Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008 77
kinh tế trang trại Nghệ An
trong thời kỳ công nghiệp hoá
Nguyễn Thị Trang Thanh
(a)Tóm tắt. Kinh tế trang trại ở Nghệ An đã góp phần rất lớn trong việc chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngời dân Bài viết
này tập trung phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An, đánh giá
những mặt đạt đợc cũng nh một số tồn tại, từ đó đa ra những giải pháp nhằm
phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An theo hớng bền vững.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình công nghiệp hoá
nông nghiệp nông thôn, kinh tế trang
trại Nghệ An đã phát triển nhanh cả về
quy mô, số lợng và chất lợng, đạt
đợc những thành tựu nhất định: giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho
ngời dân, thay đổi phơng pháp sản
xuất, giảm thiểu sự chênh lệch vùng
Tuy nhiên, kinh tế trang trại ở Nghệ An
đang bộc lộ nhiều hạn chế trong quá
Bảng 1. Số lợng trang trại ở Nghệ An
Năm 2002 Năm 2006 Loại hình trang trại
Số lợng Cơ cấu Số lợng Cơ cấu
Tổng số 178 100,0 % 1.529 100,0%
1. Trang trại trồng trọt 111 62,4 385 25,2
2. Trang trại chăn nuôi 5 2,8 289 18,9
3. Trang trại lâm nghiệp 57 32,0 119 7,8
4. Trang trại thuỷ sản 4 2,3 105 6,9
5. Trang trại hỗn hợp 1 0,5 631 41,2
(Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 - 2015")
Nhận bài ngày 26/02/2008. Sửa chữa xong 10/4/2008.
Nguyễn Thị Trang Thanh kinh tế trang trại Nghệ An , Tr. 77-83
78
nuôi tăng bình quân trên 70 trang
trại/năm. Số lợng trang trại hỗn hợp
tăng nhanh nhất là do diện tích của các
trang trại này không lớn nên dễ thành
lập, mặt khác với nhiều loại sản phẩm
khác nhau có thể tiêu thụ dễ dàng hơn.
2.2. Tình hình sử dụng đất đai
Tổng diện tích đất đai của các trang
động. So với cả nớc thì lao động bình
quân một trang trại ở Nghệ An thấp
hơn nhiều (cả nớc là 5,6 lao động/trang
trại). Trong thời gian gần đây, lao động
thờng xuyên bình quân một trang trại
giảm xuống, từ 6,5 ngời/trang trại
năm 2003 xuống còn 3,5 ngời/trang
trại năm 2006. Các trang trại chủ yếu
thuê lao động thời vụ, giải quyết việc
làm cho hàng vạn lao động trên địa bàn.
Nhìn chung lao động của các trang
trại trình độ cha cao, tỷ lệ lao động có
trình độ đại học, cao đẳng mới chỉ đạt
2,8% năm 2006, trung cấp 6,63% còn lại
là lao động cha qua đào tạo. Thu nhập
bình quân của một lao động tăng từ
431.000 đồng/ngời/tháng năm 2002 lên
550.000 đồng/ngời/tháng năm 2006,
nhng vẫn còn thấp. Bảng 2. Tình hình sử dụng đất của trang trại
Năm 2002 Năm 2006
Loại hình trang trại
Tổng số
(ha)
Bình quân
(ha/TT)
Tổng số
Giá trị sản
phẩm
(tr.đ)/(tr.đ)đồng
vốn
Tổng số 158.775 104 0,93
1. Trang trại trồng trọt 39.919 103 0,66
2. Trang trại chăn nuôi 30.522 133 1,64
3.Trang trại lâm nghiệp 16.388 137 0,99
4. Trang trại thuỷ sản 17.330 165 1,50
5. Trang trại hỗn hợp 46.614 73 0,66
(Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 - 2015")
2.4. Vốn của trang trại, hiệu quả sử
dụng vốn
Tổng số vốn đầu t của các trang
trại là 158.775 triệu đồng năm 2006.
Vốn đầu t bình quân của một trang
trại còn thấp, chỉ mới đạt 104 triệu
đồng/TT, trong khi bình quân cả nớc là
189 triệu đồng/TT. Vốn đầu t của
trang trại chủ yếu là vốn tự có (chiếm
67%), vốn vay và vốn khác chỉ chiếm 33
% (bảng 3).
Cơ cấu vốn đầu t giữa các loại
hình trang trại không giống nhau, bình
quân một trang trại nuôi trồng thuỷ
sản là 165 triệu đồng, chăn nuôi 133
triệu đồng, trong khi đó vốn của trang
trại hỗn hợp chỉ 73 triệu đồng.
(tr.đ)/(tr.đ)đồng
vốn
Bình quân 96,26 50 0,48
1. Trang trại trồng trọt 68 62 0,60
2. Trang trại chăn nuôi 81 50 0,37
3.Trang trại lâm nghiệp 138 43 0,31
4. Trang trại thuỷ sản 110 69 0,42
5. Trang trại hỗn hợp 110 41 0,56
(Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 -2015")
Nguyễn Thị Trang Thanh kinh tế trang trại Nghệ An , Tr. 77-83
80
của các trang trại là 147.174 triệu đồng
năm 2006, bình quân một trang trại
96,26 triệu đồng. Hàng năm các trang
trại đã sản xuất ra một khối lợng hàng
hoá và dịch vụ lớn phục vụ nhu cầu tiêu
dùng, cung cấp nguyên liệu cho các nhà
máy chế biến và xuất khẩu, đặc biệt là
các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của
tỉnh nh chè, cà phê, cao su, dứa, mía,
sắn
Tổng thu nhập của các trang trại
đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi.
