Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
103
Đặc sắc ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Nguyễn Quang Tuấn
(a)Tóm tắt.
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ ra những đặc sắc ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh: sử dụng đắc địa từ địa phơng và lớp từ của khẩu ngữ; vận dụng thành ngữ,
tục ngữ linh hoạt, sáng tạo; tạo phong cách khẩu ngữ cho câu văn; bảo lu những mặt
tích cực của câu văn biền ngẫu; du nhập vốn từ ngoại lai. Những đặc sắc này đã tạo nên
phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, khẳng định đóng góp của nhà văn đối
với sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
ồ Biểu Chánh đợc xem là một
trong những ngời mở đờng và
có những đóng góp lớn cho sự hình
thành nền tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại. Trong những yếu tố đa tới thành
công của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có
yếu tố phong cách ngôn ngữ. ở bài viết
Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản
là những ngời tiên phong đặt nền
móng cho văn xuôi quốc ngữ thì Hồ
Biểu Chánh là một trong những ngời
làm cho văn quốc ngữ phong phú hơn.
Ông chắt lọc lời ăn tiếng nói của nhân
dân và vận dụng vào sáng tác của
mình khá thuần thục.
Về phơng diện ngữ âm, tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh cho ngời đọc
thấy đợc đặc điểm phát âm của ngời
Nam Bộ. Ông đã thể hiện một cách
chân thật, sinh động cách nói năng của
ngời dân miền Nam. Nhà văn ghi lại
các biến thể phát âm trong lời đối thoại
của nhân vật. Những biến thể phát âm
này thờng diễn ra ở bộ phận âm chính
nh bá nhựt (bá nhật), chác nghĩa
(chuốc nghĩa), đờn cầm (đàn cầm),
hỡn bớc (hoãn bớc), hờn công
(hoàn công), đờn ông (đàn ông), bất
nhơn (bất nhân), nng (nâng), huê
(hoa), phớc (phúc), hun (hôn), kiếng
(kính), mơi (mai), bịnh (bệnh), vng
(vâng), chánh đáng (chính đáng), hiệp
ý (hợp ý), chính chiên (chính chuyên)
Hồ Biểu Chánh cũng sử dụng những
biến thể phát âm về phụ âm đầu nh:
day (quay), nhắm nhía (ngắm nghía),
dàu dàu, ngồi chồm hỗm, đứng xớ rớ, đi
lầm lũi, nói mờ ơ, ngủ nhầu, ngó chằng
chằng, nhẹ hều, buồn hiu, lừ lừ, im re,
đứng dụ dự một hồi, ngồi ngó cững,
nớc mắt nớc mũi choàm ngoàm, ngồi
chim bỉm, mừng quýnh, chết điếng,
buồn so, tròn vìn, nín khe, mặt chừ bự,
ngó chừng xăn văn xéo véo, nằm không
cục cựa, râu lún thún, nhảy xoi xói
Hồ Biểu Chánh cũng có những cách
diễn đạt hết sức Nam Bộ, với những
tình thái từ: nghen, hen, vậy ta, hôn,
há, chớ; với những cách xng hô: qua,
má, tía, thẩy, cổ, cỏn, thẳng, sắp nhỏ,
ảnh, chỉ, bả, ổng, tao, má nó, mầy, tao,
hắn, y, mình và những ngữ khí từ đặt
ở cuối câu hoặc dùng để nhấn mạnh ý:
bất nhân hôn, dữ hôn, mắc giống gì, còn
ức nỗi gì, làm giống gì, thiệt chớ, nhiều
hôn, mà làm gì, biết hôn, đợc hôn,
nghe hôn, giàu giống gì, nh vầy nè,
phải hôn, nghĩ nỗi gì
Nhân vật trong tiểu thuyết của ông
là những con ngời Nam Bộ với những
cái tên bình dị, chân chất, đặt theo thứ
và cách xng gọi thứ kết hợp với tên:
Hai, Ba, T, út, Hai Liền, Hai Cam,
Hai Phục, Ba Có, Ba Điệp, Ba Thời, T
Cu, T Kiến, T Đỏ, T Tiền, Năm Đào,
