng th nhng phong tro lớ lun v sỏng tỏc
th hin tõm thc bao trựm (mentalite) ca thi i, cm quan th gii v con ngi, s
ỏnh giỏ kh nng nhn thc v vai trũ, v trớ ca con ngi trong thc ti. Tinh thn hu
gii hon thin, bt bin, i lp vi thc ti hn lon, phi lớ
(2)
. Ngh thut hin i ch
ngha t cho mỡnh lchân lí cuối cùng, ngôn ngữ tuyệt đối, phong cách mới. a
con t bin gen - ch ngha hu hin i, giu ct o tng ngõy th, song v i ú
ca bc tin bi v cho rng kỡ vng vo s tn ti ca mt hin thc bt nh no
ú nằm đằng sau các kí hiệu, l tn d khú vợt qua của thứ siêu hình học hiện tồn già
cỗi. C
h ngha hu hin i quan nim ng sau nhng kớ hiu l hn n, v cỏch khc
phc tt nht l lm ho vi nú. i thoi vi hn n chớnh l chin lc ngh thut
ca vn hc hu hin i.
Nh vy, xó hi hu cụng nghip ca ch ngha t bn mun cựng vi s phỏt
trin rm r ca khoa hc, k ngh thụng tin v vn hoỏ i chỳng l nhng iu kin
dn ti s ra i ca vn hc hu hin i phng Tõy, bao gm nhiu khuynh hng,
trng phỏi khỏc nhau. Nhng nh th s cú mt lot vn c t ra, chng hn: nu
hu hin i l kt qu ca ch ngha t bn mun, ca vn minh in toỏn, thỡ cỏc
nc cha tri qua thi kỡ cụng nghip húa (cha núi ti hu cụng nghip), khụng my
phỏt trin v khoa hc v cụng ngh thụng tin, trong vn hc khụng cú truyn thng ca
ch ngha hin i, liu cú th cú vn hoỏ, vn hc hu hin i? Trờn thc t, vn hc
hu hin i l mt hin tng bao trựm, mang tớnh ton cu t na sau th k XX. Vn
hc cỏc nc M La tinh, ụng u, Trung ụng, Trung Quc v cỏc nc khu vc
ụng Nam chõu , dự khỏc nhau nh th no v truyn thng, cng u tuyờn b v
khuynh hng hu hin i ca mỡnh. õy xut hin mt cõu hi: vy hu hin i l
hin tng thuc phõn kỡ lch s hay thuc tõm thc chung, cú ngha nú ó tng tn ti
trong mt s giai on ca lch s vn hoỏ nhõn loi. Nhng cõu tr li khỏc nhau xut
phỏt t nhng quan nim khỏc nhau v hu hin i. Chỳng tụi dn ra hai quan nim
chớnh. Quan nim th nht
(3)
cho rng, xột theo phng din lch i ca tin trỡnh vn
hoỏ chung, hu hin i (post-modernism) l giai on u ca thi hu hin i (post-
cui th k, phờ bỡnh Xụ Vit, vn quen vi nhng siờu truyn hin thc xó hi ch
ngha honh trỏng, cng cú thỏi phn ng nh vy khi ng trc dũng thỏc vn hc
c gi l hu hin i ngp trn vn n Nga. H gi vn hc hu hin
i l
loại
vn hc khỏc l, thiu mỏu
, coi
ú
là một thứ mốt thời thợng, hiểu
theo nghĩa thoắt hiện, thoắt biến, một thú chơi ngông của đám nhà văn trẻ mới bớc vào
nghề, muốn đập phá, kiếm tìm sự mới mẻ, khác lạ t bờn ngoi. Tuy nhiờn, gng mt
chớnh
của
tro lu hu hin i li khụng chl
những nhà văn trẻ nh V. Pelevin (sinh
năm 1967), I. Buida (1956), V. Sorokin (1955), T. Kibirov (1955), các nhà văn trung
niên nh Tolstaia (1951), V. Pesuk (1947), L. Rubinstein(1947), mà còn là nhà các nhà
văn lão thành, nh D.A. Prigov (1940), A.
Bitov (sinh
năm
1937) L. Petrusevskaia
(1938), V. Erofeev (1938) v sỏng tỏc ca h c ỏnh giỏ cao khụng ch trong
nc.
Vi sỏng tỏc ca cỏc nh vn ln tui ny, vn hc hu hin i Nga ó xut hin
ngay t nhng 1960-1970, tức là cùng thời gian với những tuyên ngôn của hậu hiện đại
phơng Tây. Những bớc đi đầu tiên của hậu hiện đại Nga c ỏnh du bng tỏc
phm Vin Puskin (1964-1971) ca Andrei Bitov, Moskva - Petuski (1969) ca Venedikt
Erofeev, Trng hc ginh cho l ngc (1975) ca Sasa Sokolov, th, trng ca ca
Iosip Brodski
và
(Phũng ng ca Luzin), thỡ im ch yu trong sỏng tỏc ca Bitov l s
phát hiện
ra thc ti Xụ Vit l cái trống rỗng dới hệ thống các kí hiệu, cỏc din ngụn vụ
ngha ca h t tng iu hnh ton b i sng xó hi. Trng ca Moskva-
Petuski ca Venedikt Erofeev c cỏc nh phờ bỡnh xem nh mu gc ca hu hin
i Nga, l mt th trit lớ dõn gian v i lon: lon nhõn th, lon chớnh tr xó hi,
lon tõm thc. Trong tỏc phm, thụng qua khụng gian hai chiu i li ca Erofiev - nhõn
vt chớnh (cựng tờn tỏc gi): t Moskva ti ga Petuski v ngc li, xó hi Xụ Vit c
miờu t nh mt hi hoỏ trang ln, song nú khụng mang tớnh hai chiu h b v tn
phong y p ting ci nh trong hi hoỏ trang dõn gian theo lớ thuyt ca Bakhtin.
