Ư
ớc tính gần đây cho thấy,
hiện nay phụ nữ chiếm
khoảng 42% lực lượng lao động
trên toàn cầu, họ đã trở thành
một lực lượng lao động (LĐ)
đóng góp rất lớn vào nền kinh tế
quốc gia và toàn cầu. Tuy nhiên,
việc gia tăng lực lượng LĐ nữ
cũng có những tác động đáng kể
đến sức khỏe cộng đồng.
Việc tiếp xúc với các yếu tố
nghề nghiệp độc hại, hóa chất,
sinh vật, thể lực và tâm lý xã hội
của lực lượng LĐ có nguy cơ
tăng, đặc biệt là LĐ nữ. Thêm
một thực tế nữa là việc bảo vệ
NLĐ tránh tiếp xúc với các hóa
chất độc hại v
à c
ác nguyên vật
liệu sinh học thường không đầy
đủ và các cảnh báo an toàn cũng
thường không được thực hiện,
ĐKLV không tốt thường dẫn đến
căng thẳng nghề nghiệp có thể
gây nên các bệnh về thể lực
cũng như tinh thần. Hậu quả này
xảy ra ở một số nơi trên thế giới
là do thiếu các giải pháp bảo vệ
thích đáng của xã hội và đẩy
mang thai và thời kỳ đầu cho con
bú khi tiếp xúc với các loại độc
hại nghề nghiệp; điều này cũng thể
hiện đối với sức khỏe của thai nhi và
trẻ đang còn bú mẹ.
Đặc biệt là trong nền kinh
tế đang chuyển đổi và ở các
quốc gia đang phát triển, phụ nữ
PH N & VIC LÀM
TS. Maria Neira
Giám đốc Môi trường và Sức khỏe
cộng đồng, WHO
là đối tượng ảnh hưởng nặng
nề bởi việc làm tạm thời. Đó
là các công việc thường có
chất lượng kém và không có
sự bảo trợ của xã hội cho
NLĐ và gia đình họ. Sự gia
tăng việc làm trong khu vực
phi kết cấu thường che dấu
hình thức thuê LĐ và trách
nhiệm cải thiện ĐKLĐ, chăm
sóc sức khỏe được đẩy về
phía NLĐ. Điều này trái với
các chuẩn mực quốc tế là
NSDLĐ phải có trách nhiệm
bảo vệ, phòng ngừa, phát
hiện các nguy
c
ơ và chi trả
phải tạo ra ĐKLĐ an toàn
nhất có thể cho tất cả NLĐ. Vì
vậy, yếu tố giới
tính p
hải được
đưa vào chính sách và luật
pháp và bảo đảm rằng cả hai
giới tính được đối xử một
cách công bằng, theo các nhu
cầu đặc thù của mình. Giới
tính là một vấn đề về quyền
lợi, về hiệu quả của chính
sách kinh tế và các cơ hội cho
sức khỏe và phúc lợi.
Nguồn:Asian-Pacific, Newsletter
Volume 15, number 3,
December 2008
Lời giới thiệu
Tháng 5/2007, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thông
qua Kế hoạch hành động toàn cầu (GPA) về Sức khỏe của
NLĐ. Kể từ đó, các khu vực đều đãkế hoạch để triển khai thực
hiện nhiệm vụ này. Đây là việc làmrất quan trọng nhằm cố
gắng phối hợp sự đóng góp của các Văn phòng Khu vực, các
Trung tâm phối hợp về SKNN và các cơ quan khác. Các Văn
phòng Khu vực của WHO đóng vai trò rất quan trọng trong
v
iệc
thu hút sự tham gia của các tổ chức quốc tế khác như ILO, Ủy ban
Quốc tế về SKNN, ICOH, cũng như các tổ chức xã hội khác.
BẢN TIN AN TOÀN - SỨC KHỎE VÀ MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG - SỐ 1/2009
đổi tốt nhất nhằm đáp ứng được
năm mục tiêu mà GPA đã thông
qua. Một trong những chủ đề
lớn nhất trong cuộc họp là tìm ra
những lỗ hổng lớn của các hoạt
động trong kế hoạch làm việc
hiện nay.
Hội nghị đầu tiên của các
Đại diện Quốc gia về Sức
khỏe NLĐ khu vực Châu Âu
Năm 2005, Văn phòng
khu vực của WHO tại Châu Âu
đã yêu cầu các Tiểu ban thành
vi
ên chính thức đề cử các Đại
diện Quốc gia với WHO khu
vực về SKNN. Theo đó đã có
33 thành viên được đề cử và
cung cấp đầu mối tiếp xúc
nhằm phát triển Kế hoạch toàn
cầu về sức khỏe NLĐ giai đoạn
2008-2017.
H
ội nghị đầu tiên bao
gồm các Đại diện đầu mối của
WHO về Sức khỏe NLĐ được
triệu tập tại Helsinki, Phần
Lan. Chủ trì hội nghị là Bộ
trưởng Bộ Y tế và Các vấn đề
Xã hội Phần Lan. Mục tiêu
có các hoạt động mang tính
khu vực-bà Paula Risikko nói.