Năm Kiêu, Sáu Lý, Sáu Quýt Những
chú; nhụt nhụt = không còn mới; tầm
ruồng = lòng vòng, không có chủ đích;
thả rều = đi dạo không có mục đích; trịt
= kéo xuống, xệ xuống; trộ trạo = trừng
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
105
trợn; ui ui = có mây che, không đủ ánh
sáng; vi kiến = vây cánh; viết não = viết
nháp; vúc vắc = múa tay, múa chân;
xẳng = nói nặng; xáng = thoáng; xốc =
đảo lộn để kiểm điểm; xọp = teo, xẹp; xơ
xải = xơ xác, tơi bời; xạc lơ = không
nhiệt tình; tửng = sang lại
Ngôn ngữ bình dân trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh giản dị
nhng không kém phần độc đáo. Các từ
láy vừa có tác dụng gợi thanh, gợi hình,
vừa diễn tả đợc tâm t, tình cảm của
nhân vật. Những từ láy đợc Hồ Biểu
Chánh sử dụng trong tiểu thuyết
thờng xuất hiện dới dạng phó từ,
động từ. Trong khi sử dụng từ láy, để
tăng thêm tính hình tợng, sinh động
và cụ thể trong việc miêu tả ngoại hình,
xuất hiện của lớp từ khẩu ngữ đã làm
cho tiểu thuyết của ông có sự gần gũi,
quen thuộc với công chúng bình dân.
Các nhà nghiên cứu đã lập bảng kê
những từ ngữ thờng dùng trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh để độc giả
có đợc một nhịp cầu ngôn ngữ với quá
khứ và có thể phát triển nó cho tơng
lai [2, 305]. Do ông sáng tác nhiều mà
dấu ấn ông để lại trên phơng diện này
có đậm hơn so với những nhà văn Nam
Bộ cùng thời. Hiển nhiên, không thể
không xem đây là một đóng góp quan
trọng của Hồ Biểu Chánh đối với văn
học (trớc hết là tiểu thuyết) đầu thế kỷ
XX, dẫu rằng trong việc sử dụng lớp từ
khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh cha đạt tới
sự thành thục khéo léo nh Nguyên
Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn
Tuân sau này
2. Vận dụng sáng tạo thành ngữ,
tục ngữ
Hồ Biểu Chánh khi viết tiểu thuyết
đã dùng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ.
Nhà văn vận dụng thành ngữ, tục ngữ
một cách uyển chuyển, linh hoạt, sáng
tạo. Nhờ vậy, việc ghi lại cuộc sống của
ngời dân Nam Bộ trong tiểu thuyết
của ông vừa hình tợng, vừa khái quát,
ở với nhau mặt càng yêu lòng càng mến,
tình càng mặn, nghĩa càng nồng, trên
dới thuận hoà, trong êm ngoài ấm
(Một chữ tình).
- Hay là khiến cho gái hồng nhan
phải dày gió dạn sơng (Ngọn cỏ gió
đùa).
- Đàm Tự Chấn nghe nói chuyện đó
thì ông giận, Kim Diệp làm con gái
không biết trọng danh tiết, cha mẹ
không định mà giám trộm nhớ thầm
yêu con trai, bởi vậy ông cau mày xụ
mặt (Ngọn cỏ gió đùa).
Một điểm mới của Hồ Biểu Chánh
khi dùng thành ngữ là nhà văn đã cải
biến cách phát âm đối với nhiều từ
trong đó để chúng phù hợp với phơng
ngữ Nam Bộ (cũng có thể trong phơng
ngữ này, nhiều thành ngữ đã có hình
thức nh thế, giờ đợc ông sử dụng lại -
dù sao đây cũng cần đợc xem là một sự
lựa chọn hợp lý). Một số thành ngữ đợc
cải biến cách phát âm: tu nhơn tích đức
(tu nhân tích đức), nhắm mắt đa chơn
(nhắm mắt đa chân), phú quý vinh
huê (phú quý vinh hoa), tâm đầu ý
hiệp (tâm đầu ý hợp), cải tử huồn sinh
(cải tử hoàn sinh) Không chỉ cải biến
cách phát âm đối với nhiều từ trong
thành ngữ, Hồ Biểu Chánh còn tiến
tiên làm cách mạng vì đã đập vỡ khuôn
khổ văn chơng đài các đơng thời.