Trc ton b tớnh cht nghch d, phi lớ cc ca thc ti, ting ci ca Egofiev m
cht bi v s hu dit. Tip xỳc vi sỏng tỏc ca cỏc nh vn Nga nờu trờn thy rừ,
khụng th lớ gii s xut hin ca khuynh hng hu hin i Nga bằng nhng nguyên
nhân kinh tế, xã hội, văn hoá hậu công nghiệp, văn minh điện toán, nh ở phơng
Tây. Vn hc hu hin i Nga xut hin nh sự vạch trần thuộc tính máy móc cơ
học của sự nguỵ tạo mô hình xã hội chủ nghĩa. Quan nim ny đợc khuynh
hớng nghệ thuật ý niệm(conseptualizm) và nghệ thuật xã hội (sos-
art) l nhng khuynh hng - cu ni gia vn hc HTXHCN v vn hc hu hin
i những năm 1980, chng minh và khẳng định. Rừ rng, vn hc hu hin i Nga l
mt hin tng c lp, kết quả của sự phát triển hữu cơ và sự chín muồi của nú trong
hình thái xã hội chủ nghĩa Nga c thự.
Những năm 1980-1990,
vn hc hu hin i Nga chớnh thc ra cụng khai
sau
khi hệ thống Xô Viết tan rã, sự biến mất đức tin tôn giáo vào chủ nghĩa xã hội dẫn tới sự
sụp đổ toàn bộ bức tranh Xô Viết về thế giới, cái thế giới bị đánh mất trục chính, trở
thành h ảo, trong đó con ngời không còn cảm nhận đợc bất cứ thực tiễn nào. Nu sự
biến mất của thực tiễn dới dòng thác những ngụy to ca h t tng làm cho thế giới
trở thành hỗn độn, thể hiện trong các văn bản cùng lúc tồn tại, dựa vào nhau, trong
các din ngụn, huyền thoại che lấp, triệt tiêu lẫn nhau - là một sự phát hiện đáng kinh
lớn là trích dẫn. Điều này hợp lôgic, bởi nếu nh thực
ti
đã biến mất dới tác
ng dn
dp v dai dng của cỏc sn phm hệ t tởng hay của những ngụy tạo do mng li
thụng tin, vn hoỏ i chỳng hng ngy sn sinh ra, thì sự trích dẫn những văn bản văn
hóa hay văn họccú uy tớn là hình thức duy nhất để có thể tái tạo lại thc
ti. Ngoi ra, khỏc vi ch ngha hu hin i phng Tõy t ra trit trong vic chi
b bc tiờn khu ca mỡnh, hu hin i Nga, vi c tớnh ca mt nn vn hc phỏt trin
gp gỏp bự vo thi gian ó mt, li trit s dng vn hoỏ hin i ch ngha mi
c phc hi - mt mụ hỡnh vn hoỏ cú uy tớn trong gii bn c tinh tuyn Nga. Cú
th núi, ch ngha hu hin i Nga l s kt hp gia ch ngha hin i cao (hight
modernism) v vn hoỏ i chỳng, mt s kt hp mang tớnh oskimoron (i chi) c
trng hu hin i! (cng nh n d c trng cho vn hc hin thc c in; hoỏn d
c trng cho vn hc hin i ch ngha)
Tơng tự nh vậy, i vi chủ nghĩa hậu hiện đại Nga, khái niệm quan trọng nhất
của mĩ học hiện thực là
sự thật ó
bị phá sản. Trong thế giới -
vn bn, ỳng hn, s
kt hp ca nhiu vn bn: văn bản thần thoại, t tởng, truyền thống không thể có một
sự thật duy nhất về thế giới, m l vô số những sự thật tồn tại cùng lúc - những sự thật
tuyệt đối trong phạm vi ngôn ngữ văn hóa của mình. Trong văn bản hiện thực xã hội chủ
nghĩa ngời đại diện cho sự thật là tác giả biết tuốt. Trong tác phẩm hậu hiện đại, tham
vọng v tác giả tri thức toàn năng chỉ là một ảo tởng. Tác giả đợc đặt ngang hàng với
những nhân vật, cũng có những hạn chế, lầm lạc nh thế, đồng thời, ngợc lại, các nhân vật
nhiều khi lại thực hiện chức năng của tác giả. Không phải ngẫu nhiên trong tiểu thuyết
hậu hiện đại có những nhân vật kiêm luôn vai trò ngời sáng tác - (iu ny ta cng
thy rt rừ trong nhiu tỏc phm vn hc Vit Nam m chỳng tụi s trỡnh by phớa
di), còn nhân vật trữ tình hậu hiện đại, lại mang một mặt nạ văn hóa kì ảo nào đó,