Phát triển kinh tế trang trại tạo
điều kiện công nghiệp hoá nông nghiệp
nông thôn, áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ cũng nh đa cơ
giới vào sản xuất. Từ đó, nâng cao chất
lợng sản phẩm hàng hoá, tạo sức cạnh
tranh trên thị trờng trong nớc và
quốc tế.
Kinh tế trang trại phát triển tạo ra
đợc nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực
của tỉnh, cũng nh tạo điều kiện cho
công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ
sản phát triển, nh: công nghiệp chế
biến chè, cà phê, tinh bột sắn, mía
đờng, dứa cô đặc, thuỷ sản đông lạnh
Kinh tế trang trại đã góp phần
phân công lại lao động, tạo thêm việc
làm cho hàng vạn lao động trên địa bàn,
góp phần xoá đó, giảm nghèo ở vùng
nông thôn, tạo ra xu thế và nhu cầu hợp
tác mới trong nông nghiệp.
Các trang trại thờng có lợi thế
phát triển ở vùng trung du miền núi, vì
ở đây có diện tích đất đai lớn hơn. Điều
này thúc đẩy kinh tế khu vực trung du
miền núi của Nghệ An phát triển, giảm
thiểu sự chênh lệch vùng trong quá
trình phát triển kinh tế (số lợng trang
triệu đồng/trang trại/năm, còn các trang
trại khác rất thấp, bình quân chỉ đạt 50
triệu đồng/trang trại/năm.
- Chất lợng sản phẩm hàng hoá
của các trang trại cha cao, chủ yếu
dới dạng thô, giá trị kinh tế thấp,
phần lớn các chủ trang trại cha nắm
bắt đợc nhu cầu thị trờng nên sản
xuất còn thụ động, hiệu quả thấp.
- Số lợng trang trại có tăng nhanh
trong thời gian, nhng chủ yếu là trang
trại hỗn hợp. Nh vậy, tính chuyên môn
hoá trong sản xuất trang trại cha cao,
mặt khác, các trang trại hỗn hợp hiệu
quả sử dụng vốn thấp hơn nhiều so với
các loại hình trang trại khác. Bên cạnh
đó, số lợng trang trại tăng, nhng quy
mô bình quân diện tích 1 trang trại lại
giảm, vì vậy, việc ứng dụng khoa học kỹ
thuật tiên tiến là rất khó khăn, làm
hạn chế khả năng chuyên môn hoá,
cũng nh việc sản xuất ra những sản
phẩm có khối lợng lớn, có khả năng
cạnh tranh cao.
- Kinh tế trang trại phát triển cha
bền vững, gây lãng phí nguồn tài
nguyên. Nhiều trang trại không quy
hoạch đầy đủ, cha có những bộ phận
xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trờng
sinh thái, nhất là các trang trại chăn
kinh tế trang trại với đầu t chế biến và
tiêu thụ sản phẩm. Ưu tiên đầu t giao
thông thuỷ lợi những vùng đang còn
quỹ đất để phát triển kinh tế trang trại.
Nguyễn Thị Trang Thanh kinh tế trang trại Nghệ An , Tr. 77-83
82
Quy hoạch phát triển kinh tế trang trại
phải ổn định ít nhất từ 20 năm trở lên.
- Chính quyền cần có hớng dẫn
đơn giá cho thuê, chuyển nhợng đất để
tích tụ ruộng đất một cách linh hoạt:
miễn giảm phí, thủ tục thuê, chuyển
đổi, chuyển nhợng đất. Thực hiện việc
tích tụ ruộng đất để phát triển trang
trại quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi
ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, khoa học
công nghệ vào sản xuất tại các trang
trại.
- Để kinh tế trang trại phát triển
nhanh và hiệu quả, cần phải thực hiện
chính sách u đãi đầu t nh: miễn
giảm tiền thuê đất, mặt nớc, thuế thu
nhập, đầu t cơ sở hạ tầng cho khu
trang trại tập trung, u tiên lồng ghép
ngoài nớc, khuyến khích các trang trại
xây dựng thơng hiệu sản phẩm có chất
lợng, uy tín cao trên thị trờng
- Tổ chức sơ kết, tổng kết thờng
niên về kinh tế trang trại, hoặc tổ chức
đối thoại giữa các chủ trang trại với các
nhà khoa học, quản lý, thơng mại,
để trao đổi kinh nghiệm, tìm ra các giải
pháp thiết thực khắc phục những khó
khăn mà các trang trại gặp phải.
4. Kết luận
Kinh tế trang trại phát triển đã góp
phần rất lớn trong việc chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông thôn cả về ngành và tổ
chức sản xuất, giải quyết nhiều việc
làm và tăng thu nhập ở nông thôn. Đặc
biệt quan trọng là kinh tế trang trại đã
tạo nên một sự thay đổi mạnh mẽ về t
duy, phơng pháp làm việc cho ngời
nông dân ở Nghệ An khi nền nông
nghiệp nớc ta đang gia nhập vào WTO.
Tuy nhiên, vấn đề phát triển kinh tế
trang trại vẫn còn nhiều bất cập. Trong
thời gian tới, Nghệ An cần có những
giải pháp cụ thể về vốn, chính sách, thị
trờng, lao động nhằm phát triển
kinh tế trang trại đạt hiệu quả cao
nhất, thực hiện thành công công nghiệp
hoá nông nghiệp nông thôn ở Nghệ An.
rural economic structure, resolving employment, increasing farmer's income. This
paper focused on analysing farm economy development procecess in Nghe An, its
achievements and disadvantages as well, in oder to put forward a solution to
developing Nghe An farm economy firmly.
(a)
Khoa Địa lý, Trờng Đại học Vinh.