Nhận định này là đúng nếu đem so
sánh văn Hồ Biểu Chánh với lối văn
trang trọng của các tác giả miền Bắc lúc
bấy giờ. Đây cũng chính là một cách
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
107
phản ứng của Hồ Biểu Chánh đối với
những hình thức ngôn ngữ vốn có trong
văn học cổ, thờng gắn liền với chữ
Hán, có nhiều điển tích, điển cố mang
tính ớc lệ và là cách thể hiện ý thức
dân tộc trong việc bảo vệ tiếng nói dân
tộc chống lại âm mu Pháp hoá của
thực dân Pháp.
Trớc khi tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh ra đời, các tác giả của Nam Bộ
đã bắt đầu có ý thức viết câu văn xuôi
gần với khẩu ngữ hàng ngày của nhân
dân. Các câu sử dụng phần lớn là từ
thuần Việt khá nôm na. Nhờ báo chí
phát triển, phong trào dịch thuật tiểu
thuyết phơng Tây ngày càng rầm rộ
sao mình đợc.
- Tao đi, mầy ở nhà có đợc một đứa
con, còn ức hiếp gì nữa mà nói (Cay
đắng mùi đời).
Có thể nói, nếu Trơng Vĩnh Ký,
Huỳnh Tịnh Của còn dò dẫm bớc đi với
những câu văn xuôi quốc ngữ mộc mạc,
thô kệch, nếu Nguyễn Trọng Quản còn
ngợng nghịu khi vận dụng kỹ thuật
viết tiểu thuyết theo lối Tây phơng thì
Hồ Biểu Chánh đã có những bớc đi
vững vàng, vừa Tây hoá kỹ thuật viết
văn, vừa bảo tồn sắc thái ngôn ngữ địa
phơng, dân tộc. Những cố gắng cách
tân của ông đã đa ngôn ngữ đậm
phong cách khẩu ngữ trở thành ngôn
ngữ văn chơng.
4. Bảo lu những mặt tích cực
của câu văn biền ngẫu
Chịu ảnh hởng của tiểu thuyết cổ
điển, Hồ Biểu Chánh nhiều lần sử dụng
câu văn biền ngẫu. Nhà văn đã tạo nên
cách diễn đạt súc tích, kiệm lời, có nhịp
điệu cân đối, tạo nên vẻ đẹp đối xứng
hài hoà, phù hợp với thẩm mỹ phơng
Đông. Hồ Biểu Chánh sử dụng câu văn
biền ngẫu ở ba khía cạnh chính là: tả
cảnh, khắc họa ngoại hình nhân vật và
thể hiện tâm trạng nhân vật. Những lời
văn có đối, có vần tự nhiên, lu loát là
một đôi dép da đen, môi đỏ nh thoa
son, da trắng nh dồi phấn, mặt sáng
rỡ nh hoa tơi, tóc láng mớt nh
huyền giồi (Đoá hoa tàn). Ngay cả khi
miêu tả tâm trạng nhân vật, lời văn
trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
cũng nhịp nhàng đăng đối, lên bổng
xuống trầm. Ví dụ:
- Có nhiều khi canh khuya trò
chuyện, có nhiều lúc dới nguyệt nhìn
nhau, trai bát ngát lòng vàng, gái ngẩn
ngơ dạ ngọc, sóng tình dồi dập, biển ái
mênh mông, chàng không thể dằn lòng
đợc, muốn mở miệng ép liễu nài hoa
(Vì nghĩa vì tình).
- Thủ Nghĩa tay nắm chèo, chơn
kềm lái, chí tang bồng khấp khởi với
dòng xanh, nhớ chuyện cũ, tính đờng
đi, lòng ân oán chập chồng nh non cả
Mắt trông trời cao ngậm ngùi nhớ ơn
cha nghĩa mẹ, tai nghe sông bủa đau
đớn thay mối thảm đoạn sầu, ngồi dới
tàu mà lòng dạ ở Tân Châu, trong tàu
chứa bạc hai ngàn nén, vàng hơn một
ngàn thoi mà lòng ảo não khác chi
ngời bạch thủ (Chúa tàu Kim Quy).