Hội nghị lần thứ sáu về
mạng lưới Châu Âu thuộc
các Trung tâm phối Hợp về
Sức khỏe nghề nghiệp
Mạng lưới Châu Âu thuộc
các Trung tâm phối hợp của
WHO về SKNN được thành lập
năm 2000 bao gồm hơn 30 Viện
nghiên cứu quốc gia và các tổ
chức khoa học. Mục tiêu của Hội
nghị lần thứ sáu là: (1) Điểm lại
tiến trình thực hiện từ hội nghị
lần trước được tổ chức vào
tháng 3/2007 tại Buxton, Anh.
(2) Điều chỉnh các kế hoạch
làm việc để phù hợp với việc
thực thi kế hoạch khu vực
trong GPA.
Các nhóm làm vi
ệc đ
ã
thảo luận chi tiết về khả năng
đóng góp của các Trung tâm
phối hợp đối với các mục tiêu
khác nhau của GPA. Ngoài ra,
năm nhóm làm việc đã thảo
Hội nghị đầu tiên của các Đại diện Quốc gia
về Sức khỏe người lao động khu vực Châu Âu
một mạng lưới đầu mối thuộc
Bộ Y tế nếu như chưa có.
Nguồn:Asian-Pacific, Newsletter
Volume 15, number 3,
December 2008
BẢN TIN AN TOÀN - SỨC KHỎE VÀ MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG - SỐ 1/2009
4
HỆ THỐNG QUẢN LÝ AT-SKNN
Mng li
lao đng phi kt cu
ti khu vc Đông Nam Á
Rosalina Pined Ofreneo
Phoebe O. Cabanilla
Phillipines
T
heo Tổ chức lao động
quốc tế (ILO), tại hầu hết
các quốc gia trong khu vực
Đông Nam Á, hay còn gọi là
khu vực ASEAN, có 156 triệu
việc làm không chính thức
chiếm 63,7% tổng số lao động
năm 2006. 2/3 lực lượng lao
động tại Đông Nam Á thuộc
khu vực phi kết cấu. Do ảnh
hưởng của toàn cầu hóa, sự
phân chia theo giới tính trong
cơ cấu kinh tế không chính
thức rất cao, phụ nữ thường là
đối tượng đầu tiên được lựa
trong xã hội.
D
o việc thiếu hụt cá
c
d
ịch vụ dành cho cộng đồng,
những người chịu nhiều thiệt
thòi nhất lại nhằm chính vào
những lao động nữ làm việc
tại nhà, bởi họ phải làm việc
cả ngày trong điều kiện môi
trường không hợp vệ sinh.
Hơn nữa, vì được coi là
những lao động vô hình, phụ
nữ lao động tại nhà rất hiếm
khi nhận được sự hỗ trợ nào
trong trường hợp gặp phải
những vấn đề nghiêm trọng
về AT-VSLĐ. Thực tế là AT-
VSLĐ chỉ dành cho NLĐ
chính t
hức, v
ới các tiêu chuẩn
an toàn dựa trên mô hình lao
động nam cùng với các nhiệm
BẢN TIN AN TOÀN - SỨC KHỎE VÀ MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG - SỐ 1/2009
5
HỆ THỐNG QUẢN LÝ AT-SKNN
vụ công tác và thiết bị máy
móc được thiết kế riêng cho
như Indonexia, Phillipine,
Thái L
an (và gần đây là Lào
và Campuchia), chủ yếu là lao
động nữ, là những người đầu
tiên hình thành mạng lưới
riêng cho mình. Sau đó, họ
tập hợp và hình thành mạng
Homenet SEA với mục đích
thu nhận được nhiều hơn nữa
sự ủng hộ về chính sách ở
phạm vi quốc gia và khu vực
đối với các vấn đề bảo trợ xã
hội, AT-VSLĐ, công bằng
thương mại và kinh tế phụ
thuộc. Những sáng kiến này
nhằm mở rộng quyền và tiêu
chuẩn la
o đ
ộng vốn dĩ dành
cho lao động chính thức thì
nay NLĐ không chính thức
cũng có quyền được hưởng,
từ đó rút ngắn khoảng cách
phân chia giữa lao động chính
thức và không chính thức.
Thông qua mạng
Homenet SEA cho thấy nhu
cầu cần phải liên kết những
vấn đề về AT-VSLĐ với các
tiếp giải đáp những thắc mắc
của NLĐ làm việc tại nhà
trong việc cải thiện ĐKLV của
họ, đây cũng chính là thời
điểm thích hợp cho việc hình
thành tổ chức. Vấn đề AT-
VSLĐ ở Thái Lan được đặc
biệt quan tâm kể từ sau vụ
hỏa hoạn thảm khốc tại nhà
máy sản xuất búp bê Kader
năm 1992 làm 188 công
n
hân
thiệt mạng và 400 người khác
bị thương. Kể từ đó, Chính
phủ Thái Lan đã có những
sáng kiến nhằm giải quyết các
vấn đề về AT-VSLĐ trong khu
vực sản xuất công nghiệp
chính quy.
Một cuộc khảo sát do
Cục Thống kê quốc gia Thái
Lan tiến hành năm 2005 đã
cho thấy NLĐ làm việc tại nhà
và các bên liên quan phải
đương đầu với những vẫn đề
sau: 1) nơi làm việc không
phù hợp, 2) chất lượng máy
móc, thiết bị kém, 3) tư
t