Lối văn biền ngẫu trong tiểu thuyết
hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu hay đợc
nhìn nhận một cách tiêu cực. Thật ra,
tính thẩm mỹ của nó không phải là
Còn ngời Chăm thì đến định c ở đây
vào thế kỷ XIX. Nam Bộ lại là nơi đầu
tiên chịu sự thống trị của ngời Pháp.
Nh vậy, nói đến nền văn hoá Nam Bộ
là nói đến sự giao thoa văn hoá giữa hai
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
109
nền văn hoá phơng Đông và phơng
Tây. Nam Bộ cũng là vùng văn hoá có
nhiều tôn giáo tín ngỡng cùng đan xen
tồn tại. Ngoài các tôn giáo lớn ở nớc
ngoài du nhập vào nh Phật giáo, Thiên
chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo, Nam Bộ
còn có các tôn giáo tín ngỡng địa
phơng nh Cao Đài, Hoà Hảo
Bằng phơng tiện ngôn ngữ, Hồ
Biểu Chánh đã xây dựng lên một xã hội
giao thời với đầy đủ mọi hạng ngời
trong xã hội, với những lối sống, cách
sống, những tập tục của cả thôn quê lẫn
thành thị Nam Bộ. Hồ Biểu Chánh đã
ghi lại những cái hay, cái đẹp cũng nh
chỉ ra những mặt trái, sự xấu xa của xã
hội. Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
tônê, ghế xa lông, giấy săng, location,
măng sông, ma nhê tô, mề đay, mu soa,
pyjima, su dê, tút xơ, bu ri, bê rê, bành
tô, mề đay, đrap Đó là những từ chỉ
thức ăn, đồ uống, thuốc chữa bệnh: xúc
xích, sô đa, sâm banh, sa bô chê, ram
bon, pa tê, lave, ký ninh, măng, lu cu
ma Hồ Biểu Chánh cũng hay dùng
một số từ thông dụng khác: bót, đíp
lôm, đít cua, ríp lê, xẹt, lon ton, măng
đa, séc, ma rông, mốt, nôte, phắt tơ, tơ
nít, tút xo, vecni
Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, độc
giả hiểu đợc quá trình giao lu, tiếp
xúc giữa Việt Nam với các nớc láng
giềng, các nớc trong khu vực và các
nớc phơng Tây trên bình diện ngôn
ngữ, qua những từ ngữ ngoại nhập
mợn từ Hán tự, Hoa ngữ truyền khẩu
và Pháp ngữ phiên âm. Có thể nói, ngôn
ngữ chính là phơng tiện giao tiếp, thúc
đẩy quá trình giao lu văn hoá của các
quốc gia. Hồ Biểu Chánh đã có đóng góp
tích cực cho quá trình bảo tồn, phát huy
văn hoá dân tộc, làm phong phú và giàu
thêm hệ thống ngôn ngữ của ngời Việt
Nam những năm đầu thế kỷ XX.
Nhìn chung, toàn bộ tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh là một bức tranh truyền
thần bằng chữ hết sức sống động và
trọng. Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Khuê, Chân dung Hồ Biểu Chánh, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1998.
[2] Trang Quan Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở (chủ biên), Hồ Biểu Chánh - ngời
mở đờng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh,
2006.
[3] Website http://www.hobieuchanh.com
Summary
Language distinctions of Ho Bieu Chanhs novelsIn this article, wed like to mention language distinctions of Ho Bieu Chanhs
novels: propitious use of dialect and spoken language; flexible and creative use of
idioms and proverbs; spoken language style used in sentences; strong points
reservation on parallel constructions; borrowed words imported. These distinctive
features create Ho Bieu Chanhs own style in his novels, affirming his contribution to
the establishment and development of modern Vietnamese novels. (a)
Cao học 12 Văn, Trờng Đại học Vinh